Tội hiếp dâm được các nhà làm luật quy định tại Điều 111 của BLHS, thực tiễn đã thừa nhận tất cả các hành vi hiếp dâm khi xảy ra đều có chung đặc điểm đó là hành vi giao cấu trái với ý m
Trang 1ĐỀ BÀI
A làm quen với B trên mạng Sau vài lần trò chuyện, A ngỏ lời yêu B và hẹn B
đi chơi, B nhận lời Được B nhận lời mời đi chơi, A có ý định hiếp dâm B, A gọi điện cho N, V, Q và rủ ba tên này hiếp dâm B N, V, Q đồng ý Sau khi đưa nạn nhân đến chỗ vắng, cả 4 tên thay nhau thực hiện hành vi hiếp dâm nạn nhân nhiều lần
Câu hỏi:
1 Căn cứ vào khoản 3 Điều 8 Bộ luật Hình sự, hãy phân loại tội phạm đối với tội hiếp dâm
2 Xác định khách thể và đối tượng tác động của tội phạm trong vụ án
3 Tội hiếp dâm là tội phạm có cấu thành tội phạm vật chất hay cấu thành tội phạm hình thức? Giải thích rõ tại sao?
4 A, V, N, Q có phải là những người đồng phạm không? Xác định vai trò của từng người trong vụ án nêu trên
5 Giả thiết Q chỉ có hành vi giữ chân tay B để 3 tên A, N, V giao cấu với nạn nhân Có ý kiến cho rằng A, N, V là người thực hành, còn Q là người giúp sức Ý kiến anh (chị) thế nào? Giải thích rõ tại sao?
Trang 2BÀI LÀM
1 CĂN CỨ VÀO KHOẢN 3 ĐIỀU 8 BỘ LUẬT HÌNH SỰ, HÃY PHÂN LOẠI
TỘI PHẠM ĐỐI VỚI TỘI HIẾP DÂM
Như chúng ta đã biết tội phạm tuy có những dấu hiệu chung như: tính nguy hiểm cho xã hội, tính có lỗi, tính trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt Nhưng những hành vi phạm tội cụ thể lại có sự khác nhau cơ bản về nguyên nhân phát sinh,tính chất của các mối quan hệ bị xâm hại và cả hậu quả của hành vi đó gây ra
Vì vậy, mà vấn đề phân hóa và cụ thể hóa hình phạt đã được đặt ra trong pháp luật hình sự như một nguyên tắc quan trọng, nó vừa là biểu hiện cơ bản , vừa là cơ sở thống nhất nhất cho sự phân hóa trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự Đồng thời là cơ sở thống nhất cho việc xây dựng các khung hình phạt cụ thể để áp dụng cho từng loại tội phạm xảy ra Điều này được thể hiện rõ nét tại Khoản 3 Điều 8 BLHS:
“Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hiểm không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt của tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội gây nguy hiểm cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.”
Như vậy, theo nội dung Khoản 3 Điều 8, các nhóm tội phạm được phân biệt với nhau bởi cả dấu hiệu về mặt nội dung chính trị, xã hội và cả dấu hiệu về mặt hậu quả pháp lý
Tội hiếp dâm được các nhà làm luật quy định tại Điều 111 của BLHS, thực tiễn đã thừa nhận tất cả các hành vi hiếp dâm khi xảy ra đều có chung đặc điểm đó là hành
vi giao cấu trái với ý muốn của nạn nhân Tuy nhiên, để thực hiện được hành vi phạm tội trong thực tế rất đa dạng và phức tạp Đối với mỗi trường hợp phạm tội khác nhau thì tính chất của hành vi, phương pháp, thủ đoạn, và hậu quả xảy ra cũng rất khác nhau Do vậy đòi hỏi phải phân loại tội phạm đối với hành vi hiếp dâm để có thể cá thể hóa trách nhiệm hình sự, sự phân biệt và cá thể hóa được chính xác sao cho xét xử đúng người, đúng tội và trách nhiệm hình sự phải phù hợp với hành vi phạm tội mà họ đã gây ra Để đáp ứng đòi hỏi đó, Điều 111 BLHS
đã tiến hành phân loại đối với những hành vi hiếp dâm có tính chất và mức độ khác nhau thường xảy ra trong thực tế và ấn định khung hình phạt cụ thể đối với các hành vi phạm tội có cùng tính chất
Trang 3Dựa vào cơ sở đó và khoản 3 Điều 8 BLHS, tội hiếp dâm được phân loại như sau:
1.1/ Hành vi hiếp dâm được quy định tại khoản 1 Điều 111 BLHS thuộc loại tội nghiêm trọng vì có tính nguy hại lớn cho xã hội và có mức cao nhất của khung
hình phạt áp dụng lên đến 7 năm tù
“Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự
vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của họ thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.
1.2/ Hành vi hiếp dâm được quy định tại khoản 2 Điều 111 BLHS thuộc loại tội rất nghiêm trọng vì có tính nguy hại rất lớn cho xã hội và có mức cao nhất của khung
hình phạt áp dụng lên đến 15 năm tù
“Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Có tổ chức,
….
i) Tái phạm nguy hiểm.
1.3/ Phạm tội hiếp dâm được quy định tại khoản 3 Điều 111 BLHS thuộc loại tội đặc biệt nghiêm trọng vì có tính nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội và có khung hình
phạt tương ứng cao nhất trên 15 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình
“Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì, bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) Gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên; b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;
c) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.
1.4/ Tại khoản 4 Điều 111 BLHS quy định:
“Phạm tội hiếp dâm người chưa thành niên, từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này, thì bị xử phạt theo mức hình phạt quy định tại khoản đó”.
Trang 4Nhận thấy, đoạn 1 khoản 4 Điều 111 BLHS quy định cho hành hiếp dâm đối với người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có mức hình phạt thấp nhất là năm năm tù và mức cao nhất là mười năm tù, như vậy nếu căn cứ theo khoản 3 Điều 8 BLHS thì hành vi hiếp dâm được quy định tại đoạn 1 khoản 4 Điều
111 BLHS thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng
2 XÁC ĐỊNH KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG TÁC ĐỘNG CỦA TỘI PHẠM.
a/ Khách thể của của tội phạm.
Cũng giống như các hoạt động khác của con người, hoạt động phạm tội ( dù chỉ tồn tại trong 1 giai đoạn lịch sử nhất định) cũng nhằm vào những khách thể cụ thể, tồn tại ngoài ý thức và độc lập với ý thức của chủ thể nhưng không phải là cải biến khách thể mà là gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho chính những khách thể đó, thông qua những hành vi làm biến đổi các đối tượng tác động( các bộ phận cấu thành khách thể đó)
Khách thể của tội phạm được hiểu là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo
vệ và bị tội phạm xâm hại.
Theo luật hình sự Việt Nam, những quan hệ được coi là khách thể bảo vệ của
luật hình sự là những quan hệ xã hội đã được xác định tại khoản 1 Điều 8 BLHS, bao gồm: độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, chế độ kinh
tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội , quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, sở hữu, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân,…
Dựa vào các căn cứ trên nhận thấy khách thể của tội phạm hiếp dâm là quan
hệ nhân thân( là quan hệ giữa người với người về một giá trị nhân thân của một cá nhân hay tổ chức mà không gắn với tài sản) Hành vi hiếp dâm của A, N, Q ,V ở mức độ nào đó đã xâm hại đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự thậm chí có thể xâm hại đến tính mạng của B Sở dĩ có thể khẳng định như vậy là vì khi hành vi hiếp dâm được thực hiện, tức là nó đã trực tiếp gây tổn hại đến sức khỏe của B, thậm chí có thể tước đi tính mạng của B ( làm nạn nhân chết hoặc tự sát), đồng thời thì nhân phẩm, danh dự của B cũng bị ảnh hưởng
b/ Đối tượng tác động của tội phạm hiếp dâm.
Đối tượng tác động của tội phạm được hiểu chính là một bộ phận của khách thể của tội phạm, bị hành vi phạm tội tác động đến để gây gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ
Trang 5Trong tội hiếp dâm được quy định tại Điều 111 BLHS thì đối tượng tác động của tội phạm chính là con người Theo quy định của các nhà làm luật thì chủ thể đặc biệt của tội hiếp dâm đó chính là nam giới Nhưng về lí luận cũng như thực tiễn, trong một số trường hợp đặc biệt, nữ giới vẫn có thể thực hiện hành vi giao cấu trái
ý muốn của nam giới Ví như trường hợp nữ giới lợi dụng đối tượng (nam giới) đang ở trong tình trạng không có khả năng biểu lộ ý muốn đúng đắn (như chịu tác động ở mức độ cao của thuốc kích dục…) và thực hiện hành vi giao cấu với họ Hành vi này có thể được xem là hành vi giao cấu trái ý muốn của đối tượng (là bản chất của hiếp dâm) Tuy nhiên, dưới góc độ tiếp cận về mức độ phổ biến của hành
vi do nam giới và nữ giới thực hiện và yêu cầu xử lí bằng các biện pháp hình sự, thực tiễn xét xử cho thấy những trường hợp nữ giới thực hiện là rất cá biệt hầu như chưa từng xảy ra với nữ giới ở nước ta vốn chịu ảnh hưởng bởi các truyền thống đạo đức và lễ nghi nho giáo Vì hành vi chỉ ở mức độ cá biệt nên cũng chưa đến mức đặt ra yêu cầu hình sự hóa Vì vậy, thực tiễn xét xử hình sự từ trước đến nay chỉ thừa nhận nam giới là chủ thể đặc biệt của tội hiếp dâm Đồng nghĩa với việc khẳng định đối tượng tác động của tội hiếp dâm chỉ có thể là nữ giới
Áp dụng vào tình huống bài tập đưa ra thì có thể thấy đối tượng của tội phạm tội hiếp dâm trong trường hợp này chính là B, nạn nhân của vụ hiếp dâm do A, V, N,
Q thực hiện Bởi vì trong qua trình thực hiện hành vi phạm tội của mình các đối tượng đã có những hành vi tác động lên thân thể, tinh thần của nạn nhân B
3 TỘI HIẾP DÂM CÓ CẤU THÀNH TỘI PHẠM VẬT CHẤT HAY CẤU
THÀNH TỘI PHẠM HÌNH THỨC? GIẢI THÍCH RÕ TẠI SAO?
Tội hiếp dâm theo quy định tại Điều 111 BLHS, có CTTP hình thức.
Sở dĩ đưa ra câu trả lời như trên là vì những căn cứ sau:
Theo phân loại CTTP( theo đặc điểm cấu trúc) được chia làm hai loại cơ bản là CTTP vật chất và CTTP hình thức
- Cấu thành tội phạm vật chất là cấu thành tội phạm có các dấu hiệu của mặt khách quan là hành vi, mà đòi hỏi phải có hậu quả nguy hiểm cho xã hội
- Cấu thành tội phạm hình thức là cấu thành tội phạm có một dấu hiệu của mặt khách quan là hành vi nguy hiểm cho xã hội, khó xác định được hậu quả xảy ra Như vậy, ta có thể thấy được sự khác biệt giữa CTTP hình thức và CTTP vật
chất là ở chỗ các nhà làm luật quy định dấu hiệu hậu quả là dấu hiệu bắt buộc hay
không phải là dấu hiệu bắt buộc trong CTTP mà thôi
Trang 6Từ đó, căn cứ vào quy định tại Điều 111 BLDS Việt Nam năm 2005, ta thấy trong
CTTP cơ bản các nhà làm luật chỉ mô tả hành vi nguy hiểm cho xã hội là : “dùng
vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của họ”, mà
không hề mô tả hậu quả xảy ra của hành vi đó
Mặt khác, tội hiếp dâm cũng là hành vi phạm tội rất khó xác định hậu quả xảy ra
Vì, khách thể tác động của tội hiếp dâm là quan hệ nhân thân( các giá trị nhân thân như sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tính mạng, trinh tiết của người phụ nữ…không gắn với tài sản.) mà không gắn với tài sản nên không thể xác định được giá trị, hơn nữa có bao giờ xác định được là mất bao nhiều danh dự hay nhân phẩm đâu Các căn cứ trên thỏa mãn tội Hiếp dâm có CTTP hình thức
4 A, V, N, Q có phải là những người đồng phạm không? Xác định vai trò của từng
người trong vụ án nêu trên
Tội phạm có thể chỉ do một người thực hiện nhưng cũng có thể do nhiều
người gây ra Khi có nhiều người cố ý cùng thực hiện tội phạm thì được gọi là đồng phạm Vậy trong trường hợ này A, V, N, Q có phải là đồng phạm hay không?
và nếu là đồng phạm thì vai trò của từng người trong vụ án này là như thế nào? 4.1 A, N, V, Q có phải là đồng phạm hay không?
Để trả lời câu hỏi này ta dựa trên các cơ sở sau đây:
+) Cơ sở pháp lí:
Khoản 1 Điều 20 BLDS quy định: “ Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên
có ý cùng thực hiện một tội phạm”
Các dấu hiệu cơ bản của đồng phạm:
- Dấu hiệu về mặt khách quan:
Có hai người trở lên và những người này có đủ điều kiện chủ thể của tội phạm
Những người này phải cùng thực hiện tội phạm ( có ý)
- Dấu hiệu về mặt chủ quan:
Trang 7 Những người này cùng thực hiện tội phạm đều có lỗi cố ý
Những người thực hiện tội phạm phải có cùng mục đích phạm tội đó
+) Cơ sở thực tế vụ án:
- Có 4 đối tượng là A, V, N, Q tham gia cùng thực hiện tội phạm “ tội hiếp dâm” theo quy định tại Điều 111 BLHS
- Tất cả 4 đối tượng đều cùng phạm tội do cố ý, nhằm mục đích giao cấu với B
Từ hai cơ sở trên, việc xác định đồng phạm trong vụ án này sẽ có hai trường hợ xảy ra:
TH1: Nếu A, N, V, Q đều thỏa mãn các điều kiện chủ thể của tội phạm ( Năng lực TNHS, và độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự) thì A, V, N, Q sẽ là đồng phạm của nhau trong vụ án này
TH2: Nếu A, N, V, Q không thỏa mãn dấu hiệu của chủ thể tội phạm như ( mất năng lực TNHS hay chưa đủ độ tuổi chịu TNHS) thì sẽ không phải là đồng phạm
4.2 Xác định vai trò của A, N, V, Q trong vụa án trên
Trong đồng phạm, có bốn loại hành vi: hành vi thực hành, hành vi tổ chức thực hiện tội phạm, hành vi xúi giục thực hiện tội phạm và hành vi giúp sức thực hiện tội phạm Tương ứng với bốn loại hành vi đó thì trong đồng phạm cũng có bốn loại người là: người thực hành, người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức
Khoản 2 Điều 20 quy định:
“Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức đều là những người đồng phạm.
Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.
Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.
Trang 8Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.
Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm”.
Từ quy định trên có thể thấy trong tình huống bài đưa ra có hai loại người đồng phạm sau: Người thực hành và người xúi giục
Người xúi giục trong đồng phạm của tội hiếp dâm này là A, vì A chính là người đã nghĩ ra việc hiếp dâm B, và đã thúc đẩy cho tội phạm đó thực hiện thông qua N, V, Q Đồng thời cũng cùng tham gia vào việc hiếp dâm B Sự xúi giục của
A được thể hiện bằng thử đoạn lôi kéo, dụ dỗ (thể hiện ở hành vi A gọi điện cho V,
N, Q và rủ ba tên này hiếp dâm B) Hành vi xúi giục của A trực tiếp tác động tới N,
V, Q; và cũng nhằm gây ra việc thực hiện tội phạm nhất định( hiếp dâm B)
Trong tình huống, cả bốn tên A, V, N, Q đều giữ vai trò là người thực hành, vì theo tình huống đưa ra thì cả bốn tên đều trực tiếp tham gia hiếp dâm B, tức là cả bốn tên đều có hành vi dùng vũ lực và giao cấu trái với ý muốn của nạn nhân, các hành vi này đã được mô tả trong cấu thành tội phạm Như vậy vai trò người thực hành trong tình huống đã xác lập cho cả bốn tên A, V, N, Q
Ngoài ra, nếu 1 trong 3 tên N, V, Q không thỏa mãn điều kiện chủ thể đặc biệt của tội hiếp dâm( là nam giới), mà là nữ thì chúng sẽ có vai trò là người giúp sức trong vụ đồng phạm này
5 Giả thiết Q chỉ có hành vi giữ chân tay B để 3 tên A, N, V giao cấu với nạn nhân Có ý kiến cho rằng A, N, V là người thực hành, còn Q là người giúp sức Ý kiến anh (chị) thế nào? Giải thích rõ tại sao?
Trong tình huống đưa ra, A, V, N đã thực hiện hành giao cấu trái ý muốn nạn nhân, như vậy hành vi của A, V, N đã thỏa mãn các cấu thành tội phạm trong vụ án đồng phạm với tư cách là những người thực hành, đồng thời riêng bản thân A lại giữ thêm vai trò là người tổ chức vì theo tình huống đã đưa ra thì chính A là người
đã gợi ra âm mưu của vụ hiếp dâm B cho đồng bọn Chính vì vậy, trong vụ án này thì A là người giữ hai vai trò vừa là người thực hành và vừa là người tổ chức; còn
V, N chỉ là người thực hành Vấn đề còn lại là xác định hành vi của Q thuộc dạng người nào trong trong đồng phạm này
Giả thiết cho biết vì Q chỉ giữ chân tay của B, mà không thực hiện hành vi giao cấu trái với ý muốn nạn nhân nên đã có ý kiến cho rằng Q chỉ là người giúp sức Tuy nhiên, theo quan điểm của bản thân tôi, nhận thấy, Q không thể là người giúp sức,
Trang 9mà chính là người thực hành trong vụ án Quay lại các khái niệm về người thực hành và người giúp sức
Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm
Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm Hành vi của người giúp sức là hành vi tạo ra các điều kiện thuận lợi, dễ dàng cho việc thực hiện tội phạm
-Hành vi tạo điều kiện về mặt vật chất cho việc thực hiện tội phạm là hành vi cung cấp phương tiện phạm tội như xe, súng, dao,…để người phạm tội thực hiện tội phạm
-Hành vi tạo điều kiện về mặt tinh thần là sự chỉ dẫn, hứa hẹn trước sẽ che giấu người phạm tội, che giấu các tang vật chứng hoặc sẽ tiêu thụ các vật do phạm tội mà có sau khi thực hiện tội phạm xong, góp ý kiến, tạo tác động tích cực vào quá trình thực hiện tội phạm Hành vi giúp sức chỉ giúp người khác vốn đã có ý định phạm tội có thêm điều kiện thuận lợi việc thực hiện tội phạm hoặc yên tâm hơn khi thực hiện tội phạm
Áp dụng vào tình huống ta thấy, Q hoàn toàn không có dấu hiệu hành vi của người giúp sức, Hành vi giữ chân tay B của Q là hành vi dùng vũ lực trực tiếp thực hiện tội phạm mà ở người giúp sức thì không thể có điều này Hành vi của Q tuy không thỏa mãn hết các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tội hiếp dâm nhưng trong đồng phạm, là người thực hành thì cũng không đòi hỏi mỗi người phải thực hiện trọn vẹn hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm mà có thể mỗi người đó chỉ thực hiện một phần hành vi đó Q đã trực tiếp tham gia vào việc hiếp dâm B,
nhưng hình thức tham gia của Q vào vụ phạm tội khác với các thành viên khác, đó
là Q chỉ giữ chân tay để B không thể chống cự, còn ba tên kia thì thực hiện giao cấu trái ý muốn nạn nhân Q đã trực tiếp tác động đến cơ thể của nạn nhân, tức là
Q cũng là người trực tiếp tham gia việc thực hiện tội phạm, do vậy hành vi của Q
đã thỏa mãn tất cả các dấu hiệu của người thực hành trong vụ án
Tài liệu tham khảo:
1/ Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam – Đại học Luật Hà Nội, năm 2008
2/ Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 1999, phần chung – Đinh Văn Quế
Trang 103/ Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 1999, tập II , bình luận chuyên sâu – Đinh Văn Quế
4/ Sách chuyên khảo sau Đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình
sự (phần chung) – TSKH, PGS Lê Văn Cảm
5/ Tội phạm và cấu thành tội phạm – Nguyễn Ngọc Hòa, NXB CAND
6/ Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999
Websites:
www.sinhvienluathn.com
www.tuvan.thuvienphapluat.com