1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bình luận các quy định về thu ngân sách từ phí, lệ phí và bước đầu đề xuất các giải pháp hoàn thiện môn luật tài chính

14 97 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 94,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm: Tại Điều 2 Pháp lệnh số 38/2001/PL-UBTVQH về Phí và lệ phí có quy định khái niệm phí như sau: “Phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả khi được một tổ chức, cá nhân khá

Trang 1

MỤC LỤC:

A ĐẶT VẤN ĐỀ:

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:

I Khái quát chung:

1 Phí:

2 Lệ phí:

3 Phân biệt phí và lệ phí:

II Pháp luật về thu ngân sách từ phí, lệ phí:

1 Thẩm quyền quy định phí, lệ phí:

2 Các loại phí, lệ phí thu ngân sách:

3 Thu ngân sách nhà nước từ phí, lệ phí:

III Thực trạng pháp luật về phí, lệ phí:

1 Đối với việc tính án phí, lệ phí Tòa án:

2 Trong lĩnh vực giáo dục:

3 Trong lĩnh vực giao thông đường bộ:

IV Các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật về phí, lệ phí:

C KẾT THÚC VẤN ĐỀ:

Trang 2

A ĐẶT VẤN ĐỀ:

Hiện nay, phí và lệ phí là hai trong số những nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước, giúp nhà nước thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình đồng thời cũng nâng cao ý thức cộng đồng của người dân Nhưng vấn

đề thu ngân sách từ phí, lệ phí lại đang gặp phải một số vướng mắc, thậm chí còn gây bức xúc trong dư luận Để làm rõ vấn đề này, chúng ta hãy cùng

nghiên cứu đề tài: “Bình luận các quy định về thu ngân sách từ phí, lệ phí và bước đầu đề xuất các giải pháp hoàn thiện”.

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:

I Khái quát chung:

1 Phí:

a Khái niệm:

Tại Điều 2 Pháp lệnh số 38/2001/PL-UBTVQH về Phí và lệ phí có quy định khái niệm phí như sau:

“Phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả khi được một tổ chức,

cá nhân khác cung cấp dịch vụ được quy định trong Danh mục phí ban hành kèm theo Pháp lệnh này.”

Từ khái niệm trên có thể thấy, phí có thể khoản thu của Nhà nước hoặc cũng có thể là khoản thu của tư nhân khi cung cấp dịch vụ cho tổ chức, cá nhân khác

Trong phạm vi bài viết này, chúng ta chỉ nghiên cứu những khoản thu từ phí vào ngân sách nhà nước, tức là chỉ bao gồm những khoản thu từ những đối tượng thụ hưởng các dịch vụ do Nhà nước cung cấp Khi phí được nộp vào ngân sách nhà nước, nó không chỉ mang ý nghĩa kinh tế mà còn mang ý nghĩa chính trị - xã hội

b Phân loại:

Các loại phí chia ra:

- Phí thuộc lãnh vực nông nhiệp, lâm nghiệp, thủy sản: thủy lợi phí…

- Phí thuộc lãnh vực công nghiệp, xây dựng: phí xây dựng…

- Phí thuộc lãnh vực thương mại, đầu tư: phí chợ…

- Phí thuộc lãnh vực lưu thông vận tải: phí sử dụng đường bộ…

Trang 3

- Phí thuộc lãnh vực thông tin, liên lạc: phí sử dụng và bảo vệ tần số vô tuyến điện…

- Phí thuộc lãnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội: phí trông giữ xe…

- Phí thuộc lãnh vực văn hóa xã hội: phí tham quan…

- Phí thuộc lãnh vực giáo dục và đào tạo: học phí…

- Phí thuộc lãnh vực y tế: viện phí…

- Phí thuộc lãnh vực khoa học, công nghệ và môi trường: phí vệ sinh…

- Phí thuộc lãnh vực tài chính, ngân hàng, hải quan: phí hoạt động chứng khoán…

- Phí thuộc lãnh vực tư pháp: án phí…

Nhìn chung phí được chia làm 3 loại:

- Những loại phí tập trung toàn bộ vào ngân sách nhà nước, các đơn vị trực tiếp cung cấp không được sử dụng Các loại phí này thường do Chính phủ trực tiếp ban hành và quản lí mang tính chất quan trọng liên quan đến lợi ích quốc gia như: phí bảo trì đường bộ, phí bảo vệ môi trường…

- Những loại phí nộp một phần cho ngân sách nhà nước, đơn vị trực tiếp cung cấp được giữ lại một phần

- Những loại phí được đơn vị cung cấp sử dụng toàn bộ để nâng cao chất lượng hoạt động Ví dụ: học phí, viện phí…

c Đặc điểm:

- Không phải mọi loại phí đều là khoản thu của ngân sách nhà nước

- Phí thu về không bù đắp toàn bộ chi phí đã bỏ ra

- Phí do cơ quan sự nghiệp thu

d Tác dụng của phí:

- Tăng thu ngân sách, từ đó làm tăng khả năng đầu tư vào sản xuất trở lại hàng hóa dịch vụ đồng thời duy trì bảo dưỡng, tái tạo chúng

- Góp phần thực hiện công bằng xã hội giữa người hưởng và không hưởng dịch vụ, nâng cao ý thức cộng đồng của người dân, nâng cao ý thức giữ gìn của công của người dân

2 Lệ phí:

a Khái niệm:

Khái niệm lệ phí được quy định tại Điều 3 Pháp lệnh số 38/2001/PL-UBTVQH về Phí và lệ phí Cụ thể như sau:

Trang 4

“Lệ phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi được cơ quan nhà nước hoặc tổ chức được ủy quyền phục vụ công việc quản lý nhà nước được quy định trong Danh mục lệ phí ban hành kèm theo Pháp lệnh này.”

Nói cách khác, khi được cơ quan nhà nước hay các tổ chức được ủy quyền phục vụ một công việc quản lý nhà nước nào đó được quy định trong Danh mục lệ phí thì cá nhân, tổ chức sẽ phải nộp một khoản tiền vào ngân sách nhà nước Khoản tiền đó chính là lệ phí

Lệ phí được thu các cơ quan hành chính Đó là những đơn vị dự toán ngân sách, tức là toàn bộ thu chi của nó là một bộ phận của thu chi ngân sách Tiền lệ phí sau khi được thu từ cá nhân, tổ chức có thể được dùng để đảm bảo hoạt động của hệ thống cơ quan quản lý trong khi giải quyết công việc quản lý nhà nước

Nhìn chung, lệ phí vừa mang tính chất phục vụ cho người nộp lệ phí về việc thực hiện một số thủ tục hành chính, vừa mang tính chất động viên đóng góp cho ngân sách nhà nước

b Phân loại:

Theo danh mục Phí và Lệ phí, được áp dụng ban hành kèm theo Pháp lệnh Phí và Lệ phí, các loại phí chia ra:

- Lệ phí quản lý Nhà nước liên quan đến quyền và nghĩa vụ của công dân: lệ phí tòa án

- Lệ phí quản lý Nhà nước liên quan đến quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản: lệ phí trước bạ…

- Lệ phí quản lý Nhà nước liên quan đến sản xuất kinh doanh, cung cấp thông tin về Lệ phí Đăng ký kinh doanh

- Lệ phí quản lý Nhà nước đặc biệt về chủ quyền quốc gia: lệ phí ra vào cảng…

- Lệ phí quản lý Nhà nước trong các lĩnh vực khác: lệ phí hải quan, lệ phí chứng thực, lệ phí công chứng.c Đặc điểm:

- Mọi khoản lệ phí đều là khoản thu của ngân sách nhà nước

- Lệ phí bù đắp toàn bộ chi phí đã bỏ ra

- Lệ phí do cơ quan quản lý Nhà nước thu

d Tác dụng của lệ phí:

Trang 5

Khoàn tiền lệ phí được dùng để chi trả cho các chi phí cụ thể để tạo ra dịch vụ, ngoài ra phần lớn để trả cho sự đảm bảo về mặt hành chính pháp lí của Nhà nước Mục đích của từng loại lệ phí rất rõ ràng, phù hợp với tên gọi của nó

Lệ phí mang lại cho Nhà nước một khoản thu đáng kể vào ngân sách nhà nước giúp nhà nước thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình

3 Phân biệt phí và lệ phí:

- Về mục đích: mục đích của việc thu phí gắn chặt với các hoạt động cung cấp dịch vụ công cộng Xét ở góc độ người cung cấp, số phí thu được nhằm trang trải các chi phí cho hoạt động cung cấp (có điều khoản cụ thể, khi thu bất kỳ loại phí nào cũng đều có mục đích sử dụng nguồn thu cho lĩnh vực thu phí đó) Xét ở góc độ người tiêu dùng, việc trả phí gắn với lợi ích mà họ được hưởng từ việc sử dụng hàng hóa, dịch vụ đó Chính vì vậy, phí mang tính kinh tế rất rõ nét, vì mục đích sử dụng, việc thu phí còn nhằm thu hồi vốn đầu tư ban đầu trong một thời gian hợp lý

Việc thu phí nhằm bù đắp cho một phần chi phí đã bỏ ra để thực hiện hoạt động cung ứng hàng hóa, dịch vụ công cộng ngoài khoản ngân sách được nhà nước hỗ trợ trực tiếp Trong khi đó việc thu lệ phí chủ yếu nhằm đáp ứng yêu cầu về quản lý nhà nước, bảo đảm quyền lợi về mặt hành chính pháp lý cho người nộp, không dùng để bù đắp chi phí

- Về thẩm quyền thu: lệ phí gắn liền với yếu tố công quyền nên chỉ có cơ quan nhà nước mới được phép thu lệ phí, còn phí gắn liền với yếu tố kinh tế,

có thể được thu bởi các đơn vị hành chính sự nghiệp hoặc các tổ chức, cá nhân thuộc khu vực tư nhân (trong trường hợp hàng hóa dịch vụ do khu vực này cung cấp hoặc được chuyển giao quyền thu phí) Chính vì vậy, mọi khoản

lệ phí thu được đều thuộc NSNN, trong khi đó phí có thể thuộc NSNN hoặc không thuộc NSNN

- Về nguyên tắc thu: phí là giá cả hàng hóa, do đó mức thu phí được xác định trên nguyên tắc bảo đảm thu hồi vốn trong thời gian hợp lý có tính đến các chính sách của Nhà nước trong từng thời kỳ hoặc khả năng của người nộp Còn lệ phí được ấn định trước đối với từng công việc phù hợp với thông

lệ quốc tế (trừ lệ phí trước bạ)

Trang 6

II Pháp luật về thu ngân sách từ phí, lệ phí:

Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được

cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm

để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước

Ngân sách nhà nước được cân đối theo nguyên tắc tổng số thu từ thuế, phí, lệ phí phải lớn hơn tổng số chi thường xuyên và góp phần tích luỹ ngày càng cao vào chi đầu tư phát triển; trường hợp còn bội chi, thì số bội chi phải nhỏ hơn số chi đầu tư phát triển, tiến tới cân bằng thu, chi ngân sách

Như vậy, phí, lệ phí là hai trong ba khoản thu cơ bản và quan trọng nhằm duy trì bộ máy nhà nước Hai khoản thu này cần phải có yếu tố ổn định để có thể bù đắp cho tổng số chi thường xuyên – là khoản chi mang tính ổn định cao

Điều 28 Luật NSNN quy định tổ chức, cá nhân có trách nhiệm, nghĩa vụ nộp nộp đầy đủ, đúng hạn các khoản thuế, phí, lệ phí và các khoản phải nộp khác vào ngân sách theo quy định của pháp luật

1 Thẩm quyền quy định phí, lệ phí:

Trước hết, về vấn đề quy định về phí, lệ phí UBTVQH có quyền ban hành danh mục phí và lệ phí và Chính phủ quy định chi tiết Danh mục phí, lệ phí; nguyên tắc xác định mức thu phí, lệ phí và trình UBTVQH sửa đổi, bổ sung Danh mục phí, lệ phí Ngoài ra theo Luật Ngân sách nhà nước còn có hai chủ thể nữa là Bộ Tài chính và Hội đồng nhân dân tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương

- Bộ Tài chính thống nhất quản lý và chỉ đạo công tác thu thuế, phí, lệ phí (Điều 21 Luật NSNN); quy định mức thu cụ thể đối với từng loại phí, lệ phí; hướng dẫn xác định mức thu phí, lệ phí cho các cơ quan được phân cấp quy định mức thu Quy định chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng đối với các loại phí, lệ phí thuộc thẩm quyền (Pháp lệnh Phí, lệ phí)

- Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định thu phí, lệ phí theo quy định của pháp luật (Điều 25 Luật NSNN)

2 Các loại phí, lệ phí thu ngân sách:

Như đã đề cập phía trên, có rất nhiều loại phí, lệ phí Các loại phí, lệ phí này hầu hết được thu về cho ngân sách trung ương Song cũng vẫn có những loại phí, lệ phí được thu về ngân sách địa phương Ví dụ như: Lệ phí trước bạ,

Trang 7

các khoản phí, lệ phí thu từ các hoạt động sự nghiệp sẽ được thu về ngân sách địa phương – địa phương hưởng 100% các khoản thu này

Ngoài ra còn có khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương như phí xăng, dầu (điều 30 Luật NSNN) Tuy nhiên, nếu theo Luật thuế bảo vệ môi trường mới có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2012 thì xăng, dầu sẽ phải chịu thuế bảo vệ môi trường thay cho phí theo Luật NSNN Lý do được Ủy ban Thường vụ Quốc hội giải thích là: Mục tiêu ban hành luật thuế này là nhằm điều chỉnh hành vi, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, không đặt quá cao mục tiêu thu ngân sách

3 Thu ngân sách nhà nước từ phí, lệ phí:

Trước hết, các khoản thu của ngân sách nhà nước phải nộp trực tiếp vào Kho bạc Nhà nước Đối với một số khoản thu phí, lệ phí, thu thuế đối với hộ kinh doanh không cố định, thu ngân sách ở địa bàn xã vì lý do khách quan mà việc nộp trực tiếp vào Kho bạc Nhà nước có khó khăn thì cơ quan thu có thể thu trực tiếp, song phải nộp Kho bạc Nhà nước theo quy định của Bộ trưởng

Bộ Tài chính

Điều 28 Luật NSNN quy định tổ chức, cá nhân có trách nhiệm, nghĩa vụ nộp nộp đầy đủ, đúng hạn các khoản phí, lệ phí và các khoản phải nộp khác vào ngân sách theo quy định của pháp luật

Đối với tổ chức, cá nhân gặp khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn có thể đề nghị cơ quan có thẩm quyền cho phép chậm nộp ngân sách Cơ quan có thẩm quyền có thể là cơ quan thuế, cơ quan Hải quan, cơ quan Tài chính đối với từng loại phí, lệ phí

Đối với tổ chức, cá nhân chậm nộp thuế sẽ chịu phạt và bị xử lý kỷ luật,

bị xử lý phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo từng trường hợp cụ thể Ví dụ: Trường hợp nộp chậm tiền lệ phí trước bạ, tiền phạt so với ngày quy định phải nộp ghi trên thông báo nộp tiền của cơ quan Thuế hoặc theo quyết định xử lý phạt vi phạm hành chính thì ngoài việc phải nộp đủ số tiền lệ phí trước bạ, số tiền phạt phải nộp, mỗi ngày nộp chậm còn phải nộp phạt bằng 0,1% số tiền chậm nộp

III Thực trạng pháp luật về phí, lệ phí:

Vào những năm trước năm 2000 tình hình phí và lệ phí ở nước ta rất lộn xộn, không thể kiểm soát được Sau khi có Nghị định số 57/2002/NĐ-CP

Trang 8

ngày 3-6-2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh về Phí và

Lệ phí ra đời, với mục đích lập lại trật tự về tình hình thu phí và lệ phí ở nước

ta nên đã có những quy định rất chặt chẽ như: Những loại phí, lệ phí có tên trong Nghị định mới được thu, những loại phí chưa có hướng dẫn thi hành cũng không được thu; phân cấp rõ ràng cấp nào được ban hành những loại phí gì; đặc biệt, lần đầu tiên đưa ra quy định về mức thu sao cho hợp lý

Căn cứ vào đó Bộ Tài chính đã rà soát và loại bỏ được trên 300 loại phí

và lệ phí không có tên trong danh mục; hạ được giá phí, lệ phí xuống mức hợp lý Nhiều loại phí và lệ phí đã được rà soát lại, hầu hết các ngành đều giảm được nhiều loại thu như: Hàng hải giảm được 30%, cầu đường giảm 20%, thông tin liên lạc Các thẻ ưu tiên cũng góp phần đem lại sự công bằng trong công tác nộp phí và lệ phí Mặc dù, các khoản thu có giảm nhưng tổng thu phí lại không những không giảm mà còn tăng, hằng năm thu về cho ngân sách Nhà nước xấp xỉ 1.000 tỷ đồng

Tuy nhiên, hiện nay trước những phát sinh từ thực tế cuộc sống một số điều trong Nghị định 57/2002/NĐ-CP chưa phù hợp với tình hình thực tiễn ở Việt Nam Cũng có những khoản phí, lệ phí mới phát sinh không có tên trong danh mục nhưng lại phát sinh trong quá trình thực hiện các điều ước quốc tế như: Phí phê duyệt, đánh giá kế hoạch an ninh tàu biển, lệ phí cầu chứng nhận

an ninh tàu biển, phí thẩm định đánh giá an ninh cảng biển Chính vì thế cần phải sửa đổi bổ sung để công tác thu phí và lệ phí phù hợp với tình hình hiện nay

Với sự ra đời của Nghị định 24/2006/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung đã thêm vào danh mục 19 khoản phí và lệ phí mà pháp luật chuyên ngành mới ban hành nhưu: Phí thẩm định thiết kế cơ sở, phí phá sản, lệ phí kháng cáo Đồng thời, đưa ra khỏi danh mục 13 khoản phí đã được thực hiện theo Pháp lệnh Giá hoặc trong thực tế không sử dụng: Phí sử dụng cơ sở hạ tầng cảng hàng không, phí trọng tài, lệ phí dán tem kiểm soát xuất bản phẩm

Tuy vậy, từ năm 2006 kể từ khi nghị định 24 ra đời cho tới hiện nay đã

có không ít những hạn chế, bất cập xảy ra trên thực tế về phí, lệ phí Trong phạm vi bài này, với kiến thức hạn hẹp em xin trình bày một số hạn chế như sau:

Trang 9

1 Đối với việc tính án phí, lệ phí Tòa án:

Sau sự ra đời của Pháp lệnh Án phí, lệ phí Tòa án 2009, những bất cập của các văn bản luật trong lĩnh vực này đã được khắc phục Nhưng việc triển khai Pháp lệnh 2009 lại nảy sinh một số vướng mắc cần được tháo gỡ

Cụ thể như Pháp lệnh Án phí, lệ phí chưa có những quy định về mặt nguyên tắc hoặc những văn bản hướng dẫn cụ thể khi xét miễn nộp toàn bộ, một phần án phí, lệ phí Tòa án nên trong nhiều trường hợp thực tiễn còn gặp nhiều vướng mắc Ví dụ: Trường hợp đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án (theo quy định tại khoản 2 điều 187 BLTTDS), trong

đó có thỏa thuận để một bên đương sự chịu toàn bộ hoặc phần lớn số tiền án phí phải nộp, đương sự này có đơn xin miễn, giảm án phí và đủ điều kiện quy định tại điều 14 Pháp lệnh Án phí, lệ phí Tòa án thì Tòa án có miễn, giảm án phí cho đương sự đó không?

Ngoài ra còn vấn đề về thời gian, với vụ án được Tòa án sơ thẩm thụ lý

và giải quyết án trước ngày 1/7/2009 thì án phí được tính theo Nghị định số

70 ngày 12/6/1997 của Chính Phủ Nhưng cũng vụ án ấy, nếu đương sự kháng cáo, Tòa án thụ lý, giải quyết theo trình tự phúc thẩm sau ngày 1/7/2009 thì trường hợp này Tòa án sẽ căn cứ vào Nghị định số 70 ngày 12/6/1997 hay Pháp lệnh Án phí, lệ phí Tòa án để tính án phí sơ thẩm Nếu căn cứ theo Nghị định số 70 thì vi phạm tố tụng vì Pháp lệnh Án phí, lệ phí Tòa án đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2009 Nếu căn cứ theo Pháp lệnh Án phí, lệ phí Tòa án thì phải sửa việc áp dụng pháp luật của bản án, quyết định sơ thẩm về

án phí trước đó Trong khi Tòa án sơ thẩm không có lỗi

Mặt khác, áp dụng quy định tại điều 27 Pháp lệnh cũng có nhiều ý kiến còn băn khoăn đề nghị cân nhắc lại việc tính án phí trong vụ án ly hôn có tranh chấp về tài sản, vì trong thực tế đã có trường hợp Tòa án tính án phí hai lần trên một giá trị tài sản Ví dụ: trường hợp vợ chồng ly hôn có tranh chấp

về tài sản trị giá 900 triệu đồng Bố mẹ bên chồng cho rằng trong khối tài sản

đó họ đã cho đôi vợ chồng kia 300 triệu đồng nay đòi lại Khi xét xử, Tòa án không chấp nhận yêu cầu của bố mẹ chồng về việc đòi lại 300 triệu đồng từ khối tài sản chung và buộc họ phải chịu án phí đối với yêu cầu không được Tòa án chấp nhận Phần tài sản chung trị giá 900 triệu đồng được chia cho hai

vợ chồng và mỗi người phải nộp án phí tương ứng với phần được nhận Trong

Trang 10

vụ này, Tòa án đã quyết định án phí hai lần đối với phần tài sản trị giá 300 triệu đồng

2 Trong lĩnh vực giáo dục:

Vấn đề học phí, lệ phí thi và một số khoản phí tự nguyện đang ngày càng tăng trong các trường công lập, dân lập và các cơ sở dạy nghề khác Đây luôn

là vấn đề mà ai cũng quan tâm bởi nó có ý nghĩa xã hội rất lớn

Hiện nay, tuy có các văn bản pháp luật quy định về chế độ học phí, lệ phí nhưng thực tế vẫn các trường vẫn không tuân thủ pháp luật Ví dụ như lệ phí xét tuyển, đối với các trường cao đẳng có xu hướng nâng giá lệ phí xét tuyển bởi trường cho rằng các chi phí thuê địa điểm, trả công giáo viên chấm, quá lớn so với chi tiêu của trường nên không thể theo lệ phí như Bộ Giáo dục đã ban hành

Ngoài ra còn phải kể đến các khoản phí tự nguyện trong các cơ sở đào tạo lái xe Ngoài số tiền “cứng” về học phí theo quy định của Bộ Tài chính, học viên tham gia các khóa đào tọa lái xe ô tô hiện nay vẫn phải “tự nguyện” đóng góp thêm rất nhiều khoản chi phí khác nhưng không được ghi nhận trong bất kỳ chứng từ nào

Thông tư số 26/2007/TT-BTC hướng dẫn mức thu học phí, quản lý và sử dụng học phí đào tạo lái xe cơ giới đường bộ nêu rõ: “Học phí là khoản đóng góp của người học, tạo nguồn kinh phí để trang trải toàn bộ chi cho các cơ sở đào tạo lái xe cơ giới đường bộ Ngoài khoản thu học phí, các cơ sở đào tạo không được thu thêm bất cứ một khoản thu nào khác của người học trái với chế độ quy định” Văn bản này cũng liệt kê chi tiết các khoản thu đối với học viên lái xe ô tô theo từng chương trình học

Cụ thể, đối với học viên lái xe ô tô hạng B1 (cấp cho người không hành nghề lái xe điều khiển xe ô tô chở người đến 9 chỗ ngồi, xe ô tô tải, máy kéo

có trọng tải dưới 3.500kg) sẽ phải đóng 130.000 đồng để học Luật GTĐB; 160.000 đồng học các môn cơ sở và 2.035.000 đồng học kỹ thuật và lái xe Tổng cộng trong cả khóa học, mỗi học viên sẽ phải đóng 2.275.000 đồng Tương tự, học phí chương trình lái xe hạng B2 sẽ phải đóng 2.710.000 đồng/học viên và lái xe hạng C sẽ phải đóng 3.875.000 đồng/học viên Đối với các chương trình học chuyển bằng từ hạng thấp lên hạng cao, thông tư

Ngày đăng: 25/03/2019, 11:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w