1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

bài nhóm hình sự 2, đề 01 a và b (là nam giới), rủ nhau đi uống rượu khi đã ngà ngà say, a,b vào một chòi canh cá nghỉ

11 126 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 36,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 Mặt khách quan của tội phạm: - Hành vi khách quan Hành vi khách quan của tội hiếp dâm là hành vi giao cấu với người phụ nữ, trái ý muốn của họ, bằng thủ đoạn dùng vũ lực dùng sức mạnh

Trang 1

BÀI LÀM A-LỜI MỞ ĐẦU

Pháp luật hình sự là một trong những công cụ sắc bén và hữu hiệu để đấu tranh phòng chống tội phạm Đặc biệt trong tình hình thực tế hiện nay, cùng với xu thế phát triển của xã hội thì tình hình tội phạm cũng đang diễn ra ngày càng phức tạp, trở thành mối lo ngại của quốc gia thì càng cần có pháp luật hình sự kịp thời điều chỉnh Trong các nhóm tội phạm đang ngày càng phổ biến và có tính chất nguy hiểm gia tăng, không thể không kể đến nhóm các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người Để hiểu rõ hơn về nhóm tội phạm này, sau đây nhóm em xin phân tích tình huống số 01 để làm rõ một ví dụ cụ thể thuộc nhóm tội này

B-NỘI DUNG

1 Hành vi của A và B cấu thành tội gì? Tại sao? (2 điểm)

Hành vi của A và B đã cấu thành tội hiếp dâm quy định tại Điều 111(nếu C từ

đủ 16 tuổi trở lên) hoặc tội hiếp dâm trẻ em quy định tại Điều 112 (nếu C dưới 16 tuổi).

Để làm rõ tội danh của A và B, dưới đây nhóm em xin được phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội này trong vụ án trên:

*Trường hợp 1: Nếu C từ đủ 16 tuổi trở lên thì hành vi của A và B cấu thành tội

hiếp dâm quy định tại Điều 111 BLHS.

 Mặt khách quan của tội phạm:

- Hành vi khách quan

Hành vi khách quan của tội hiếp dâm là hành vi giao cấu với người phụ nữ, trái ý

muốn của họ, bằng thủ đoạn dùng vũ lực (dùng sức mạnh đè bẹp sự phản kháng của nạn nhân như xô ngã, vật, giữ, đè…), đe dọa dùng vũ lực (uy hiếp về mặt tinh thần, làm bị

hại tê liệt sự chống cự , sự đe doạ có thể bằng lời nói hoặc bằng lời nói kết hợp với phô

trương hung khí: dọa giết, dọa gây thương tích), lợi dụng tình trạng không thể tự vệ

được của nạn nhân( lợi dụng khi nạn nhân ốm, bị bại liệt, lợi dụng nạn nhân một mình

trong khu rừng vắng, trong đêm tối…) hoặc dùng thủ đoạn khác (có thể là lợi dụng

Trang 2

người phụ nữ đang trong tình trạng không có khả năng biểu lộ ý chí: nạn nhân bị tâm thần, bị say rượu, bị chuốc thuốc mê, hoặc có thể tình trạng trên do người phạm tội tự mình tạo ra: cho nạn nhân uống rượu…)

Cụ thể, trong tình huống này, A, B đã lợi dụng việc C đang đi một mình trên quãng

đường vắng người qua lại, dụ C vào chòi khu nuôi cá, đe doạ nếu không đồng ý cho giao cấu thì sẽ lột hết quần áo của C, đồng thời A dùng vũ lực cởi, xé quần áo chị C, sau đó đè lên người chị C thực hiện hành vi giao cấu trái với mong muốn của nạn nhân, nhằm thoả mãn dục vọng của mình Như vậy trong trường hợp này, mặc dù không được

C đồng ý, mặc sự kháng cự của C (thể hiện bằng việc khi A, B đòi giao cấu C không

đồng ý và định hô hoán người cứu giúp; khi A cố tình giao cấu chỉ đã cố kháng cự lại một cách yếu ớt), A và B đã dùng thủ đoạn để thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn

với chị C Cụ thể hành vi khách quan đồng thời là thủ đoạn để thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn với C ở đây là hành vi dùng vũ lực (tức là dùng sức mạnh vật chất đè bẹp sự kháng cự lại của chị C chống lại việc giao cấu) thể hiện bằng hành vi A đã dùng sức mạnh của bản thân khống chế chị C, cởi quần áo của C sau đó vật chị C ra, đè lên người chị thực hiện hành vi giao cấu, bằng việc đè lên người C, A đã thực hiện được hành vi giao cấu trái ý muốn với C mặc cho sự phản kháng yếu ớt của C Hành vi này

dễ dàng thực hiện được nhờ A, B đã lợi dụng hoàn cảnh xung quanh vắng vẻ (không có

ai để chị C kêu cứu) và C chỉ có một mình, là con gái, yếu ớt, không có khả năng chống

cự lại sức mạnh của hai người đàn ông

- Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội hiếp dâm Cấu thành tội phạm hiếp dâm đòi hỏi người phạm tội phải có hành vi giao cấu với nạn nhân nhưng không đòi hỏi hành vi này phải kết thúc về mặt sinh lí

 Mặt chủ quan của tội phạm:

- Lỗi của người phạm tội ở đây là lỗi cố ý trực tiếp A và B đều biết rõ hành vi giao cấu của mình là trái pháp luật, phi đạo đức, xâm phạm tới danh dự, nhân phẩm, quyền

tự do tình dục của phụ nữ, nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi trái pháp luật của mình Mặc dù biết rõ hành vi giao cấu của mình là trái ý muốn của chị C (thể hiện qua việc chị

Trang 3

C không đồng ý khi A đòi giao cấu và định hô hoán mọi người giúp; khi A thực hiện hành vi giao cấu C đã cố gắng kháng cự) nhưng A và B vẫn tiếp tục thực hiện Trước sự kháng cự của C, A và B vẫn mong muốn thực hiện hành vi đó đến cùng bằng mọi thủ đoạn (A đe dọa C, A dùng vũ lực và sức mạnh của mình khống chế C, cởi quần áo và đè lên người C thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn với C) đã cho thấy sự mong muốn, bằng mọi thủ đoạn để đạt được kết quả cuối cùng là giao cấu trái ý muốn với C để thỏa mãn dục vọng thấp hèn của mình Lỗi của người phạm tội tội hiếp dâm luôn là lỗi cố ý

Chủ thể của tội phạm:

Chủ thể cuả tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi luật định

và đã thực hiện hành vi phạm tội cụ thể Ngoài ra, đối với tội hiếp dâm còn yêu cầu người trực tiếp thực hiện tội phạm là chủ thể đặc biệt Người thực hiện hành vi phạm tội này chỉ có thể là nam giới Nữ giới có thể tham gia trong vụ đồng phạm hiếp dâm với vai trò là người xúi giục, người giúp sức hoặc người tổ chức

Cụ thể, trong tình huống này, chủ thể tội phạm ở đây là A và B

Do đề bài không xác định rõ và không đặt ra vấn đề về độ tuổi của cả A và B, vì thế mặc nhiên ta coi A và B có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định Đồng thời, theo đề bài, A và B đều là nam giới, đã thỏa mãn yêu cầu về chủ thể đặc biệt của tội hiếp dâm

Như vậy, A và B có đầy đủ các dấu hiệu thỏa mãn là chủ thể của tội hiếp dâm quy định tại Điều 111 BLHS và phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm của mình

Như vậy có thể khẳng định hành vi của A, B trong vụ án trên đã cấu thành tội hiếp dâm theo Điều 111 BLHS.

*Trường hợp 2: Nếu C dưới 16 tuổi thì hành vi của A, B cấu thành tội hiếp dâm trẻ

em quy định tại Điều 112 BLHS.

Cũng giống với những nội dung đã xét ở trên nhưng với trường hợp C dưới 16 tuổi,

ta có thể thấy hành vi của A, B lại cấu thành tội hiếp dâm trẻ em theo quy định tại Điều

112 BLHS Các căn cứ xác định tội phạm: mặt chủ quan, mặt khách quan, chủ thể, khách thể đối với trường hợp này được xác định tương tự theo trường hợp 1 (Điều 112

Trang 4

BLHS đòi hỏi hành vi phạm tội như hành vi phạm tội được quy định ở Điều 111 BLHS), chỉ khác nhau về dấu hiệu độ tuổi nạn nhân Do đề bài không quy định cụ thể tuổi của C, mặc dù hành vi khách quan giống nhau nhưng căn cứ vào độ tuổi của người

bị hại thì sẽ cấu thành hai tội phạm khác nhau với khung hình phạt hoàn toàn khác nhau nên trong tình huống này ta cần phải xét thêm dấu hiệu tuổi của nạn nhân để có thể định tội danh cho phù hợp

Như vậy nếu trong tình huống này C là người dưới 16 tuổi thì hành vi của A,

B trong tình huống trên cấu thành tội hiếp dâm trẻ em theo quy định tại Điều

112 BLHS.

2 Giả sử B mới 15 tuổi thì trong vụ án trên có đồng phạm không? Tại sao? (2 điểm)

(Do chỉ đặt ra vấn đề đối với tuổi của B để xét về vấn đề đồng phạm nên mặc nhiên coi A đã thỏa mãn đầy đủ dấu hiệu chủ thể của tội phạm này)

Theo quy định tại khoản 1 Điều 20 BLHS quy định “đồng phạm là trường hợp có 2

người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm”

Xét cụ thể trong tình huống trên, A, B dù đã ngà ngà say nhưng vẫn còn đủ tỉnh táo

để nhận thức và điều khiển hành vi của mình Nhận thức đó được thể hiện qua sự bàn

bạc, lên kế hoạch trước khi thực hiện tội phạm của A và B: “A bàn với B để thực hiện

hành vi giao cấu với chị C Thực hiện kế hoạch đã bàn, A ra ngoài buông lời trêu ghẹo chị C và dụ chị C vào chòi khu nuôi cá Vào chòi cá, A, B đòi giao cấu với chị C…”

Từ tình huống trên có thể thấy:

Thứ nhất, người thực hiện tội phạm ở đây gồm hai người là A và B

Thứ hai, cả hai người cùng thực hiện một tội phạm

Cùng thực hiện một tội phạm được hiểu là: tội phạm phải được thực hiện do sự nỗ lực chung của một số người, hành động của mỗi người là điều kiện cần thiết cho sự hoạt động của người khác, là một khâu trong sự hoạt động chung của tất cả những người đồng phạm hay nói cách khác, là phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi của mỗi người đồng phạm với hậu quả nguy hiểm cho xã hôi Người đồng phạm phải tham gia

Trang 5

vào tôi phạm với ít nhất một trong bốn hành vi: hành vi thực hiện tội phạm; hành vi tổ chức thực hiện tội phạm; hành vi xúi giục người khác thực hiện tội phạm; hành vi giúp sức người khác thực hiện tội phạm Xét trong trường hợp này thì:

+) A đóng vai trò là người thực hành: A là người trực tiếp thực hiện tội phạm, các

hành vi của A thực hiện được miêu tả trong cấu thành tội phạm của tội hiếp dâm (Điều

111 BLHS) Cụ thể A đã thực hiện hành vi dùng vũ lực để thực hiện hành vi giao cấu

trái ý muốn đối với C thể hiện qua hành động mặc dù không được sự đồng ý của C, A

đã dùng sức mạnh của bản thân khống chế chị C, cởi quần áo của C sau đó vật chị C ra,

đè lên người chị thực hiện hành vi giao cấu Bằng việc đè lên người C, A đã thực hiện được hành vi giao cấu trái ý muốn với C mặc cho sự phản kháng yếu ớt của C

+) B đóng vai trò là người giúp sức: Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần

hay vật chất cho việc thực hiện tội phạm (khoản 2 Điều 20 BLHS) Ở đây, B đã cùng

bàn bạc với A về việc thực hiện tội phạm, có đưa ra ý kiến cùng C để thực hiện hành vi giao cấu với chị C Cùng với đó, khi vào chòi cá, B đã cùng với A đòi giao cấu với C,

do có hai người nên tạo cho chị C có tâm lí hoảng loạn hơn và khiến cho việc thực hiện tội phạm thuận lợi hơn

Tuy nhiên sau đó, chỉ riêng A thực hiện hành vi giao cấu còn B chỉ đứng nhìn không nói gì, sau đó ra khỏi chòi bảo vệ

Do đề bài không nói rõ nhưng có thể hiểu theo hướng hành vi ra khỏi chòi bảo vệ ở đây là hành vi giúp sức về mặt tinh thần Trong khi A thực hiện tội phạm (thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn với C) thì B ra ngoài đứng quan sát, trông chừng người qua lại, cung cấp tình hình để đảm bảo cho A thuận lợi, dễ dàng thực hiện tội phạm

Còn nếu coi hành vi của B là hành vi tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội (mặc

dù tuy không có gì ngăn cản nhưng B đã tự ý mình không thực hiện tội phạm đến cùng),

cụ thể mặc dù trước đó B đã có sự bàn bạc với A và cùng A đòi giao cấu với C nhưng khi A giao cấu với C, B lại từ bỏ ý định, không thực hiện hành vi giao cấu mà chỉ ra ngoài đứng Tuy nhiên, việc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội đối với người đồng phạm khác (không phải là người thực hành) trong đồng phạm phức tạp phải được thực

Trang 6

hiện trước khi người thực hành bắt tay vào việc thực hiện tội phạm và phải có những hành động tích cực làm mất tác dụng của những hành vi trước đó của mình để ngăn chặn việc thực hiện tội phạm Trong tình huống trên, B chỉ chấm dứt việc thực hiện tội phạm khi A đã bắt đầu thực hiện tội phạm và B cũng không hề có những hành vi tích cực nhằm ngăn chặn A thực hiện tội phạm, B chỉ đứng nhìn để mặc cho A tiếp tục thực hiện tội phạm chứ không hề thuyết phục hay khuyên bảo A dừng việc phạm tội; hành vi này không có ý nghĩa làm giảm bớt tính chất nguy hiểm của hành vi hiếp dâm của A Như vậy với vai trò người giúp sức, hành vi này của B không được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

Như vậy, A và B đã cùng thực hiện một tội phạm với những vai trò khác nhau Có thể thấy hành vi cùng bàn bạc, đưa ra ý kiến; uy hiếp, đòi giao cấu với C và trông chừng người qua lại của B cho A thực hiện tội phạm là điều kiện cần thiết cho hành động của

A (thực hiện hành vi dùng vũ lực giao cấu trái ý muốn đối với C)

Thứ ba, cả A và B cùng thực hiện tội phạm với lỗi cố ý

Cả A và B đều biết hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và đều biết người khác cũng có hành vi nguy hiểm cho xã hội cùng với mình

Cả A và B đều mong muốn có hoạt động chung (cùng bàn bạc để cùng nhau thực hiện tội phạm, cùng uy hiếp, đòi giao cấu với C) Cả hai cùng mong muốn hoặc cùng có

ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra

Như vậy, có thể kết luận rằng A, B đã cùng nhau thực hiện tội phạm với lỗi cố ý.

Mặc dù có đầy đủ dấu hiệu như có hai người trở lên thực hiện tội phạm, cùng nhau thực

hiện một tội phạm với lỗi cố ý nhưng để kết luận xem vụ án trên có đồng phạm hay

không còn phải xem xét dấu hiệu chủ thể của tội phạm này Phải cả A và B đều phải

thỏa mãn đầy đủ dấu hiệu chủ thể của tội phạm này do pháp luật quy định thì mới được coi là đồng phạm trong vụ án trên

Cụ thể ở đây đã đặt ra tình huống đối với tuổi của B khi thực hiện tội phạm (A mặc nhiên đã thỏa mãn đầy đủ dấu hiệu chủ thể của tội này), đó là khi thực hiện tội phạm, B

mới chỉ 15 tuổi Để kết luận B có phải là đồng phạm trong vụ án này không thì cần

Trang 7

xét xem với độ tuổi 15, B có thỏa mãn dấu hiệu chủ thể của tội phạm này hay không Việc B thỏa mãn dấu hiệu của chủ thể phạm tội trong tội này và phải chịu trách

nhiệm hình sự thì mới được coi là đồng phạm với A trong vụ án trên hay nói cách khác

vụ án trên mới có đồng phạm

- Căn cứ theo Điều 12 BLHS quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự:

“1.Người nào đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.

2 Người đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.”

Như vậy, trong tình huống trên B chưa đủ 16 tuổi thì chỉ phải chịu trách nhiệm hình

sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc đặc biệt nghiêm trọng

- Đồng thời căn cứ khoản 3 Điều 8 BLHS về phân loại tội phạm

Dựa vào hai quy định trên, để xác định trách nhiệm hình sự của B trong tình huống này ta xét các trường hợp sau đây:

khoản 1 điều 111 BLHS Mà mức cao nhất của khung hình phạt tại khoản này là đến 7 năm tù Như vậy, B chỉ phạm tội nghiêm trọng nên căn cứ theo khoản 2 Điều 12 về tuổi chịu trách nhiệm hình sự, B không phải chịu TNHS, vụ án trên không có đồng phạm

của B thuộc khoản 4 Điều 111 BLHS Mức cao nhất của khung hình phạt tại khoản này là đến 10 năm tù, như vậy B phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý, B phải chịu TNHS và vụ án trên có đồng phạm

112 (từ 13 đến dưới 16 tuổi) hoặc khoản 4 Điều 112( dưới 13 tuổi) thì B phạm tội hiếp dâm trẻ em Mức cao nhất thuộc khung hình phạt tại khoản 1 (Điều 112) là đến mười lăm năm thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng, mức cao nhất của khoản 4( Điều 112) là tử hình thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Mà đối với tội này, người phạm tội luôn có lỗi cố ý Như vậy, căn cứ vào Điều 12 về độ tuổi

Trang 8

chịu trách nhiệm hình sự thì ở cả 2 trường hợp này, mặc dù 15 tuổi thì B vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự Vì thế, vụ án trên có đồng phạm

Như vậy, trong trường hợp B thực hiện tội phạm khi mới chỉ 15 tuổi thì cần xét hành

vi mà B thực hiện thuộc loại tội phạm nào để xét xem với độ tuổi này, B có phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đó hay không hay không Có thể thấy, căn cứ vào tuổi của C, nếu tội phạm B thực hiện thuộc khoản 1 Điều 111 thì không phải chịu trách nhiệm hình sự Còn nếu tội phạm B thực hiện thuộc khoản 4 Điều 111 hoặc khoản 1 Điều 112 hoặc khoản 4 Điều 112 thì B phải chịu trách nhiệm hình sự Và chỉ khi B phải chịu trách nhiệm hình sự thì vụ án trên mới có đồng phạm

3 Nếu khi A thực hiện hành vi giao cấu với chị C, còn B giữ chân tay chị C thì B được coi là người giúp sức, đúng hay sai? Tại sao? (2 điểm)

Sai B không được coi là người giúp sức mà đóng vai trò là người thực hành.

Có thể khẳng định như vậy là vì:

“Người giúp sức là người tạo ra điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực

hiện tội phạm”( khoản 2 điều 20 BLHS).

Từ đó có thể hiểu hành vi của người giúp sức trong đồng phạm là hành vi tạo ra những điều kiện cho người thực hành thực hiện hành vi phạm tội, người giúp sức có thể giúp sức về mặt vật chất hoặc tinh thần, giúp sức về mặt vật chất có thể là cung cấp công cụ, phương tiện hoặc khắc phục những trở ngại…để tạo điều kiện cho người thực hành thực hiện tội phạm được dễ dàng, thuận lợi hơn.Giúp sức về mặt tinh thần có thể là chỉ dẫn, góp ý kiến, cung cấp tình hình,hứa hẹn sẽ che giấu tội phạm…tạo tác động tích cực vào quá trình thực hiện tội phạm

Trong tình huống này, ta thấy B không phải là người giúp sức, hành vi giữ chân chị C để cho A thực hiện hành vi giao cấu của B là hành vi dùng vũ lực trực tiếp thực hiện tội phạm mà ở đồng phạm với vai trò là người giúp sức không thể có hành

vi này.Giống với vai trò của A, hành vi mà B thực hiện cho thấy B cũng đóng vai trò

là người thực hành vì trong vụ phạm tội cố ý có thể có nhiều người cùng tự mình thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm, hành vi của B tuy không

Trang 9

thỏa mãn hết các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tội hiếp dâm ( đó là có hành vi dùng vũ lực nhưng không có hành vi giao cấu) nhưng trong đồng phạm với vai trò là người thực hành không đòi hỏi mỗi người phải thực hiện chọn vẹn hành vi được mô

tả trong cấu thành tội phạm mà có thể mỗi người đó chỉ thực hiện một phần hành vi đó.Cụ thể, B đã trực tiếp tham gia vào việc hiếp dâm chị C với vai trò người thực hành nhưng hình thức tham gia của B vào tội này khác với A, đó là B chỉ “ giữ chân tay” để C không thể chống cự, đè bẹp sự phản kháng của chị C để giúp A dễ dàng thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn với nạn nhân B đã trực tiếp tác động đến cơ thể nạn nhân, thực hiện hành vi “ dùng vũ lực”(dùng sức mạnh của mình để giữ chặt chân tay chị C) được mô tả trong cấu thành tội phạm tội hiếp dâm tức là B cũng là

“người trực tiếp tham gia” việc thực hiện tội phạm, mặc dù hành vi chỉ riêng của A hoặc của B không thỏa mãn hết các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tội hiếp dâm nhưng hành vi tổng hợp của cả hai người này thì thỏa mãn hết các dấu hiệu đó

Cùng với việc B thực hiện hành vi được ghi trong cấu thành tội phạm tội hiếp dâm, B cũng đã đáp ứng điều kiện về chủ thể đặc biệt đối với người thực hành của tội này đó là “nam giới”( theo đề bài)

đều đóng vai trò là người thực hành, nói cách khác, trong tình huống

này, B là đồng phạm của A với vai trò là người thực hành chứ

không phải là người giúp sức.

4 Giả sử sau khi bị bắt, A được xác định dương tính với vi rút HIV thì khung hình phạt áp dụng đối với A có thay đổi không? Tại sao? (1 điểm)

Cụ thể đối với tình huống trên, có thể chia thành hai trường hợp như sau:

(Do đề bài không nói rõ về độ tuổi của A, C nên mặc nhiên ta coi A và C đều từ 16 tuổi trở lên)

+ Trường hợp 1: Nếu có căn cứ cho rằng nếu A bị nhiễm HIV thật nhưng A

không biết về việc mình bị nhiễm HIV trước đó; sau khi phạm tội và bị bắt, cơ quan Y

tế mới xét nghiệm thấy A bị nhiễm HIV thì trong trường hợp này không áp dụng quy

Trang 10

định tại điểm b Khoản 3 Điều 111 BLHS vì ý thức chủ quan của A không thuộc lỗi cố ý.

Việc A không biết mình bị HIV do đó hoàn toàn không thể thấy được hết mức độ nguy hiểm của hành vi mình gây ra đối với C Việc C bị lây nhiễm HIV hoàn toàn nằm ngoài

ý muốn chủ quan của C Do vậy, khung hình phạt áp dụng với A vẫn giữ nguyên được

quy định tại Khoản 1 Điều 111 BLHS:

“1 Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của họ, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.

+ Trường hợp 2: A biết mình nhiễm HIV mà vẫn thực hiện hành vi hiếp dâm tức

là cố ý lây truyền HIV cho người khác bằng hành vi giao cấu, làm cho tính chất và mức

độ của hành vi hiếp dâm nguy hiểm hơn nhiều so với trường hợp hiếp dâm bình thường (Ảnh hưởng trực tiếp và nghiêm trọng đến sức khỏe và tính mạng của nạn nhân chứ không đơn thuần chỉ xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, quyền tự do tình dục của phụ

nữ ) Đây là trường hợp thuộc ý thức chủ quan của người phạm tội, (biết trước mức độ nguy hiểm và nghiêm trọng mà vẫn cố tình thực hiện và mong muốn hậu quả đó xảy ra) nên các cơ quan tố tiến hành tố tụng cần phải xác định người phạm tội biết rõ mình bị nhiễm HIV thì mới thuộc trường hợp này Và như vậy, khung hình phạt áp dụng với A

sẽ thay đổi, A sẽ bị áp dụng khung hình phạt ở mức cao hơn của tội hiếp dâm được quy

định tại điểm b Khoản 3 Điều 111 BLHS:

“3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai mươi năm hoặc tù chung thân:

b Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;”.

C-KẾT LUẬN Trên đây là những lập luận cách giải quyết của nhóm chúng em về tình huống số 01,

do kiến thức còn nhiều hạn chế nên rất mong được sự góp ý của thầy cô để bài làm của nhóm được hoàn thiện hơn

Ngày đăng: 25/03/2019, 11:05

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w