MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Con người là thực thể xã hội [43, tr. 673], đồng thời là thực thể sinh học mà sự sống, cái chết của họ luôn chịu tác động bởi quy luật tự nhiên. Cái chết làm chấm dứt sự tồn tại con người sinh học đồng thời làm chấm dứt năng lực chủ thể của chính họ trong mọi quan hệ pháp lý. Tuy nhiên, dưới góc nhìn của quan hệ thừa kế, cái chết xảy đến với con người không làm chấm dứt tất cả các quan hệ xã hội mà họ tham gia, đặc biệt là các quan hệ về tài sản bao gồm quyền và nghĩa vụ pháp lý của họ với các chủ thể khác. Bởi sự tồn tại của các quan hệ này phụ thuộc vào sự vận động của các quy luật kinh tế - xã hội. Nghiên cứu khoa học đã chỉ ra, quan hệ thừa kế là một trong những quan hệ pháp luật được ghi nhận và điều chỉnh bởi ý chí của Nhà nước sớm nhất là Nhà nước chiếm hữu nô lệ [63, tr.169]. Loại quan hệ này xuất hiện song song với quan hệ sở hữu trong đời sống xã hội loài người. Cùng với sự phát triển của xã hội những vấn đề về pháp luật, tranh chấp và giải quyết tranh chấp thừa kế luôn tồn tại, thay đổi phù hợp với từng hình thái xã hội tương ứng, truyền thống, văn hoá ở mỗi quốc gia gắn kết từng giai đoạn lịch sử. Khi còn sống, con người tham gia hoạt động lao động tìm kiếm hoặc tạo ra của cải, vật chất nhằm phục vụ nhu cầu của bản thân, cộng đồng và xã hội. Đối với của cải, vật chất dư thừa, con người có xu hướng dự trữ, tích lũy. Khi chết đi, của cải vật chất đó sẽ tiếp tục được dịch chuyển cho những người còn sống khác. Pháp luật đảm bảo quá trình dịch chuyển này thông qua hai trình tự thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật. Trong đó, trình tự phân chia di sản thừa kế theo di chúc xuất hiện muộn hơn thừa kế theo pháp luật nhưng được áp dụng rộng rãi hơn. Cũng xuất phát từ nhận thức về quyền tự định đoạt của cá nhân tăng lên nên xu hướng lập di chúc để định đoạt tài sản trước khi chết ngày càng nhiều. Tuy nhiên, để lại và hưởng di sản thừa kế theo di chúc ngay từ thời kì đầu cũng đã rất khó khăn và phức tạp. Mọi sự đều tuân theo quy định của pháp luật về bản di chúc. Những điều kiện mà pháp luật đặt ra để bản di chúc có được giá trị pháp lý cũng bắt đầu được ghi nhận. Điều này cho phép NCS khẳng định các quy định về điều kiện để di chúc hợp pháp cũng là một trong các ghi nhận thể hiện ý chí của giai cấp thống trị nhằm điều chỉnh quan hệ thừa kế. Tại Việt Nam, trước khi có BLDS năm 2015, quy định về di chúc và các điều kiện có hiệu lực của di chúc đã được ghi nhận, đồng thời được định hình thông qua điều kiện để di chúc hợp pháp, điều kiện để di chúc phát sinh hiệu lực pháp luật và điều kiện để di chúc được thi hành. Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, quy định của pháp luật về điều kiện có hiệu lực của di chúc có nhiều sự thay đổi mang tính phù hợp với sự phát triển toàn diện của xã hội hơn. Tuy nhiên: (i) Hầu hết các quy định của pháp luật về điều kiện có hiệu lực của di chúc đang được ghi nhận tại BLDS năm 2015 đều được kế thừa từ các văn bản quy phạm trước đó. Cho nên, những hạn chế, bất cập, thiếu sót của các quy định này vẫn tồn tại và gây ra nhiều “nhức nhối” trong hoạt động nghiên cứu cũng như hoạt động xét xử; (ii) Sự phát triển mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội đã tác động mạnh mẽ tới nhận thức, hành vi của con người, kéo theo sự thay đổi trong quan hệ thừa kế, đặc biệt thừa kế theo di chúc. Dẫn đến, nhiều quy định không còn phù hợp với thực tế. Cơ quan tiến hành tố tụng nhận định, tranh chấp thừa kế ở nước ta được xem là loại án dân sự phổ biến, phức tạp, có những vụ án tranh chấp kéo dài hàng chục năm [125]. Nguyên nhân quan trọng dẫn đến tranh chấp thừa kế phức tạp bởi vì đây là quan hệ tranh chấp đặc thù, thường xảy ra giữa những người thân thích có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng với nhau; sự thiếu thống nhất trong việc áp dụng quy định của pháp luật để đưa ra phán quyết; sự ảnh hưởng của các giá trị truyền thống về văn hoá, đạo lý trong gia đình hay khi giải quyết tranh chấp thừa kế… Trong các tranh chấp đó, số lượng các tranh chấp liên quan đến di chúc cũng ngày càng nhiều lên. Vấn đề này xuất phát từ: (i) sự chưa rõ ràng và thiếu sót của các quy định liên quan đến điều kiện để một di chúc được thừa nhận là hợp pháp; (ii) quy định của pháp luật về các điều kiện để di chúc phát sinh hiệu lực thi hành cũng chưa bao quát được tất cả các trường hợp phát sinh ngày càng đa dạng trong thực tế xã hội; (iii) nhận thức của người dân về di chúc, việc lập di chúc cũng như quyền, nghĩa vụ của chủ thể trong quan hệ thừa kế tăng lên nhưng chưa thực sự đầy đủ và toàn diện. Nghiên cứu BLDS của một số quốc gia trên thế giới và các công trình khoa học có liên quan cho thấy, vấn đề lý luận chuyên sâu đối với các điều kiện có hiệu lực của di chúc chưa được nghiên cứu một cách toàn diện. Đặc biệt cơ sở lý luận cho việc ghi nhận các điều kiện có hiệu lực của di chúc theo pháp luật Việt Nam cũng chưa được đề cập trong bất cứ công trình nào trước đó. Trong thực tiễn của hoạt động áp dụng quy định pháp luật để giải quyết tranh chấp còn gặp nhiều vướng mắc, mâu thuẫn. Mà nguyên nhân lớn nhất là do thiếu thống nhất trong cách hiểu và áp dụng quy định của pháp luật để tuyên bố di chúc không hợp pháp hoặc không có hiệu lực pháp luật. Trước thực tế đòi hỏi của xã hội ngày nay, việc nghiên cứu làm rõ lý luận và đánh giá thực trạng, thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về các điều kiện có hiệu lực của di chúc là một yêu cầu cần thiết. Chính vì vậy, việc lựa chọn và nghiên cứu đề tài “Điều kiện có hiệu lực của di chúc theo quy định pháp luật dân sự Việt Nam” sẽ có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Trang 1LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT iii
ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN iii
MỞ ĐẦU 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 6
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU CỦA DI CHÚC 16
1.1 Một số vấn đề lý luận về di chúc 16
1.1.1 Khái niệm về di chúc 16
1.1.2 Các dấu hiệu đặc trưng của di chúc 21
1.2 Khái niệm và đặc điểm điều kiện có hiệu lực của di chúc 26
1.2.1 Khái niệm điều kiện có hiệu lực của di chúc 26
1.2.2 Đặc điểm điều kiện có hiệu lực của di chúc 47
1.3 Cơ sở khoa học hình thành điều kiện có hiệu lực của di chúc 53
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 61
Chương 2 THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA DI CHÚC 62
2.1 Điều kiện để di chúc hợp pháp 62
2.1.1 Quy định của pháp luật về người lập di chúc 62
2.1.2 Quy định của pháp luật về nội dung của di chúc 76
2.1.3 Quy định của pháp luật về yếu tố tự nguyện trong di chúc 89
2.1.4 Quy định của pháp luật về hình thức di chúc 95
2.2 Điều kiện để di chúc phát sinh hiệu lực pháp luật 109
2.2.1 Quy định của pháp luật về người lập di chúc chết 110
2.2.2 Quy định của pháp luật về người được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc còn sống, còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế 114
2.2.3 Quy định của pháp luật về di sản thừa kế được định đoạt trong di chúc còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế 121
2.3 Điều kiện để di chúc được thi hành 125
2.3.1 Quy định của pháp luật về điều kiện liên quan tới người thừa kế được chỉ định hưởng trong di chúc 125
2.3.2 Quy định của pháp luật về điều kiện liên quan tới di sản được định đoạt trong di chúc 128
2.3.3 Quy định của pháp luật về bản di chúc 129
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 133
Trang 2QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA DI
CHÚC 134
3.1 Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về điều kiện có hiệu lực của di chúc 135
3.1.1 Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về điều kiện di chúc hợp pháp135 3.1.2 Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về điều kiện để di chúc phát sinh hiệu lực pháp luật 150
3.1.3 Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về các điều kiện để di chúc được thi hành 153
3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về điều kiện có hiệu lực của di chúc 160
3.2.1 Một số kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về điều kiện để di chúc hợp pháp 161
3.2.2 Một số kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về điều kiện để di chúc phát sinh hiệu lực pháp luật 173
3.2.3 Một số kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về các điều kiện để di chúc được thi hành 175
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 179
KẾT LUẬN CHUNG 180
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 182
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 183
PHỤ LỤC 1 193
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 193
PHỤ LỤC 2 234
KHÁI LƯỢC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ DI CHÚC VÀ ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA DI CHÚC 234
PHỤ LỤC 3 240
MỘT SỐ BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH, VỤ VIỆC THỰC TẾ VỀ ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA DI CHÚC 240
Trang 3DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Con người là thực thể xã hội [43, tr 673], đồng thời là thực thể sinh học mà sự sống, cái chết của họ luôn chịu tác động bởi quy luật tự nhiên Cái chết làm chấm dứt sự tồn tại con người sinh học đồng thời làm chấm dứt năng lực chủ thể của chính họ trong mọi quan hệ pháp lý Tuy nhiên, dưới góc nhìn của quan hệ thừa kế, cái chết xảy đến với con người không làm chấm dứt tất cả các quan hệ xã hội mà họ tham gia, đặc biệt là các quan hệ về tài sản bao gồm quyền và nghĩa vụ pháp lý của
họ với các chủ thể khác Bởi sự tồn tại của các quan hệ này phụ thuộc vào sự vận động của các quy luật kinh tế - xã hội Nghiên cứu khoa học đã chỉ ra, quan hệ thừa
kế là một trong những quan hệ pháp luật được ghi nhận và điều chỉnh bởi ý chí của Nhà nước sớm nhất là Nhà nước chiếm hữu nô lệ [63, tr.169] Loại quan hệ này xuất hiện song song với quan hệ sở hữu trong đời sống xã hội loài người Cùng với
sự phát triển của xã hội những vấn đề về pháp luật, tranh chấp và giải quyết tranh chấp thừa kế luôn tồn tại, thay đổi phù hợp với từng hình thái xã hội tương ứng, truyền thống, văn hoá ở mỗi quốc gia gắn kết từng giai đoạn lịch sử
Khi còn sống, con người tham gia hoạt động lao động tìm kiếm hoặc tạo ra của cải, vật chất nhằm phục vụ nhu cầu của bản thân, cộng đồng và xã hội Đối với của cải, vật chất dư thừa, con người có xu hướng dự trữ, tích lũy Khi chết đi, của cải vật chất đó sẽ tiếp tục được dịch chuyển cho những người còn sống khác Pháp luật đảm bảo quá trình dịch chuyển này thông qua hai trình tự thừa kế theo di chúc
và thừa kế theo pháp luật Trong đó, trình tự phân chia di sản thừa kế theo di chúc xuất hiện muộn hơn thừa kế theo pháp luật nhưng được áp dụng rộng rãi hơn Cũng xuất phát từ nhận thức về quyền tự định đoạt của cá nhân tăng lên nên xu hướng lập
di chúc để định đoạt tài sản trước khi chết ngày càng nhiều Tuy nhiên, để lại và hưởng di sản thừa kế theo di chúc ngay từ thời kì đầu cũng đã rất khó khăn và phức tạp Mọi sự đều tuân theo quy định của pháp luật về bản di chúc Những điều kiện
mà pháp luật đặt ra để bản di chúc có được giá trị pháp lý cũng bắt đầu được ghi nhận Điều này cho phép NCS khẳng định các quy định về điều kiện để di chúc hợp pháp cũng là một trong các ghi nhận thể hiện ý chí của giai cấp thống trị nhằm điều chỉnh quan hệ thừa kế
Tại Việt Nam, trước khi có BLDS năm 2015, quy định về di chúc và các điều kiện có hiệu lực của di chúc đã được ghi nhận, đồng thời được định hình thông qua điều kiện để di chúc hợp pháp, điều kiện để di chúc phát sinh hiệu lực pháp luật và điều kiện để di chúc được thi hành Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, quy định của pháp luật về điều kiện có hiệu lực của di chúc có nhiều sự thay đổi mang tính phù
hợp với sự phát triển toàn diện của xã hội hơn Tuy nhiên: (i) Hầu hết các quy định
Trang 5của pháp luật về điều kiện có hiệu lực của di chúc đang được ghi nhận tại BLDS năm 2015 đều được kế thừa từ các văn bản quy phạm trước đó Cho nên, những hạn
chế, bất cập, thiếu sót của các quy định này vẫn tồn tại và gây ra nhiều “nhức nhối” trong hoạt động nghiên cứu cũng như hoạt động xét xử; (ii) Sự phát triển mọi mặt
của đời sống kinh tế, xã hội đã tác động mạnh mẽ tới nhận thức, hành vi của con người, kéo theo sự thay đổi trong quan hệ thừa kế, đặc biệt thừa kế theo di chúc Dẫn đến, nhiều quy định không còn phù hợp với thực tế
Cơ quan tiến hành tố tụng nhận định, tranh chấp thừa kế ở nước ta được xem là loại án dân sự phổ biến, phức tạp, có những vụ án tranh chấp kéo dài hàng chục năm [125] Nguyên nhân quan trọng dẫn đến tranh chấp thừa kế phức tạp bởi vì đây là quan hệ tranh chấp đặc thù, thường xảy ra giữa những người thân thích có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng với nhau; sự thiếu thống nhất trong việc áp dụng quy định của pháp luật để đưa ra phán quyết; sự ảnh hưởng của các giá trị truyền thống về văn hoá, đạo lý trong gia đình hay khi giải quyết tranh chấp thừa kế… Trong các tranh chấp đó, số lượng các tranh chấp liên quan đến di chúc cũng
ngày càng nhiều lên Vấn đề này xuất phát từ: (i) sự chưa rõ ràng và thiếu sót của
các quy định liên quan đến điều kiện để một di chúc được thừa nhận là hợp pháp;
(ii) quy định của pháp luật về các điều kiện để di chúc phát sinh hiệu lực thi hành
cũng chưa bao quát được tất cả các trường hợp phát sinh ngày càng đa dạng trong
thực tế xã hội; (iii) nhận thức của người dân về di chúc, việc lập di chúc cũng như
quyền, nghĩa vụ của chủ thể trong quan hệ thừa kế tăng lên nhưng chưa thực sự đầy đủ và toàn diện
Nghiên cứu BLDS của một số quốc gia trên thế giới và các công trình khoa học có liên quan cho thấy, vấn đề lý luận chuyên sâu đối với các điều kiện có hiệu lực của di chúc chưa được nghiên cứu một cách toàn diện Đặc biệt cơ sở lý luận cho việc ghi nhận các điều kiện có hiệu lực của di chúc theo pháp luật Việt Nam cũng chưa được đề cập trong bất cứ công trình nào trước đó Trong thực tiễn của hoạt động áp dụng quy định pháp luật để giải quyết tranh chấp còn gặp nhiều vướng mắc, mâu thuẫn Mà nguyên nhân lớn nhất là do thiếu thống nhất trong cách hiểu và
áp dụng quy định của pháp luật để tuyên bố di chúc không hợp pháp hoặc không có hiệu lực pháp luật
Trước thực tế đòi hỏi của xã hội ngày nay, việc nghiên cứu làm rõ lý luận và đánh giá thực trạng, thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về các điều kiện có hiệu lực của di chúc là một yêu cầu cần thiết Chính vì vậy, việc lựa chọn và nghiên
cứu đề tài “Điều kiện có hiệu lực của di chúc theo quy định pháp luật dân sự Việt Nam” sẽ có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Điều kiện có hiệu lực của di chúc là nội dung quan trọng trong chế định thừa kế nói chung, quy định về thừa kế theo di chúc nói riêng Vì vậy, có nhiều công trình
Trang 6khoa học nghiên cứu khái quát về vấn đề này như: Luận án, luận văn, khoá luận, sách, báo, tạp chí… Tuy nhiên, các công trình này hoặc nghiên cứu một trong các điều kiện tách tời hoặc mới chỉ đề cập quy định của pháp luật thực định, hay phân tích một vài trường hợp thực tiễn xét xử để qua đó bình xét về cách áp dụng quy định pháp luật chưa thực sự chính xác… mà chưa có công trình nào đề cập một cách toàn diện từ vấn đề lý luận cho tới thực trạng và thực tiễn áp dụng các điều kiện có hiệu lực của di chúc (Nội dung chi tiết được thể hiện trong phần tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài) Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài luận án sẽ bảo đảm được
tính mới so với các công trình nghiên cứu đã được thực hiện trước đó
3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn bởi hai phần:
Thứ nhất, về phạm vi không gian nghiên cứu
Một là, luận án tập trung nghiên cứu quy định của pháp luật Việt Nam về điều
kiện có hiệu lực của di chúc, đặc biệt chú trọng tới BLDS năm 2015 – văn bản quy phạm pháp luật hiện hành đang quy định về điều kiện có hiệu lực của di chúc tại Phần thứ tư, chương XXI, XXII của BLDS năm 2015 Trong đó, có sự phân bổ thành các nhóm điều kiện cụ thể: Để di chúc hợp pháp; để di chúc phát sinh hiệu lực pháp luật; để di chúc được thi hành
Hai là, trong quá trình nghiên cứu PLDS của Việt Nam về điều kiện có hiệu lực
của di chúc, NCS sẽ lồng ghép, so sánh với pháp luật của một số quốc gia khác trên thế giới như Pháp, Nhật, Thái Lan, Đức… để chỉ ra điểm tương đồng cũng như khác biệt, điểm phù hợp, chưa phù hợp trong việc quy định các điều kiện có hiệu lực của di chúc
Thứ hai, về phạm vi thời gian nghiên cứu
Một là, luận án tập trung vào các quy định của BLDS năm 2015 về điều kiện
có hiệu lực của di chúc bằng việc: (i) phân tích, bình luận từng quy định đối với
điều kiện để di chúc hợp pháp, các điều kiện để di chúc phát sinh hiệu lực pháp luật
và điều kiện để di chúc được thi hành; (ii) có chỉ ra điểm mới so với các BLDS
trước đó khi đề cập tới các điều kiện có hiệu lực của di chúc
Hai là, trên cơ sở nghiên cứu lý luận, thực trạng pháp luật, NCS sẽ nghiên cứu
thực tiễn áp dụng thông qua một số bản án đã có hiệu lực pháp luật hoặc những vụ việc thực tế diễn ra trong xã hội qua đó đánh giá quy định pháp luật hiện hành, đồng thời đưa ra một số kiến nghị đề xuất cho từng điều kiện có hiệu lực của di chúc
4 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Việc nghiên cứu sẽ làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về di chúc, điều kiện có hiệu lực của di chúc Đặc biệt, xây dựng khái niệm riêng về điều kiện có hiệu lực của di chúc, xác định cơ sở lý luận, thực tiễn của việc quy định các điều kiện có hiệu lực của di chúc, nêu được lược sử hình thành và phát triển quy định của pháp luật Việt Nam qua một số thời kì về điều kiện có hiệu lực của di chúc
Trang 7Bên cạnh các vấn đề về lý luận, luận án còn làm rõ quy định của pháp luật hiện hành đặt trong sự phân tích, bình luận, đánh giá với văn bản quy phạm pháp luật thời kì trước về điều kiện có hiệu lực của di chúc Đồng thời, nghiên cứu pháp luật một số quốc gia trên thế giới theo hướng so sánh nhằm hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam
Luận án được triển khai phần thực tiễn áp dụng với một số bản án đã có hiệu lực pháp luật để qua đó có cơ sở cho việc đánh giá hoạt động xét xử tranh chấp về thừa kế theo
di chúc, việc áp dụng quy định của pháp luật về các điều kiện có hiệu lực của di chúc
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
a) Phương pháp luận: Việc nghiên cứu luận án sẽ dựa trên cơ sở phương pháp
luật duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin Đây được xác định là kim chỉ nam cho quá trình thực hiện luận án Phương pháp này chủ yếu được sử dụng để nghiên cứu lý luận của luận án này
b) Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Trên cơ sơ phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin, NCS sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
Thứ nhất, phương pháp phân tích, bình luận để làm rõ những vấn đề lý luận,
quy định của pháp luật hiện hành về điều kiện có hiệu lực của di chúc
Thứ hai, phương pháp tổng hợp nhằm khái quát hoá thực trạng pháp luật và
thực tiễn áp dụng pháp luật về điều kiện có hiệu lực của di chúc Trên cơ sở đó, NCS đưa ra những kiến nghị tướng xứng và phù hợp
Thứ ba, phương pháp so sánh để nhằm chỉ ra sự khác biệt giữa điều kiện có hiệu
lực của di chúc, điều kiện để di chúc hợp pháp Bên cạnh đó, NCS chỉ ra điểm tương đồng phù hợp giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật một số quốc gia trên thế giới
6 Những đóng góp mới của việc nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài: “Điều kiện có hiệu lực của di chúc theo quy định pháp luật dân sự Việt Nam” có thể mang đến những đóng góp mới sau đây:
Thứ nhất, xác định bản chất của di chúc và điều kiện có hiệu lực của di chúc Thứ hai, xác định cơ sở lý luận và thực tiễn đối với quy định về điều kiện có
hiệu lực của di chúc
Thứ ba, xây dựng khái niệm và hệ thống hoá các nhóm điều kiện cấu thành
điều kiện có hiệu lực của di chúc
Thứ tư, phân tích, bình luận quy định BLDS năm 2015 và quy định pháp luật
trước đó về điều kiện có hiệu lực của di chúc Qua đó, NCS đánh giá được ưu điểm, nhược điểm của từng điều kiện đặt trong bối cảnh nghiên cứu khoa học về luật thực định và thực tiễn áp dụng
Thứ năm, tại mỗi điều kiện có hiệu lực của di chúc, NCS có lồng ghép, đồng thời
phân tích so sánh với pháp luật của một số quốc gia trên thế giới nhằm chỉ ra những điểm hợp lý hay chưa hợp lý để định hướng hoàn thiện cho pháp luật Việt Nam
Trang 8Thứ sáu, đưa ra một số lượng án thực tiễn nhất định qua đó chỉ ra điểm ưu và
hạn chế trong hoạt động xét xử khi áp dụng các điều kiện có hiệu lực của di chúc để giải quyết tranh chấp về thừa kế
Thứ bảy, trên cơ sở bình luận, đánh giá lồng ghép trong mỗi quy định của
pháp luật về điều kiện có hiệu lực của di chúc, NCS có chỉ ra bất cập, hạn chế còn tồn đọng, đồng thời đưa ra kiến nghị đề xuất của bản thân nhằm hoàn thiện từng quy định của pháp luật về điều kiện có hiệu lực của di chúc
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận án bao gồm 3 chương:
Chương 1 Những vấn đề lý luận về điều kiện có hiệu lực của di chúc
Chương 2 Thực trạng quy định của pháp luật hiện hành về điều kiện có hiệu lực của di chúc
Chương 3 Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về điều kiện có hiệu lực của di chúc
Trang 9TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1 Các công trình nghiên cứu đã được công bố liên quan tới đề tài luận án
1.1 Một số công trình khoa học trong nước
1.1.1 Luận án, luận văn, khoá luận
- Luận án tiến sĩ luật học của Phạm Văn Tuyết (2003) về “Thừa kế theo di chúc theo quy định của Bộ luật Dân sự” Luận án phân tích sơ bộ các điều kiện có
hiệu lực của di chúc Bình luận thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn xét xử về một số điều kiện có hiệu lực của di chúc Luận án cũng đưa ra một số giải pháp
hoàn thiện quy định pháp luật về điều kiện có hiệu lực của di chúc
- Luận án Tiến sĩ luật học của Trần Thị Huệ (2007) về “Di sản thừa kế trong pháp luật dân sự Việt Nam” Luận án phân tích chuyên sâu các vấn đề về di sản
thừa kế đồng thời chỉ ra các bất cập, thiếu sót từ quy định của pháp luật về di sản thừa kế
- Luận văn thạc sĩ luật học của Trịnh Hữu Toản (2016) về “Điều kiện có hiệu lực của di chúc” Luận văn đề cập tới một vài nội dung về lý luận các điều kiện có
hiệu lực của di chúc, phân tích thực trạng quy định pháp luật thực định và thực tiễn
áp dụng, đồng thời đề xuất một vài giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về điều kiện có hiệu lực của di chúc
1.1.2 Đề tài khoa học
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường (2012) về “Nghiên cứu chế định thừa
kế nhằm góp phần sửa đổi Bộ luật Dân sự 2005”, do TS Lê Đình Nghị làm chủ
nhiệm, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Đề tài có sử dụng một số chuyên đề (6, 7) để nghiên cứu về di chúc hướng hoàn thiện quy định của BLDS về di chúc và điều kiện để di chúc được coi là hợp pháp và hướng hoàn thiện
1.1.3 Bài đăng tạp chí
- Bài viết của Phạm Văn Tuyết (1995) về “Di chúc và vấn đề hiệu lực của di chúc”, Tạp chí Luật học, số 6 Bài viết được tác giả đề cập tới hai nội dung lớn: Bản
chất và hiệu lực của di chúc Tác giả dùng lối viết mô tả các vấn đề pháp lý trong
quá trình nghiên cứu các về di chúc và hiệu lực của nó
- Bài viết của Vương Tất Đức (1998) về “Xác định phần vô hiệu của di chúc”,
Tạp chí TAND, số 8 Trao đổi với bài viết của tác giả Nguyễn Tiến Lực tại Tạp chí
Trang 10TAND, số 5- 1998 xoay quanh việc xác định phần vô hiệu của di chúc, tác giả Vương Tất Đức đồng ý với cách đặt vấn đề của tác giả bài viết nhưng cũng khẳng định lập luận của các ý trong bài viết là không có căn cứ Đồng thời, tác giả phân tích rõ hơn trường hợp bị truất quyền hưởng di sản thừa kế (không phải là người thừa kế theo quy định tại Điều 672 BLDS năm 1995) mà chết trước người để lại di
sản thì di chúc vẫn có hiệu lực pháp luật
- Bài viết của Nguyễn Tiến Lực (1998) về “Một vài vấn đề xung quanh việc xác định phần vô hiệu của di chúc”, Tạp chí TAND, số 5 Bài viết được tác giả đề
cập tới việc xác định di chúc vô hiệu một phần hoặc toàn bộ khi gắn với các khoản
2, 3, 4 Điều 670 BLDS năm 1995 Ngoài việc chỉ ra cách xác định di chúc vô hiệu một phần hoặc toàn bộ, tác giả còn gợi mở vấn đề di chúc chỉ định cho một người
và người khác (vẫn thuộc diện thừa kế theo pháp luật) của người chết lại chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản đồng thời người này (được hưởng kỷ phần bắt buộc) có con (thế vị) Phần bài viết của tác giả có đưa ra một vài quan điểm, đồng thời tác giả có đưa ra quan điểm của mình liên quan đến cách xác định
phần di chúc vô hiệu
- Bài viết của Trần Văn Tuân (1999) về “Một số ý kiến về việc xác định phần
vô hiệu của di chúc”, Tạp chí TAND, số 3 Bài viết bình luận quan điểm khoa học
của tác giả Nguyễn Tiến Lực tại Tạp chí TAND, số 5- 1998 khi đề cập tới xác định
di chúc bị vô hiệu một phần hay toàn bộ Ngoài việc, thống nhất và không thống nhất với tác giả ở một số nội dung liên quan đến xác định phần vô hiệu của di chúc, tác giả còn nêu ra một trường hợp khác cũng liên quan đến việc xác định hiệu lực
- Bài viết của Kiều Thanh (1999) về “Người làm chứng cho việc lập di chúc”,
Tạp chí Luật học, số 2 Bài viết được tác giả đề cập tới một số nội dung xoay quanh quy định về người làm chứng Trên cơ sở bình luận, phân tích các quy định gốc rễ
về người làm chứng và BLDS năm 1995, tác giả đã đưa ra một số đề xuất của mình
nhằm hoàn thiện quy định về người làm chứng cho di chúc
- Bài viết của Nguyễn Phương Hoa (1999) về “Nên công chứng các việc thừa kế như thế nào”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 10 Bài viết đề cập ba vấn đề cơ bản liên
quan đến hoạt động công chứng bản di chúc: (i) Công chứng di chúc; (ii) gửi giữ di chúc; (iii) công chứng việc từ chối nhận di sản Trong đó, tác giả nhấn mạnh vai trò của công chứng đối với hoạt động lập di chúc, đồng thời đặt ra những yêu cầu mới cho thủ tục lập
Trang 11di chúc có công chứng, chứng thực
- Bài viết của Thái Công Khanh (1999) về “Một số ý kiến về Bộ luật Dân sự”,
Tạp chí TAND, số 3 Bài viết phân tích, bình luận một số quan niệm khác nhau về một số thuật ngữ liên quan đến khái niệm di chúc (Điều 649 BLDS năm 2005) Kế
đến, phân tích điều kiện để di chúc hợp pháp là “Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội” (Điều 655) trong đó đưa ra cách hiểu chung về thuật ngữ
không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội Cuối cùng, tác giả làm rõ sự thiếu
hợp lý trong quy định về nội dung di chúc bằng văn bản (Điều 656)
- Bài viết của Tưởng Duy Lượng (2000) về “Thừa kế theo di chúc" trong Bộ luật
dân sự (tiếp theo Tạp chí dân chủ và Pháp luật số 1/2000)”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 2 Bài viết phân tích các vấn đề nổi cộm trong chế định về thừa kế theo di chúc Trong đó, liên quan tới đề tài NCS đang thực hiện, tác giả có đề cập tới nội dung di
chúc thông qua hai Điều luật là 655 và 665 BLDS năm 1995
- Bài viết của Đoàn Đức Lương (2001) về “Một số ý kiến về thừa kế theo di chúc trong Bộ luật Dân sự”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 1 Bài viết được tác
giả đưa ra hai tình huống thực tiễn tranh chấp liên quan đến bản di chúc Trong đó, tác giả nhấn mạnh giá trị pháp lý của bản di chúc Đồng thời khẳng định, việc thừa nhận hiệu lực của một bản di chúc phải phụ thuộc vào các điều kiện luật định chứ
không đơn thuần dựa theo ý chí của người để lại di sản
- Bài viết của Tưởng Bằng Lượng (2002) về “Di chúc bằng văn bản hay di chúc bằng miệng có giá trị pháp lý?”, Tạp chí TAND, số 2 Bài viết đưa ra một vụ
án có diễn biến phức tạp liên quan đến việc thừa nhận giá trị pháp lý của bản di chúc Cụ thể, người để lại di sản định đoạt hai nội dung khác nhau nhưng bằng hai hình thức Kết quả, Tòa án các cấp giải quyết tranh chấp có kết luận khác nhau Bài viết nhấn mạnh vấn đề sửa đổi lại quy định tại Điều 654, 657 BLDS năm 1995 sau
khi đưa các ý kiến khoa học khác nhau về vụ án
- Bài viết của Nguyễn Văn Mạnh (2002) về “Hoàn thiện chế định thừa kế trong Bộ luật dân sự”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 5 Bài viết được tác giả đề
cập tới khá nhiều nội dung như: Người thừa kế, thời hiệu khởi kiện về thừa kế, một
số nội dung về thừa kế theo di chúc, thế vị
- Bài viết của Phạm Văn Tuyết (2003) về “Hoàn thiện quy định về thừa kế trong Bộ luật dân sự”, Tạp chí Luật học, số đặc san về sửa đổi, bổ sung BLDS Bài
viết của tác giả đề cập tới một số nội dung quy định còn nhiều bất cập về chế định thừa kế như: thời điểm mở thừa kế, di chúc bằng văn bản không có người làm chứng, cần quy định lại các loại di chúc và một số vấn đề khác Qua việc bình luận
của mình, tác giả đưa ra hướng hoàn thiện những bất cập đó
- Bài viết của Nguyễn Hồng Nam (2005) về “Di chúc miệng theo quy định của
Bộ luật dân sự”, Tạp chí TAND, số 22 Bài viết nghiên cứu chuyên sâu về hình
Trang 12thức di chúc miệng theo quy định BLDS năm 1995 Đồng thời kiến nghị đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc ban hành văn bản cần thiết, giúp cho việc
thi hành những quy định về di chúc miệng được thuận lợi và thống nhất
- Bài viết của Nguyễn Hồng Nam (2006) về “Hiệu lực của di chúc bằng văn bản
có "viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu"”, Tạp chí TAND, số 1 văn bản có "viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu"”, Tạp chí TAND, số 1 Bài viết được tác giả đặt ngược vấn đề khi bình xét
quy định của pháp luật về nội dung của di chúc Cụ thể: Vấn đề tác giả đặt ra là “nếu di
chúc được viết tắt hoặc việt bằng ký hiệu thì hiệu lực của di chúc đó như thế nào?”
- Bài viết của Vũ Văn Tiếu (2010) về “Bàn về di chúc thực tế”, Tạp chí TAND,
số 9 Bài viết đưa ra một tình huống thực tiễn liên quan đến việc lập di chúc Trong
đó, di chúc vừa vi phạm về nội dung vừa vi phạm về hình thức nhưng bản thân người thừa kế cũng đã thừa nhận nội dung của bản di chúc và khi tranh chấp, cấp hòa giải
cơ sở cũng đã có được biên bản hòa giải theo hướng chấp nhận cơ bản những nội
dung của bản di chúc Bài viết thể hiện quan điểm của tác giả về vấn đề “xác định
các yếu tố khác làm lên di chúc hợp pháp như nội dung và hình thức di chúc có chung một xuất phát điểm là ý chí của người lập” Yếu tố ý chí mới là yếu tố quan
trọng nhất xuyên suốt các điều kiện thừa nhận di chúc hợp pháp
- Bài viết của Thái Công Khanh (2010) về “Những khó khăn, vướng mắc trong việc lập di chúc và chứng nhận di chúc”, Tạp chí TAND, số 13 Bài viết tập trung
vào phân tích những khó khăn, vướng mắc trong việc lập di chúc và chứng nhận di chúc như: Chỉ ra những khó khăn cho người lập di chúc như sự thiếu hiểu biết về pháp luật, pháp quy định thiếu sự rõ ràng hay những khó khăn, vướng mắc cho Công chứng viên khi thực hiện hoạt động nghiệp vụ của mình liên quan đến xác định các yếu tố trước khi công chứng bản di chúc Đồng thời, tác giả đưa ra một số chỉ dẫn cho việc tháo gỡ những bất hợp lý trên bằng việc tham khảo pháp luật nước
ngoài về lập di chúc và chứng nhận di chúc
1.1.4 Sách chuyên khảo
- Cuốn sách “Tìm hiểu dân luật Việt Nam” (1975) của tác giả Trịnh Khánh
Phong, Nhà máy in Tiến Bộ Hà Nội Cuốn sách tìm hiểu về Dân luật – một ngành pháp luật của Nhà nước ta thời điểm đó Đối với nội dung thừa kế theo di chúc, mặc
dù không đề cập nhiều tới các điều kiện cụ thể để di chúc phát sinh hiệu lực pháp luật nhưng xuất hiện một số quan niệm “đắt giá” cho các góc nhìn khác nhau khi viết về lý luận các điều kiện có hiệu lực của di chúc
- Cuốn sách “Thừa kế theo quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng” (2007) của tác giả Phạm Văn Tuyết, Nxb Chính trị quốc gia Cuốn sách làm rõ
một số vấn đề lý luận và tổng quan nhất các quy định của pháp luật về thừa kế Bên cạnh đó, cuốn sách còn đề cập tới quy định của BLDS năm 2005 về điều kiện để di chúc hợp pháp và các yêu cầu khác đối với di chúc Cuốn sách cũng
Trang 13nghiên cứu về thực trạng giải quyết tranh chấp và hướng hoàn thiện quy định của pháp luật về thừa kế nói chung và di chúc nói riêng
- Cuốn sách “Luật thừa kế Việt Nam” (2008) của tác giả Phùng Trung Tập,
Nxb Hà Nội Cuốn sách đề cập tới, pháp luật thừa kế Việt Nam hiện hành trong đó
có đề cập tới trình tự phân chia di sản thừa kế theo di chúc; những tình huống phân chia di sản cơ bản và cách tính 2/3 của một suất thừa kế theo pháp luật; một số vấn
đề bàn luận trong đó có đề cập tới người lập di chúc – một trong các điều kiện để di chúc hợp pháp; thừa kế theo luật tục Ê đê và M’nông
- Cuốn sách “Pháp luật thừa kế của Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” (2009) của tác giả Nguyễn Minh Tuấn, Nxb Lao động - Xã hội Cuốn sách không
đi vào phân tích các điều kiện có hiệu lực của di chúc một cách trực tiếp nhưng tại Chương 3 của cuốn sách với tên gọi “Các điều kiện có hiệu lực của di chúc”, tác giả
có đề cập tới một số vấn đề có liên quan
- Cuốn sách “Pháp luật Hôn nhân - Gia đình, thừa kế và thực tiễn xét xử” (2013) của tác giả Tưởng Duy Lượng, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật Cuốn sách
viết về pháp luật hôn nhân, gia đình, thừa kế và thực tiễn xét xử Trong đó, tác giả phân định thành hai phần rõ rệt là pháp luật hôn nhân – gia đình và thực tiễn xét xử; pháp luật thừa kế và thực tiễn xét xử Tại phần thừa kế, tác giả triển khai một số quy định pháp luật và vụ án thực tiễn liên quan tới các tranh chấp về thừa kế
- Cuốn sách chuyên khảo “Luật thừa kế Việt Nam - Bản án và bình luận bản án” Tập 1 (2013) của tác giả Đỗ Văn Đại, Nxb Chính trị quốc gia Cuốn sách nằm
trong seri chuyên khảo nghiên cứu, bình luận án trong lĩnh vực PLDS ở nước ta Cuốn sách có chọn lọc các vụ án trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam về thừa kế và phân bổ nhỏ lẻ trong các mục nội dung theo chủ để Trong đó, có rất nhiều án liên quan đến điều kiện có hiệu lực của di chúc
1.2 Một số công trình khoa học nước ngoài
- Nakagawa jun và Ogawa tomiyuki (2013) “Về pháp luật gia đình”, Nxb,
Houritsu Bunka Sha, Nhật Bản Cuốn sách dàn trải nội dung cả lĩnh vực dân sự và hôn nhân gia đình Tại Chương 13, các tác giả có nghiên cứu và viết về “thừa kế và
di chúc” trong đó, các nội dung được đề cập cụ thể bao gồm: Khái niệm di chúc,
các điều kiện của di chúc phải phù hợp quy định của pháp luật, trong đó có năng lực lập di chúc, các điều kiện của di chúc, hình thức của di chúc
- Bernard BEIGNIER, Sarah TORRICELLI-CHRIFI (2015), “Libéralité et successions” (Tặng cho và thừa kế), Nxb LGDJ Cuốn sách được tác giả nghiên cứu
hai chế định tặng cho và thừa kế Trong nội dung phần thừa kế, một số vấn đề như: Khái niệm của mình về di chúc và nhận định tính hiệu lực của di chúc vẫn cần xét đến yếu tố từ người thừa kế chứ không đơn thuần là các điều kiện luật định về di chúc, về hình thức của di chúc cũng được đề cập Trong đó nhấn mạnh, pháp luật
Trang 14của Pháp cấm di chúc miệng, di chúc chung còn di chúc viết tay như di chúc được
công chứng, tự lập và bí mật đều được pháp luật thừa nhận và bảo vệ nếu phù hợp
- Christian Jubault, “Droit civil – Les succesions, Les libéralités” (Luật Dân
sự - Thừa kế, tặng cho), Nxb Montchrestien Lextenso éditions, 2008 Phần thừa kế
đặc biệt là di chúc được tác giả đề cập tới một số nội dung như: Khái niệm di chúc (trang 498), điều kiện về hình thức, nội dung và ý chí người lập của di chúc theo pháp luật Pháp (trang 499) Ngoài ra, năng lực về chủ thể lập di chúc cũng cần phải xem xét (có năng lực, minh mẫn), vì nổi nóng, tức giận không được coi là mình mẫn, sáng suốt về tinh thần Đặc biệt, tác giả cuốn sách có dành nhiều dung lượng
để phân tích về hình thức của di chúc theo quy định tại BLDS Pháp
- Plotnikova Tatyana (2004) “Thừa kế theo di chúc”, Luận văn trong lĩnh vực
dân sự, Viện Luật Chelyabinsk của Bộ Nội vụ, Chelyabinsk, Nga Ngoài phần giới thiệu và kết luận, luận văn được tác giả triển khai 4 chương Tại Chương 2 (Thừa kế theo di chúc), tác giả có đề cập tới một số nội dung có liên quan tới luận án như: Hình thức của di chúc; thay đổi và hủy bỏ di chúc; sự vô hiệu của di chúc; thực hiện
di chúc; phần bắt buộc; di chúc thừa kế ở nước ngoài
- Sergey Melnikov (2016) “Thừa kế theo di chúc”, Luận văn luật học, Đại học
EOSUDARSTVENNY thuộc Viện nghiên cứu quốc gia Bang Tomsk, Tomsk, Nga Luận văn phân tích những đặc điểm của các hình thức di chúc hợp pháp của quy định và nguyên tắc của nó; tìm hiểu về sự thay đổi, hủy bỏ di chúc; nghiên cứu các
di chúc có giá trị như công chứng; phân tích các quy định pháp luật về người lập di chúc; phân tích các thủ tục cho việc công nhận di chúc không hợp lệ và hậu quả
pháp lý của nó và một số nội dung khác
2 Đánh giá kết quả nghiên cứu các vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài luận án
2.1 Về mặt lý luận
- Về bản chất điều kiện có hiệu lực của di chúc: Chưa được công trình nào
công bố
- Về khái niệm và đặc điểm điều kiện có hiệu lực của di chúc: Một vài công trình
đưa ra khái niệm nhưng chưa chỉ ra dấu hiệu riêng biệt của điều kiện có hiệu lực của di
chúc như: Luận văn thạc sĩ luật học của Trịnh Hữu Toản (2016) về “Điều kiện có hiệu lực của di chúc” Hay luận văn thạc sĩ luật học của Lương Thị Hợp (2012) về
“Một số vấn đề về thừa kế theo di chúc và thực tiễn giải quyết tranh chấp về thừa kế theo di chúc tại Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng”
- Về học thuyết, cơ sở cho việc ghi nhận các điều kiện có hiệu lực của di chúc
Về học thuyết, chưa có công trình nào đề cập Về cơ sở lý luận, thực tiễn, trong luận
văn thạc sĩ của mình, Trịnh Hữu Toản có đề cập Tuy nhiên, những gì tác giả này đề cập còn rất sơ sài, đơn giản chưa lột tả được bản chất của việc ghi nhận các điều
kiện có hiệu lực của di chúc trong quy định của pháp luật
Trang 15- Khái niệm, đặc điểm các điều kiện có hiệu lực của di chúc: Một vài công trình có đề cập tới từng điều kiện riêng lẻ như: Cuốn sách “Thừa kế theo quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng” (2007), tác giả Phạm Văn Tuyết viết về người
lập di chúc, nội dung của di chúc, yếu tố tự nguyện trong di chúc, hình thức của di
chúc và các sự kiện gây mất hiệu lực của di chúc Cuốn sách “Tìm hiểu dân luật Việt Nam” (1975), tác giả Trịnh Khánh Phong viết về các điều kiện để di chúc hợp pháp nói chung Cuốn sách “Luật thừa kế Việt Nam” (2008), tác giả Phùng Trung Tập đề cập tới các yếu tố như ai, như thế nào, ngoại lệ ra sao đối với người lập di chúc Hay luận văn thạc sĩ luật học của Lương Thị Hợp (2012) về “Một số vấn đề về thừa kế theo di chúc và thực tiễn giải quyết tranh chấp về thừa kế theo di chúc tại Toà
án nhân dân tỉnh Cao Bằng” viết về nội dung của di chúc Luận án Tiến sĩ luật học của Trần Thị Huệ (2007) về “Di sản thừa kế trong pháp luật dân sự Việt Nam” đề cập một
cách rất sâu sắc các vấn đề về di sản, cách xác định di sản thừa kế… Nhưng hầu hết các công trình không tập trung vào nghiên cứu cơ sở lý luận đối với việc ghi nhận từng
điều kiện để di chúc có hiệu lực pháp luật
- Một vài nét lịch sử về quá trình ghi nhận và phát triển quy định của pháp luật về điều kiện có hiệu lực của di chúc Chưa có công trình nào công bố nghiên cứu về vấn đề này
2.1.1 Về các điều kiện có hiệu lực của di chúc
Hầu hết các công trình nghiên cứu đều nghiên cứu một cách nhỏ lẻ từng điều kiện
có hiệu lực của di chúc Có luận án Tiến sĩ luật học của Phạm Văn Tuyết có đề cập tới hầu hết các điều kiện có hiệu lực của di chúc nhưng không tập trung vào nội dung này
mà tác giả dàn trải vấn đề nghiên cứu cho cả quá trình thừa kế theo di chúc Luận văn Thạc sĩ luật học của Trịnh Hữu Toản cũng phân tích các điều kiện này một cách chi tiết nhưng dung lượng trang viết và thời gian nghiên cứu quá ít nên các vấn đề chưa đạt ở mức độ chuyên sâu Hơn nữa chưa thể hiện được việc bình xét các điều kiện có hiệu lực của di chúc theo một lộ trình thời gian từ khi cá nhân lập di chúc cho tới khi chết và bản di chúc được thực thi
2.1.2 Về kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Sau quá trình tổng quan các công trình khoa học điều mà tác giả nhận thấy rõ, các điều kiện có hiệu lực của di chúc hầu hết đã được nhắc đến và nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau thể hiện mục đích của từng công trình Tuy nhiên, sự hệ thống và chuyên sâu cho các điều kiện có hiệu lực của di chúc chưa được thể hiện ở công trình khoa học nào Do đó, các vấn đề về hoàn thiện pháp luật cho hệ thống các điều kiện này chưa được đề cập một cách toàn diện
2.2 Hệ thống các vấn đề thuộc nội dung nghiên cứu của luận án
2.2.1 Một số vấn đề lý luận về di chúc, điều kiện có hiệu lực của di chúc
- Hệ thống một vài góc nhìn về di chúc, các đặc trưng của di chúc: Luận án là công trình tiếp tục nghiên cứu một cách có hệ thống các góc nhìn, quan niệm khác
Trang 16nhau về di chúc Qua đó, luận án cũng đưa ra các đặc tính phổ quát và riêng biệt của loại giao dịch này
- Về bản chất điều kiện có hiệu lực của di chúc: Luận án sẽ là công trình đầu tiên nghiên cứu về bản chất về điều kiện có hiệu lực của di chúc
- Về khái niệm điều kiện có hiệu lực của di chúc: Luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện xây dựng khái niệm này
- Về các điều kiện có hiệu lực của di chúc: Luận án tập trung nghiên cứu và lý giải tại sao pháp luật qua các thời kì ở Việt Nam ghi nhận các điều kiện này
- Về lược sử quy định pháp luật về điều kiện có hiệu lực của di chúc: Luận án
sẽ sơ lược pháp luật Việt Nam qua các thời kì lịch sử để xác định rõ thêm lý do, nguồn gốc đối với các quy định của pháp luật về điều kiện có hiệu lực của di chúc
2.2.2 Điều kiện có hiệu lực của di chúc theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015
2.2.2.1.Điều kiện để di chúc hợp pháp
Trên cơ sở bình luận, so sánh đối chiếu sự thay đổi với các BLDS trước đó, đặc biệt là BLDS năm 2005, luận án sẽ chỉ ra, đồng thời phân tích từng điều kiện một di chúc buộc phải tuân theo để phát sinh hiệu lực pháp luật
• Điều kiện về người lập di chúc
Để di chúc đó hợp pháp, luận án sẽ chỉ ra cá nhân được lập di chúc là ai? Điều kiện
áp dụng đối với một cá nhân khi lập di chúc mà pháp luật buộc phải tuân theo là gì? Bên cạnh việc phân tích quy định pháp luật Việt Nam, luận án sẽ đề cập tới pháp luật của một
số quốc gia có liên quan tới người lập di chúc để so sánh, bình luận và đưa ra các kiến
nghị phù hợp
• Điều kiện về nội dung của di chúc
Luận án xác định nội dung của di chúc bao gồm những vấn đề gì? Pháp luật hiện hành đặt ra những điều kiện gì đối với nội dung của di chúc, cụ thể: Luận án tập trung vào phân tích hai vấn đề: (i) nội dung quyền định đoạt của cá nhân lập di chúc; (ii) nội dung chủ yếu pháp luật yêu cầu một di chúc phải đảm bảo được là những gì? Trên cơ sở phân tích chỉ ra quy định về điều kiện áp dụng đối với nội dung của di chúc, luận án xây dựng hướng hoàn thiện phù hợp đối với từng vấn đề
• Điều kiện về yếu tố tự nguyện trong di chúc
Luận án phân tích các trường hợp ảnh hưởng tới yếu tố tự nguyện trong di chúc Đối với di chúc, luận án tập trung làm rõ sự tự nguyện của người lập di chúc
là một trong các yếu tố cốt lõi tạo nên sự hợp pháp của di chúc Dựa trên sự tham
khảo văn bản quy phạm một số quốc gia trên thế giới và tính phù hợp, tôn trọng sự mong muốn đích thực của người lập di chúc, luận án cũng có đề cập tới một vài bất cập, thiếu sót về điều kiện này Luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu và đưa ra hướng hoàn thiện phù hợp
Trang 17• Điều kiện về hình thức của di chúc
Luận án tập trung phân tích hai hình thức đang được pháp luật ghi nhận là di chúc miệng và di chúc bằng văn bản Ở mỗi hình thức di chúc, luận án đề cập một cách rõ ràng điều kiện luật định khi áp dụng xác định di chúc hợp pháp, các vấn đề
có liên quan tới hình thức như: Viết kí hiệu, viết tắt, người làm chứng, nơi công chứng, chứng thực… Trên cơ sở phân tích, bình luận, đánh giá tính hợp pháp về hình thức của di chúc, luận án chỉ ra một vài thiếu sót, bất cập và hướng hoàn thiện phù hợp
2.2.2.2 Các điều kiện để di chúc phát sinh hiệu lực pháp luật
• Người lập di chúc đã chết
Luận án xác định rõ sự khác biệt của di chúc với các giao dịch khác thông qua các dấu hiệu đặc trưng của nó Điểm khác biệt nhất là, di chúc có hiệu lực từ thời điểm cá nhân để lại di sản chết Do vậy, khi còn sống cá nhân có lập di chúc ở thời điểm nào, nội dung ra sao, có tự nguyện hay không, hình thức như thế nào mới chỉ
là điều kiện để pháp luật ghi nhận tính hợp pháp Còn di chúc có được thực thi hay không phụ thuộc vào điều kiện đầu tiên là cá nhân để lại di sản đã chết hay chưa? Trong phần này, tác giả sẽ phân tích và chỉ ra các trường hợp được coi là chết đối với cá nhân để từ đó xác định thời điểm di chúc bắt đầu phát sinh hiệu lực thi hành
• Về người thừa kế
Luận án đề cập và phân tích các quy định về người thừa kế là cá nhân, không phải là cá nhân Với quy định về người thừa kế và hiệu lực của di chúc, luận án tập trung vào việc xác định đây là sự kiện có thể gây mất hiệu lực của di chúc Vì người thừa kế không còn sống hoặc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế; được chỉ định hưởng trong di chúc nhưng lại tư chối hưởng; được chỉ định hưởng trong di chúc nhưng bị tước bỏ quyền hưởng do vi phạm quy định pháp luật đều dẫn đến thực tế di chúc không thể thực thi Bên cạnh đó, luận án còn chỉ ra một số bất cập, thiếu sót đối với quy định pháp luật về người thừa kế
và tiếp tục kiến nghị hoàn thiện
• Về di sản thừa kế
Luận án tập trung vào việc xác định di sản thừa kế là gì, quy định của pháp luật đặt ra yêu cầu đối với sự tồn tại của di sản ở thời điểm mở thừa kế để đảm bảo giá trị thực thi bản di chúc Bên cạnh việc phân tích các quy định của pháp luật về
di sản thừa kế, luận án cũng chỉ ra những thiếu sót cần hoàn thiện và định hướng hoàn thiện về vấn đề này
2.2.2.3 Điều kiện để di chúc được thi hành
• Về người thừa kế
Đây là điều kiện vừa thuộc nhóm điều kiện để di chúc phát sinh hiệu lực vừa thuộc nhóm điều kiện để di chúc được thi hành Trong quá trình phân tích quy định của
Trang 18pháp luật, luận án sẽ đề cập tới điều kiện này chủ yếu ở một nhóm nhất định còn nhóm còn lại sẽ chỉ nhắc tới với vai trò là một trong các điều kiện có hiệu lực của di chúc
• Về di sản thừa kế
Đây là điều kiện vừa thuộc nhóm điều kiện để di chúc phát sinh hiệu lực vừa thuộc nhóm điều kiện để di chúc được thi hành Trong quá trình phân tích quy định của pháp luật, luận án sẽ đề cập tới điều kiện này chủ yếu ở một nhóm nhất định còn nhóm còn lại sẽ chỉ nhắc tới với vai trò là một trong các điều kiện có hiệu lực của di chúc
• Về bản di chúc
Luận án đề cập tới nhóm điều kiện này để khẳng định việc thi hành bản di chúc trên thực tế có thể sẽ gặp phải Trong đó, luận án đi vào phân tích, đánh giá quy định của pháp luật về từng điều kiện: Di chúc bị thất lạc, hư hại, có nội dung không rõ ràng
3 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật
3.1 Đánh giá quy định pháp luật hiện hành về điều kiện có hiệu lực của di chúc
Luận án đề cập tới phần đánh giá quy định pháp luật hiện hành khi phân tích từng quy định pháp luật đối với từng điều kiện có hiệu lực của di chúc Nội dung này không tách ra độc lập mà xen lẫn trong từng phần nội dung phân tích Từ việc đánh giá, luận án xác định được những ưu điểm và hạn chế, để từ đó đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật phù hợp đối với từng điều kiện để di chúc hợp pháp,
để di chúc phát sinh hiệu lực pháp luật và để di chúc được thi hành
3.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Như đề cập trong phần trên, rất nhiều công trình khoa học bóc tách các điều kiện
có hiệu lực của di chúc để nghiên cứu Họ cũng đã chỉ ra những điểm hợp lý và chưa hợp
lý, đồng thời kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật Tuy nhiên, những kiến nghị này chỉ nhỏ lẻ đối với từng điều kiện cụ thể Đặc biệt, sau khi BLDS năm 2015 có hiệu lực pháp luật, sự hệ thống hoá các điều kiện có hiệu lực của di chúc từ hoạt động nghiên cứu
lý luận cho tới thực tiễn áp dụng chưa được công trình nào khái quát toàn diện Chính vì vậy, nghiên cứu và đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật một cách toàn diện cho quy định điều kiện có hiệu lực của di chúc là một việc làm cần thiết phải thực hiện
Trên đây là nội dung tóm tắt tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài Nội dung chi tiết được tác giả trình bày trong phần Phụ lục 1 đính kèm luận án này
Trang 19Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU CỦA DI CHÚC
1.1 Một số vấn đề lý luận về di chúc
1.1.1 Khái niệm về di chúc
Cá nhân là một thực thể trong xã hội và cũng chính cá nhân là thành viên của các thực thể khác trong xã hội như gia đình, tổ hợp tác, pháp nhân nên có thể nói cá nhân là chủ thể trong mọi quan hệ xã hội
Trong quá trình sống, mỗi cá nhân luôn phải cố gắng tạo ra của cải vật chất, bởi bất kỳ một chủ thể nào muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa trên những nhu cầu vật chất nhất định Của cải mà cá nhân xác lập một cách hợp pháp (thuộc sở hữu của họ) được sử dụng để thỏa mãn các nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng, sản xuất kinh doanh khi còn sống và sẽ trở thành di sản khi cá nhân chết Tài sản của cá nhân còn lại sau khi cá nhân chết sẽ trở thành di sản, được dịch chuyển cho các chủ thể khác (cá nhân còn sống, pháp nhân còn tồn tại) theo các trình tự thừa kế hoặc thuộc
về Nhà nước Trong đó, di sản có thể được dịch chuyển cho chủ thể khác theo ý chí của người đã chết nếu trước khi chết, người để lại di sản đã thể hiện ý chí đó theo một hình thức nhất định Nhìn nhận một cách chung nhất thì việc cá nhân thông qua một hình thức nhất định nhằm thể hiện ý chí của mình về việc dịch chuyển di sản
được gọi là di chúc Tuy nhiên, trên cơ sở những nghiên cứu của mình, NCS nhận
thấy có nhiều tên gọi khác nhau và góc nhìn khác nhau về di chúc Cụ thể như sau:
Về tên gọi, di chúc được nhắc đến với nhiều thuật ngữ khác nhau Chẳng hạn như: (i) Di ngôn, là ý chí mà người chết để lại thông qua lời nói với mong muốn được người đời sau thực hiện; (ii) Di nguyện, là ý nguyện (mong muốn ý chí) mà người chết để lại có thể thông qua lời nói, có thể thông qua vật mang tin khác; (iii)
Chúc ngôn, là ý chí mà người chết để lại thể hiện thông qua lời nói Tuy nhiên, nếu
di ngôn có nội hàm tương đối rộng thì chúc ngôn chỉ bao hàm với nghĩa là một di chúc miệng; (iv) Chúc thư, là ý chí mà người chết để lại được thể hiện thông qua
chữ viết trong một văn bản cụ thể Chúc thư là một từ Hán Việt để chỉ về một hình thức của di chúc mà theo cách gọi hiện nay là di chúc viết với thuật ngữ pháp lý là
di chúc bằng văn bản
Về góc nhìn, di chúc được nhìn nhận với hai góc độ khác nhau:
Dưới góc độ xã hội, di chúc là “sự dặn lại của một người trước lúc chết với những người khác về những việc cần làm, nên làm” [70, tr 136] Phải nói rằng di
chúc là một thuật ngữ xuất hiện từ lâu và khá quen thuộc trong đời sống và với cách nhìn trên thì di chúc được hiểu với nghĩa thông thường nhất: Đều được coi là di
chúc nếu đó là “sự dặn lại của một người trước lúc chết” Chẳng hạn, lời căn dặn
Trang 20trước khi mất của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu là bản di chúc mà cho đến ngày nay các thế hệ cháu con của Người vẫn luôn học tập và thực hiện
Ở Việt Nam trước đây, do tài sản mà người chết để lại thường không có giá trị lớn cùng với truyền thống đùm bọc yêu thương nhau giữa những người ruột thịt trong một gia đình nên thường không ai nghĩ rằng sẽ có tranh chấp giữa các người con, người cháu về di sản mà mình để lại Do vậy, nhiều người trước lúc chết không nghĩ đến chuyện phân chia di sản Có thể họ có để lại di chúc nhưng chỉ là sự dặn dò con, cháu phải sống đùm bọc yêu thương nhau, có trên, có dưới Vì thế, nếu có tranh chấp
về thừa kế xảy ra thì vẫn phải giải quyết theo pháp luật bởi “di chúc” này không đủ căn cứ để phân chia di sản Cho nên, có quan điểm nhìn nhận rằng:
“Trong quan hệ giữa các thành viên của một gia đình, lối ứng xử theo tâm, theo nghĩa càng được biểu hiện đậm nét hơn bởi tư tưởng hiếu, lễ, hòa, mục giữa những người ruột thịt với nhau Với tư tưởng này, không ai nghĩ sẽ có chuyện tranh chấp, kiện tụng xảy ra giữa những người ruột thịt Vì thế, một người trước khi nhắm mắt thường nghĩ rằng theo lời dặn lại của mình, những người còn sống sẽ cứ thế mà thực hiện và hưởng di sản một cách hòa thuận nên di chúc mà người chết để lại đa phần chỉ là những lời trăng trối, người ta ít quan tâm đến hình thức thể hiện lời dặn dò đó phải như thế nào, phải tuân thủ những gì mà pháp luật đã quy định” [67, tr.131]
Ngày nay, do đời sống kinh tế ngày một phát triển nên di sản mà người chết
để lại thường có giá trị lớn, thậm chí rất lớn Di sản không chỉ bao gồm nhà cửa, ruộng vườn và những của cải để dành mà còn bao gồm nguồn vốn mà người chết đầu tư vào các công ty khi còn sống, thậm chí còn là cả một sản nghiệp của công ty gia đình, hoặc duy trì và phát triển khối tài sản mà mình đã tạo dựng cả đời Vì thế, trước lúc chết, người ta buộc phải nghĩ đến việc lập di chúc để phân định các tài sản còn lại đó cho ai, xác định ai là người kế thừa để duy trì hoạt động, phát triển doanh nghiệp, công ty gia đình Mong muốn di chúc do mình lập ra đầy đủ các điều kiện
để được coi là một căn cứ phân chia di sản về sau này, người để lại di chúc thường tìm đến các Văn phòng luật sư để thực hiện dịch vụ tư vấn soạn thảo di chúc Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà nhiều di chúc dù nội dung có sự thể hiện ý chí về định đoạt di sản sau khi chết nhưng vẫn không đáp ứng được các điều kiện để trở thành một căn cứ pháp lý trong việc dịch chuyển di sản Lý do dẫn đến những trường hợp này có thể là người để lại di sản tự lập di chúc trong khi không nắm bắt hoặc không hiểu hết các yếu tố pháp lý cần có đối với một di chúc hợp pháp, có thể là do các sự kiện khác xảy ra làm cho di chúc thất hiệu (không còn hiệu lực thi hành) như người được hưởng di sản theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; ngườì được hưởng di sản theo di chúc bị pháp luật tước quyền hưởng thừa kế do có các hành vi được quy định tại Điều 621 BLDS năm 2015 mà người đã lập di chúc không có ý kiến gì khác
Trang 21Dưới góc độ pháp lý, di chúc là căn cứ ưu tiên để thực hiện việc dịch chuyển tài
sản của một người đã chết cho các chủ thể khác Chỉ khi nào không có di chúc hoặc di chúc không hội tụ đủ các điều kiện có hiệu lực thì việc dịch chuyển di sản thừa kế mới căn cứ vào luật để thực hiện Do đó, ý chí của người để lại di sản về việc dịch chuyển
tài sản cho người khác sau khi mình chết còn được gọi là di chúc thừa kế
Ở thời kỳ La Mã cổ đại, pháp luật chưa quy định cụ thể về di chúc nhưng luật đã thừa nhận di chúc là căn cứ đầu tiên để thực hiện việc phân chia di sản
thừa kế Tại mục 1, bảng 5, Luật 12 bảng của Nhà nước La Mã cổ đại thì: “Nếu một người qua đời không để lại di chúc mà cũng không có người thừa kế theo luật, thì người đàn ông tiếp theo thuộc họ hàng gần nhất sẽ hưởng thừa kế Nếu không có người đàn ông kế tiếp thuộc họ hàng gần nhất, những người đàn ông thuộc dòng tộc còn lại sẽ được hưởng thừa kế” Vì vậy, các nhà lập pháp về thừa
kế ở thời kì này đã chỉ ra được một số đặc trưng của di chúc dưới góc độ pháp lý,
điều này được lý giải bởi: (i) Các tác giả của cuốn sách “Luật La Mã” đã chỉ ra rằng: “Di chúc là việc định đoạt tài sản của con người trong trường hợp lúc qua đời với nội dung có sự chỉ định rõ người thừa kế” [51, tr.161]; (ii) Nghiên cứu về pháp luật thời kì này, PTS sử học Nguyễn Ngọc Đào viết rằng: “Theo Luật La mã, hoàn toàn hiểu di chúc là sự “giao dịch” (negotio) đơn phương hay hiểu cách khác đó là sự thể hiện ý chí của người viết di chúc”; (iii) Ulpain, luật gia nổi tiếng trong thời La Mã cho rằng: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của chúng ta và ý chí đó được thực hiện khi chúng ta chết” [94]
Như vậy ở thời kỳ La Mã, một di chúc muốn trở thành căn cứ dịch chuyển di sản từ một người đã chết sang cho các chủ thể khác thì di chúc phải do chính người
để lại di sản lập ra và phải có sự định đoạt di sản bằng ý chí của người lập di chúc
Ở Việt Nam, do khác nhau về điều kiện kinh tế xã hội, thể chế chính trị, tư tưởng lập pháp, truyền thống văn hóa của từng thời kỳ khác nhau nên pháp luật trong từng thời kỳ có sự quy định khác nhau về di chúc
Pháp luật thời phong kiến mà điển hình là Bộ Luật Hồng Đức dưới triều đại nhà Lê (Quốc triều Hình Luật) được ban hành trong thời kỳ nhà Lê trị vì đất nước
đã có quy định: “Người làm cha mẹ phải liệu tuổi già mà lập sẵn chúc thư Người trưởng họ chia nhiều ít cho phải, rồi làm giấy giao lại về phần hương hỏa thì theo
lệ cũ lấy một phần hai mươi trong số điền sản ” [17, Điều 3] Ở thời kỳ này, việc một người lập di chúc trước khi chết là một việc “phải” làm, việc định đoạt di sản
phải công bằng, đặc biệt phần di sản để lại làm hương hỏa không được quá 1/20 trong số điền sản Quy định này cho thấy rõ sự can thiệp ý chí của Nhà nước vào quá trình định đoạt tài sản của cá nhân
Pháp luật thời kỳ Pháp thuộc bị ảnh hưởng bởi nền văn hóa, kinh tế, chính trị của Cộng hòa Pháp, điển hình là các Bộ Dân luật được áp dụng ở các miền khác nhau tại
Trang 22Việt Nam trong thời kỳ này Cả ba Bộ dân luật: Bộ Dân luật giản yếu Nam Kỳ 1883,
Bộ Dân luật Bắc Kỳ 1931, Dân luật Trung Kỳ 1936 được ban hành trong thời kỳ Nhà nước phong kiến Việt Nam đang chịu sự cai trị của thực dân Pháp với chế độ nửa thực dân phong kiến nên các quy định về thừa kế vừa mang tư tưởng của ý thức hệ phong kiến với Nho giáo là Quốc đạo, vừa du nhập tư tưởng của BLDS 1804 Cộng hòa Pháp
(còn gọi là BLDS Napoleon) Do ảnh hưởng về thuyết “Tam tòng, tứ đức” trong Nho
giáo nên Dân luật Bắc Kỳ cũng như Dân luật Trung Kỳ đều quy định chỉ có người
chồng mới có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản, “Người vợ chỉ được lập di chúc
để định đoạt tài sản của mình nếu được người chồng đồng ý”[2, Điều 312] [3,Điều
313] Tuy nhiên, so với pháp luật thời phong kiến thì pháp luật về thừa kế ở thời kỳ này
đã có sự thay đổi tiến bộ thể hiện ở chỗ việc lập di chúc hay không, hoàn toàn là quyền của người để lại di sản và trong đó, pháp luật đã chú trọng đến quyền lợi của người vợ
cũng như chú trọng đến truyền thống thờ cúng tổ tiên của dân tộc Việt Nam: “Người cha được lập ra chúc thư để xử trí tài sản của mình tùy theo ý mình nhưng phải giữ quyền lợi cho người vợ, và nếu chính mình là thừa tự thì lại phải trao của hương hỏa
để lưu truyền việc phụng tự tổ tiên cho người thừa tự theo luật định” [2, Điều 320]
Đồng thời thông qua các Điều 323, 324, 325, 326, 328 của Dân luật Bắc Kỳ 1931 và các Điều 316, 317, 319 của Dân luật Trung Kỳ 1936 khi quy định về hình thức của di chúc đã cho thấy rằng các Bộ dân luật này chỉ thừa nhận di chúc bằng văn bản Chẳng
hạn, Điều 323 Dân luật Bắc Kỳ 1931 quy định: “Chúc thư phải làm thành tờ chữ hoặc
do nô - te lập hoặc làm thành chứng thư có hay không có viên chức thị thực”, Điều 324 của Dân luật Bắc Kỳ 1931 quy định: “Chúc thư làm thành chứng thư có viên chức thị thực phải do chính người lập chúc thư viết ra hoặc đọc cho người khác viết hộ tại trước mặt Lý trưởng nơi trú quán của mình và ít ra phải có hai người chứng đã thành niên Các người chứng này phải chọn ngoài những người được nhận của tặng dữ hoặc ăn thừa kế” Bởi vậy, trong thời kỳ này ý chí của người để lại di sản về việc định đoạt di sản cho những người thừa kế được gọi bằng thuật ngữ “chúc thư”
Pháp luật từ thời kỳ độc lập dân chủ cho đến trước năm 1975 bao gồm hai hệ thống pháp luật được áp dụng ở hai miền khác nhau Ở miền Nam với thể chế chính trị là nền Cộng hòa dưới sự đô hộ của thực dân Pháp và sau đó là đế quốc Mỹ Bộ Dân luật năm 1972 của Cộng hòa miền Nam Việt Nam do Tổng thống Nguyễn văn Thiệu ban hành bằng Sắc luật số 028 – TT – SLU ngày 20/12/1972 sau khi đã tuyên
bố “nay bãi bỏ tất cả các Bộ luật Gia Long, Luật giản yếu, sắc luật, Bộ Dân luật Bắc
kỳ, Trung kỳ cũng tất cả các văn bản sửa đổi hay bổ túc” Bộ Dân luật 1972 là văn bản chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi BLDS Pháp, có quan điểm nhận định “Có luật gia Pháp nói rằng luật cũ Việt Nam không biết định – chế chúc thư mà chỉ biết có giấy
do cha mẹ làm để chia của cho con cháu mà thôi Nhiều bản án cũ của Tòa án Pháp
có lẽ cũng vì thế mà đã nói đến chia của bằng chúc thư hoặc đã dùng danh từ sinh
Trang 23thời san thư khi nói đến quyền tự do lập chúc Riêng về chúc thư, luật pháp Việt Nam
đã chịu ảnh hưởng nhiều của luật Pháp thuộc” [61 , tr.99] nhưng trong Bộ Dân luật
này không có điều luật nào định nghĩa về di chúc, mặc dù tại Điều 895 của BLDS
Pháp đã có định nghĩa về di chúc: “Di chúc là một chứng thư theo đó người lập di chúc định đoạt toàn bộ hoặc một phần khối tài sản của mình sau khi chết” Tuy
nhiên, dù không có điều luật đặc tả về di chúc nhưng Bộ Dân luật 1972 lại xác định
rõ: “Chúc thư có thể làm dưới ba hình thức: chúc thư tự tả, chúc thư công chính và chúc thư bí mật” [4, Điều 573]; theo đó, “Chúc thư tự tả là chúc thư do chính người lập chúc tự tay viết ra, đề ngày tháng và ký tên Chỉ như vậy là hợp lệ, không cần phải hình thức gì khác nữa.” [4, Điều 574], “Chúc thư công chính là chúc thư làm trước chưởng khế hay chúc thư được nhà chức trách có thẩm quyền thị thực” [4, Điều 575] “Chúc thư bí mật là chúc thư niêm phong kín do người lập chúc trình cho chưởng khế trước mặt hai nhân chứng và khai rằng đó là chúc thư của mình, do mình viết lấy và thủ ký Chưởng khế lập biên bản tiếp nhận, nếu người lập chúc vì lẽ gì không thể ký vào biên bản thì cũng phải ghi rõ” [4 , Điều 578] Như vậy, từ quy định
trên có thể thấy rằng Bộ dân luật 1972 chỉ chấp nhận di chúc bằng văn bản với ba
hình thức là tự tả, công chính và bí mật nên được gọi là “chúc thư”
Ở miền Bắc sau ngày tuyên bố độc lập (02/9/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
ký nhiều Sắc lệnh để tạm thời áp dụng trong hoàn cảnh đất nước vừa giành được độc lập, chưa có điều kiện và thời gian ban hành các văn bản pháp luật mang tính
ổn định lâu dài Trong đó, Sắc lệnh 97/SL ngày 10/10/1945 cho phép áp dụng luật
lệ cũ nếu nó không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa Như vậy, các vấn đề liên quan đến di chúc trong thời kỳ này được áp dụng quy định của Bộ Dân luật Bắc kỳ đối với các tỉnh miền Bắc và được áp dụng quy định của Bộ Dân luật Trung kỳ đối với các tỉnh ở miền Trung
Sau ngày miền Nam được giải phóng cho đến trước khi BLDS năm 1995 được ban hành, thừa kế được điều chỉnh bằng các văn bản dưới luật như Chỉ thị, Báo cáo tổng kết, Thông tư của TANDTC và Pháp lệnh của Hội đồng Nhà nước Sau đó, được điều chỉnh bằng BLDS 1995 với hai lần sửa đổi bổ sung vào những năm 2005
và 2015 Thông tư số 81/1981/TANDTC ngày 24/7/1981 của TANDTC hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế (từ đây xin được viết tắt là Thông tư 81); PLTK ngày 30/8/1990 của Hội đồng Nhà nước (sau đây được viết tắt là PLTK) và các BLDS 1995, 2005, 2015 đều thừa nhận người để lại di sản có thể bằng văn bản hoặc bằng miệng để thể hiện ý chí của mình về sự định đoạt tài sản sau khi chết (di sản) cho những người thừa kế và các định đoạt khác Cụ thể: tại điểm A mục IV của
Thông tư số 81 quy định: “Di chúc có thể là chúc thư viết hoặc là di chúc miệng”;
PLTK quy định về di chúc viết tại các Điều 14, 15, 16, 17 với các thể thức xác lập khác nhau và quy định về di chúc miệng tại Điều 18; bên cạnh việc định nghĩa về di
Trang 24chúc tại Điều 624: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”, BLDS năm 2015 còn quy định bốn loại di
chúc bằng văn bản tại Điều 628 và di chúc miệng tại Điều 629 Bởi ý chí của người
để lại di sản trong việc định đoạt di sản cho những người thừa kế và các định đoạt khác được phép thể hiện thông qua nhiều hình thức khác nhau nên được gọi chung
bằng thuật ngữ “di chúc”
Thuật ngữ “chuyển tài sản” được sử dụng trong Điều 624 BLDS năm 2015
được hiểu bao gồm: chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho người thừa kế và người được di tặng; chuyển giao quyền sử dụng tài sản để dùng vào việc thờ cúng; chuyển giao các quyền khác đối với tài sản như quyền đối với bất động sản liền kề, quyền hưởng dụng, quyền bề mặt Ngoài việc chuyển tài sản thì di chúc còn thể hiện ý chí của cá nhân về việc định đoạt các vấn đề khác như truất quyền hưởng di sản; giao nghĩa vụ cho người thừa kế; chỉ định người giữ di chúc; người quản lý di sản; người phân chia di sản
Thông qua việc tìm hiểu di chúc theo nhiều tên gọi và theo hai góc nhìn khác nhau Đồng thời thông qua điều luật định nghĩa về di chúc, điều luật quy định về quyền của người lập di chúc cũng như các điều luật quy định về căn cứ xác lập quyền đối với bất động sản liền kề, quyền hưởng dụng, quyền bề mặt của BLDS hiện hành có thể xác định khái niệm học thuật về di chúc như sau:
Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân thông qua văn bản hoặc lời nói để chuyển giao quyền sở hữu một phần hoặc toàn bộ tài sản; các quyền khác đối với tài sản cho người được thụ hưởng (bao gồm người thừa kế, người được di tặng, người hưởng quyền đối với bất động sản liền kề, quyền hưởng dụng, quyền bề mặt) cũng như thực hiện các quyền khác trước khi chết
1.1.2 Các dấu hiệu đặc trưng của di chúc
Là một loại giao dịch dân sự nên di chúc mang những đặc điểm của giao dịch dân sự nói chung như: Được hình hành từ hành vi của con người; phát sinh một hậu quả pháp lý nhất định; hướng tới hình thành một quan hệ dân sự giữa các chủ thể; nội dung thể hiện ý chí của người xác lập giao dịch Ngoài ra, di chúc còn mang một số dấu hiệu đặc trưng sau đây:
Thứ nhất, di chúc được xác lập thông qua hành vi pháp lý đơn phương
Di chúc hay hợp đồng đều là giao dịch dân sự nhưng nếu hợp đồng là sự hợp tác trên cơ sở đồng thuận của hai hoặc nhiều bên chủ thể (giao dịch song phương hoặc đa phương) thì di chúc chỉ là ý chí đơn phương của người lập chúc Hành vi pháp
lý đơn phương là xử sự của con người theo ý chí của riêng người đó mà khi hành vi được thực hiện sẽ phát sinh một hậu quả pháp lý nhất định đã được luật dự liệu trước
Di chúc “là sự thể hiện ý chí của cá nhân”, mọi cá nhân khi lập di chúc đều hướng việc
chuyển dịch tài sản họ cho những người thừa kế Theo hành vi này, sau khi người để
Trang 25lại di sản chết đi, sẽ làm phát sinh quan hệ thừa kế (mang tính chất vật quyền) giữa người thừa kế và những người khác trong việc sở hữu khối di sản để lại Tuy nhiên, trong di chúc chỉ mới thể hiện ý chí của một bên chủ thể (là bên để lại di sản) về việc cho những ai hưởng di sản, mỗi người được hưởng gì, hưởng bao nhiêu mà chưa thể biết người có tên trong di chúc có tiếp nhận ý chí của người lập di chúc hay không Rõ ràng, khi người thừa kế tiếp nhận ý chí của người lập di chúc thì hành vi lập di chúc mới mang ý nghĩa trọn vẹn là một loại giao dịch dân sự
Các BLDS trước đây (BLDS 1995, BLDS2005) đều có ghi nhận về di chúc chung nhưng chỉ là loại di chúc chung của vợ, chồng Tức là cho phép vợ, chồng cùng lập di chúc để định doạt khối tài sản chung hợp nhất của vợ chồng BLDS hiện hành (2015) không còn quy định về di chúc chung của vợ chồng nhưng không đồng nghĩa với việc cấm lập di chúc chung Tuy nhiên, vấn đề lập di chúc chung cần được hiểu như sau:
(i) Một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch nói chung và di chúc nói
riêng là người lập phải có năng lực chủ thể Như vậy, ngoài năng lực về hành vi, chủ thể xác lập giao dịch cần phải có năng lực pháp luật Đây là những quy định của pháp luật cho phép một chủ thể thực hiện những hành vi nhất định Cho nên, di chúc chung hiện tại không được nhắc tới trong quy định của BLDS năm 2015, điều này đồng nghĩa với việc không có chế độ pháp lý cho loại di chúc này
(ii) Ngay cả khi vợ chồng lập di chúc chung thì bản di chúc đó cũng không có
giá trị định đoạt khối tài sản chung nữa Bởi người nào chết trước thì phần của người đó phát sinh hiệu lực trước và người thừa kế có quyền khởi kiện yêu cầu phân chia trước Đặc biệt, nếu di chúc đó chỉ thể hiện ý chí của vợ chồng về việc định đoạt tài sản cho con cháu thì khi một bên chết đi, việc chia di sản của người đó không hoàn toàn theo ý chí của họ, bởi người còn sống có thể trở thành người hưởng thừa kế không phụ thuộc nội dung của di chúc theo quy định tại Điều 644 BLDS năm 2015
(iii) Nếu vẫn muốn lập di chúc chung thì việc lập di chúc này cần được hiểu là
nhiều người đang thể hiện ý chí đơn phương trong việc dịch chuyển tài sản của chính họ cho người khác sau khi chết trên cùng một phương tiện, chất liệu giấy Người được thừa kế có thể trùng nhau hoặc khác nhau, tài sản được định đoạt có thể
là chung hoặc riêng nhưng khi họ chết ở các thời điểm khác nhau, phần di chúc liên quan tới quyền định đoạt tài sản của họ sẽ có hiệu lực độc lập nhau
Thông qua việc lập di chúc, người để lại di sản mong muốn rằng tài sản còn lại của mình sau khi chết sẽ được dịch chuyển cho người khác theo ý nguyện của mình, nhưng đó mới chỉ là sự mong muốn của người để lại di sản chứ chưa phải yếu
tố quyết định đến việc hiện thực hoá ý chí của người lập di chúc Đây cũng là một trong những điểm khác biệt cơ bản giữa hợp đồng và di chúc Nếu hợp đồng là sự
Trang 26cam kết của các bên về việc xác lập các quan hệ nghĩa vụ và theo đó mỗi bên thực hiện nghĩa vụ của mình để bên kia hưởng lợi ích thì di chúc chỉ là sự thể hiện ý chí đơn phương (giao dịch đơn phương) Như vậy có nghĩa là các bên thực hiện hành vi xác lập một hợp đồng cũng như người thực hiện hành vi lập di chúc đều hướng tới việc xác lập một quan hệ pháp luật nhưng hợp đồng chắc chắn sẽ hình thành các quan hệ nghĩa vụ nhất định nếu hợp đồng đó đã đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự Trong khi đó, quan hệ pháp luật về thừa kế theo di chúc có hình thành hay không không chỉ phụ thuộc vào các điều kiện mà luật định mà còn
có thể phụ thuộc vào ý chí của chủ thể được chỉ định hưởng thừa kế trong di chúc Đặc biệt hơn, các quan hệ nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng là sự đối lập nhau
về quyền và nghĩa vụ giữa các bên và được thực hiện khi các bên còn sống, còn tồn tại (trừ trường hợp nghĩa vụ đó phải do chính người có nghĩa vụ thực hiện) nhưng di chúc chỉ xác định quyền và nghĩa vụ đối với người thừa kế nên không có
sự đối lập về quyền và nghĩa vụ giữa người thừa kế và người lập di chúc bởi vì quan hệ thừa kế chỉ phát sinh nếu người để lập di chúc đã chết (tức là người lập di chúc không phải là chủ thể của quan hệ thừa kế) Như vậy, nếu quan hệ hợp đồng
là quan hệ đối lập giữa các bên còn sống, còn tồn tại để các bên thực hiện quyền
và nghĩa vụ đối với nhau hướng tới mỗi bên hưởng một lợi ích nhất định thì quan
hệ thừa kế chỉ là sự dịch chuyển di sản, dịch chuyển nghĩa vụ (nếu có) từ người đã chết sang những chủ thể còn sống, còn tồn tại khác
Thứ hai, di chúc thể hiện ý chí của cá nhân về việc chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết
Như đã đề cập ở phần trước, tất cả các “di chúc” mà trong đó không thể hiện ý
chí của người lập di chúc về việc dịch chuyển tài sản của họ cho ai (tức là không hướng tới việc định đoạt tài sản của người lập di chúc sau khi chết) sẽ không chịu
sự điều chỉnh của các quy định về thừa kế nói chung, thừa kế theo di chúc nói riêng
Do đó, những di chúc này không phải là căn cứ để thực hiện việc phân chia di sản
do người chết để lại Theo quy định pháp luật hiện hành, một di chúc muốn trở thành căn cứ để dịch chuyển di sản thì nội dung của di chúc đó phải thể hiện được ý nguyện của người lập về việc định đoạt tài sản của mình sau khi chết cho những ai, mỗi người được hưởng gì và hưởng bao nhiêu hoặc để di sản vào thờ cúng, di tặng cho cá nhân khác
Trong cuộc sống, mỗi cá nhân đều có mong muốn thông qua hoạt động lao động, sản xuất kinh doanh hoặc các căn cứ khác để tạo dựng cho mình khối tượng của cải vật chất nhất định Tài sản mà họ có được không chỉ để phục vụ cho chính họ khi còn sống
mà còn hướng tới việc để lại cho người đời sau Nghĩa là tài sản thuộc sở hữu của người đã chết sẽ trở thành tài sản thuộc sở hữu của người thừa kế của họ Thừa kế là những phương thức để dịch chuyển quyền sở hữu tài sản và các quyền khác đối với tài
Trang 27sản từ người này sang người khác nhưng sự dịch chuyển này chỉ nằm trong phạm vi giữa người có di sản với những người thân thích của họ nên đó là sự tiếp nối trong quá trình hưởng các các thành quả lao động và người thừa kế là người tiếp tục hưởng các thanh quả lao động đó Thừa kế hoàn toàn không phải là sự chuyển giao theo mua đứt
bán đoạn.“Thừa kế không sáng tạo ra khả năng chuyển thành quả lao động từ một người này sang túi người khác, thừa kế chỉ quan hệ đến sự thay đổi những người có khả năng đó” [42, tr 97] Vì vậy, có thể nói rằng, thông qua thừa kế và đặc biệt là thừa
kế theo di chúc, người ta có thể làm cho việc sử dụng, định đoạt tài sản của mình vẫn theo ý muốn của mình ngay cả khi mình đã chết
Việc dịch chuyển di sản từ người đã chết sang các chủ thể khác dù theo phương thức nào (theo pháp luật hay theo di chúc) đều được coi là khâu trung gian để quyền sở hữu tài sản được nối dài Chính vì vậy, một quan điểm khoa học đã khẳng định rằng:
“Thừa kế ở bất kỳ một nhà nước nào cũng đều là quy định của pháp luật nhằm điều chỉnh quá trình dịch chuyển tài sản từ một người đã chết sang những người còn sống khác Với tư cách là hệ luận của quyền sở hữu, pháp luật về thừa kế là phương tiện để đảm bảo cho chủ sở hữu thực hiện quyền định đoạt đối với tài sản của mình Thông qua thừa kế, quyền sở hữu của một người đối với thành quả lao động của họ được dịch chuyển từ đời này qua đời khác Đặc biệt, ghi nhận và tôn trọng quyền định đoạt tài sản của người lập di chúc chính là việc pháp luật tôn trọng và bảo đảm quyền tự định đoạt của chủ
sở hữu đối với tài sản của họ, đảm bảo cho người lập di chúc có quyền sử dụng tài sản ngay cả khi đã chết rồi” [67, tr.28]
Thứ ba, hiệu lực của di chúc chỉ có thể phát sinh khi chính người xác lập ra
nó đã chết
Sự kiện một cá nhân chết đi sẽ là căn cứ làm chấm dứt quyền, nghĩa vụ của họ trong các quan hệ xã hội nói chung và pháp luật nói riêng Điều này đồng nghĩa với việc tài sản của họ khi còn sống cũng không thuộc quyền sở hữu của họ nữa Và đây sẽ là cơ sở, thời điểm để dịch chuyển di sản của họ cho những người còn sống theo trình tự như họ mong muốn hoặc theo pháp luật Chính vì vậy, nếu có di chúc thì đây là thời điểm để di chúc phát sinh hiệu lực pháp luật
Thời điểm có hiệu lực của di chúc là là thời điểm phát sinh các quyền đối với
di sản mà người chết để lại, đồng thời làm phát sinh các nghĩa vụ về tài sản mà người chết để lại đối với những người khác Kể từ thời điểm này, những người thừa
kế theo di chúc có quyền phân chia di sản mà người lập di chúc để lại và thực hiện các quyền các nghĩa vụ khác theo sự phân định trong di chúc Thực tế có thể thấy,
để chuẩn bị cho “tương lai xa”, một bản di chúc có thể đã được lập ra từ nhiều năm
trước khi người lập di chúc chết Nhưng khi cá nhân lập di chúc vẫn còn sống, họ
Trang 28vẫn là chủ sở hữu và có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng đối với khối tài sản của họ
Họ vẫn có quyền bán, tặng cho tài sản đó với tư cách là chủ sở hữu của tài sản và có thể thay thế, sửa đổi, thậm chí hủy bỏ di chúc đã lập Con, cháu và những người có tên trong di chúc không có quyền ngăn cản những hoạt động này của người lập di chúc bởi người lập di chúc đang thay đổi những thứ vẫn thuộc quyền của họ
Thứ tư, di chúc là một loại giao dịch trọng hình thức
Tôn trọng ý chí của các chủ thể trong giao dịch dân sự nên pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều cho phép các chủ thể xác lập giao dịch theo hình thức mà họ mong muốn, trừ khi vì lợi ích của cộng đồng và nhằm bảo đảm sự ổn định của các quan hệ dân sự Theo tinh thần đó, pháp luật Việt Nam luôn quy định rằng giao dịch dân sự/hợp đồng có thể được xác lập thông qua hành vi cụ thể, lời nói hoặc bằng văn bản Tuy nhiên, di chúc là một loại giao dịch đặc biệt, thể hiện ở chỗ nó chỉ có hiệu lực khi chính người lập ra nó đã chết nên ý chí của người chết phải được thể hiện thông qua một văn bản
Ngay từ thời kì La Mã, hình thức bằng văn bản của di chúc đã được pháp luật chú trọng ghi nhận Pháp luật hiện hành của Việt Nam ghi nhận người để lại di sản
có thể thể hiện ý chí của mình về việc phân chia di sản cho những người khác sau khi chết bằng văn bản hoặc bằng lời nói Tuy nhiên, nếu ý chí đó được thể hiện bằng văn bản thì văn bản di chúc phải được lập theo những trình tự nhất định, nếu ý
chí đó được thể hiện bằng lời nói thì chỉ “được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng”
Có thể thấy rằng các hợp đồng và các giao dịch khác (ngoài di chúc) là các giao dịch có hiệu lực và được thực hiện khi các bên chủ thể xác lập và tham gia giao dịch
đó còn sống nên hình thức xác lập giao dịch đôi khi trở nên không quan trọng bởi họ
có thể chứng minh giao dịch đó đã được xác lập bằng các căn cứ khác Tuy nhiên, điều này là không thể đối với di chúc bởi tranh chấp về việc có di chúc hay không, tính hợp pháp của di chúc như thế nào là tranh chấp giữa những người thừa kế về ý chí của một người đã chết, họ không thể chứng minh ý chí của người đã chết về việc phân định di sản như thế nào nếu ý chí đó không được thể hiện bằng một văn bản nhất định Vì thế, khác với các giao dịch khác, di chúc luôn là loại giao dịch được chú trọng hình thức thể hiện
Thứ năm, di chúc hợp pháp có thể vẫn không có hiệu lực thi hành
Thông thường, một giao dịch/hợp đồng có hiệu lực khi đã đáp ứng các điều kiện mà pháp luật yêu cầu (điều kiện có hiệu lực của giao dịch) Chẳng hạn, theo
Trang 29Điều 401 của BLDS năm 2015 thì: “Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực
từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác Từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo cam kết Hợp đồng chỉ có thể bị sửa đổi hoặc hủy bỏ theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật.” Trong khi đó, di chúc chỉ có hiệu lực “từ thời điểm mở thừa kế” [9, Điều 463] và thời điểm mở thừa
kế là thời điểm người lập di chúc chết hoặc bị coi là đã chết Đồng thời, thời điểm
mở thừa kế chỉ là thời điểm để xem xét tính hợp pháp của một di chúc mà chưa phải thời điểm để khẳng định chắc chắn di chúc sẽ phát sinh hiệu lực thi hành Nói cách khác, kể từ thời điểm người lập di chúc chết thì di chúc đó mới có giá trị pháp lý nếu nó đã tuân thủ các điều kiện hợp pháp của di chúc
Nếu như thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm mà các bên phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ với nhau theo cam kết thì thời điểm có hiệu lực của di chúc chỉ là thời điểm xác định giá trị pháp lý của di chúc còn giá trị thi hành của nó lại phụ thuộc vào rất nhiều các yếu tố khác nhau Chẳng hạn như di chúc sẽ không có giá trị thi hành nếu người có tên trong di chúc đã chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc hoặc di sản không còn vào thời điểm mở thừa kế
1.2 Khái niệm và đặc điểm điều kiện có hiệu lực của di chúc
1.2.1 Khái niệm điều kiện có hiệu lực của di chúc
Theo nghĩa chung nhất thì hiệu lực là “tác dụng thực tế, đúng như yêu cầu”
[169] Hiện nay, có hai quan điểm khác nhau liên quan đến hiệu lực của di chúc:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, hiệu lực của di chúc là “giá trị bắt buộc thi hành trên thực tế theo đúng nội dung của di chúc và phù hợp với quy định của pháp luật” [81, tr.11] Với quan điểm này, hiệu lực của di chúc là “giá trị bắt buộc thi hành” đối với mọi chủ thể Theo đó, các chủ thể liên quan như người thừa kế, người
hưởng của di tặng, người được giao tài sản dùng vào việc thừa kế được hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ theo đúng nội dung của di chúc NCS cho rằng quan điểm này chưa thực sự thuyết phục, bởi vì, mặc dù quyền và nghĩa vụ của các chủ thể được xác định trong di chúc nhưng họ vẫn có thể từ chối quyền của mình hoặc cùng nhau thỏa thuận về việc hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ liên quan đến di
sản nên hiệu lực của di chúc không bao hàm sự “bắt buộc” Tức là, khi di chúc phát
sinh hiệu lực pháp luật, những người được chỉ định hưởng di sản trong di chúc, người được chỉ định thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại và các chủ thể khác có liên quan không bắt buộc phải tuân theo sự chỉ định đó Việc họ không tuân theo sự chỉ định của người lập di chúc cũng không phải gánh chịu bất cứ chế tài nào Đây là điểm đặc trưng của di chúc có hiệu lực so với hợp đồng có hiệu lực Khi hợp đồng có hiệu lực, các bên chủ thể phải thực hiện quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng Khi di chúc có hiệu lực, di chúc chỉ là căn cứ làm phát sinh quyền và
Trang 30nghĩa vụ tài sản cho chủ thể nhất định chứ không buộc chủ thể phải thực hiện quyền
vụ của họ sẽ luôn được pháp luật bảo đảm trên thực tế Theo đó, không một cá nhân, pháp nhân, cơ quan nhà nước nào có quyền ngăn cản người thừa kế và những chủ thể khác có liên quan thực hiện quyền và nghĩa vụ của họ được xác định trong một di chúc có hiệu lực
Theo quan điểm của NCS, khi xác định hiệu lực của di chúc chỉ dựa trên “giá trị thi hành” của di chúc trên thực tế như hai quan điểm nói trên thực sự chưa đầy
đủ và có thể dẫn đến nhiều tranh cãi Bởi một giao dịch nói chung chỉ có giá trị thi hành khi đã phát sinh hiệu lực Để một giao dịch phát sinh hiệu lực thì nhất thiết phải thoã mãn đầy đủ các điều kiện có hiệu lực Tức là, chúng ta chỉ xem xét đến giá trị thi hành của giao dịch khi giao dịch đó được xác lập theo đúng quy định của luật Điều kiện có hiệu lực của giao dịch nói chung là những quy định có giá trị bắt buộc giao dịch phải tuân thủ Thời điểm có hiệu lực của giao dịch nói chung là thời điểm giao dịch đó được thi hành trên thực tế Có nghĩa là, điều kiện có hiệu lực của giao dịch và thời điểm có hiệu lực của giao dịch là hai yếu tố có mối quan hệ với nhau nhưng không giống nhau Khi một giao dịch đã thoã mãn đầy đủ các điều kiện có hiệu lực thì giao dịch có thể phát sinh hiệu lực ở một trong các thời điểm như thời điểm luật định, thời điểm do các bên thoả thuận, thời điểm giao kết [9, Điều 401]
Di chúc cũng là một trong các loại giao dịch dân sự, do đó để có thể được thi hành trên thực tế, di chúc cũng phải thoả mãn các điều kiện phát sinh hiệu lực Tuy nhiên, di chúc là một loại giao dịch dân sự đơn phương đặc biệt so với các giao dịch nói chung, giao dịch đơn phương này khác biệt ở chỗ:
Thứ nhất, ngoài việc phải tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch nói
chung được quy định tại Điều 117 BLDS năm 2015, di chúc được lập còn phải tuân thủ các điều kiện được quy định tại Điều 630 BLDS năm 2015 Song, đây chỉ là những điều kiện để một di chúc được coi là hợp pháp Tức là, khi di chúc được lập hợp pháp cũng không đương nhiên phát sinh hiệu lực ở thời điểm được xác lập như hợp đồng
Thứ hai, di chúc chỉ phát sinh hiệu lực khi người lập di chúc đã chết hoặc bị
tuyên bố là đã chết Thời điểm người lập di chúc chết vừa được coi là thời điểm di chúc có hiệu lực, vừa được coi là một trong các điều kiện để di chúc phát sinh hiệu lực Bởi vì, nếu người lập di chúc còn sống thì cho dù di chúc được lập hợp pháp
Trang 31cũng không thể phát sinh hiệu lực Điều này có nghĩa rằng, không có sự tách biệt hoàn toàn giữa điều kiện có hiệu lực và thời điểm có hiệu lực của di chúc Đây là yếu
tố khác biệt so với hợp đồng và các giao dịch đơn phương khác (những giao dịch này
có thể phát sinh hiệu lực ngay ở thời điểm các chủ thể xác lập giao dịch còn sống, tức
là điều kiện có hiệu lực và thời điểm có hiệu lực là hai yếu tố tách biệt nhau)
Thứ ba, di chúc chỉ có giá trị thi hành trên thực tế nếu những chủ thể được chỉ
định hưởng thừa kế trong di chúc còn sống hoặc còn tồn tại vào thời điểm mở thừa
kế và di sản thừa kế phải còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế Đây cũng là điểm đặc trưng so với các loại giao dịch dân sự khác, đặc biệt là hợp đồng Khi một hợp đồng đã được xác lập một cách hợp pháp thì hợp đồng vẫn có thể có giá trị thi hành ngay cả khi một hoặc các bên chủ thể của hợp đồng là cá nhân đã chết hoặc pháp nhân đã chấm dứt hoạt động nếu quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đó có thể chuyển giao cho chủ thể khác Trong khi đó một di chúc đã được lập hợp pháp mà chủ thể được chỉ định đã chết, không còn tồn tại thì di chúc đó không có giá trị thi hành Điều này là bởi điều kiện để một chủ thể được coi là người thừa kế là phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế (nếu là cá nhân), còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế (nếu không phải là cá nhân) Do đó, khi một di chúc đã được lập hợp pháp, người lập di chúc đã chết nhưng chủ thể được chỉ định trong di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế thì có thể coi là trường hợp không có chủ thể của quan hệ thừa kế theo di chúc, nên không có cơ sở để phân chia di sản theo di chúc Tức là di chúc không có giá trị thi hành
Ngoài ra, nếu di chúc được lập hợp pháp mà thuộc một trong các trường hợp
sau thì di chúc cũng không có giá trị thi hành: (i) Trường hợp di chúc được lập hợp
pháp nhưng di sản thừa kế không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì di chúc
không phát sinh hiệu lực và không được thi hành trên thực tiễn; (ii) Trường hợp người được chỉ định hưởng thừa kế trong di chúc từ chối nhận di sản; (iii) Trường
hợp người được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc không có quyền hưởng di sản
theo quy định tại khoản 1 Điều 621 BLDS năm 2015; (iv) Trường hợp di chúc có
nội dung không rõ ràng và những người thừa kế không thống nhất được cách giải
thích nội dung của di chúc; (v) Trường hợp di chúc bị hư hại đến mức những người thừa kế không thể nhận biết được ý chí đích thực của người lập di chúc; (vi) Trường
hợp di chúc bị thất lạc mà tại thời điểm tìm thấy di chúc, di sản đã được chia theo pháp luật và đã hết thời hiệu yêu cầu phân chia di sản
Với những phân tích ở trên, NCS cho rằng nói đến hiệu lực pháp luật của di chúc phải nói đến cả hai loại giá trị, trong đó giá trị pháp lý chính là sự thể hiện tính hợp pháp của một di chúc; giá trị thi hành là sự thể hiện khả năng thực hiện của di
chúc trong thực tế Vì vậy, có thể kết luận rằng: Hiệu lực pháp luật của di chúc là giá trị pháp lý ghi nhận quyền, nghĩa vụ của những người thừa kế theo di chúc và
Trang 32các chủ thể khác có liên quan Theo đó, các chủ thể hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ theo ý chí của người để lại di sản đã được thể hiện trong di chúc
Xét về bản chất, một cá nhân khi lập di chúc họ mong muốn bản di chúc được công nhận tính hợp pháp và khi họ chết đi, di sản của họ sẽ được dịch chuyển theo ý chí mà họ đã thể hiện trước đó trong di chúc Rõ ràng, đây là một quá trình diễn ra trong một khoảng thời gian dài thậm chí rất dài từ khi cá nhân lập di chúc cho tới khi phân chia di sản cho từng người thừa kế Chính vì vậy, quan điểm lập pháp khi xác định hiệu lực pháp luật của di chúc cũng ghi nhận các quy định dựa trên lộ trình này Cụ thể, để một bản di chúc có hiệu lực pháp luật cần phải thoả mãn được ba
điều kiện: Một là, phải hợp pháp Hai là, phải phát sinh hiệu lực pháp luật Ba là,
phải được thi hành Hay nói cách khác, một di chúc muốn có hiệu lực pháp luật cần phải thoả mãn được các điều kiện có hiệu lực của di chúc
Nói về thuật ngữ “điều kiện” trong cụm thuật ngữ điều kiện có hiệu lực của di chúc, từ điển tiếng Việt phổ thông xác định rằng “điều kiện” là “cái” cần phải có để cho một “cái khác” có thể có hoặc có thể không xảy ra [70, tr.163] Như vậy, xét về mặt ngữ nghĩa, “điều kiện” được hiểu như những yêu cầu, đòi hỏi cần phải được
đáp ứng trước khi hoặc sau khi thực hiện một sự việc nào đó Và hiệu lực pháp luật của di chúc là giá trị pháp lý mà pháp luật ghi nhận để phát sinh hiệu lực và đảm
bảo thực thi đối với bản di chúc Với cách xác định trên, “điều kiện có hiệu lực của
di chúc” được hiểu là những gì mà pháp luật yêu cầu cần phải có để đảm bảo hiệu
lực pháp luật của một di chúc
Dưới góc độ nghiên cứu pháp luật, một vài quan điểm khoa học cho rằng
“điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự là các yếu tố cần và đủ mà BLDS quy định cho giao dịch dân sự có hiệu lực pháp luật” [64, tr.56] Cho nên, điều kiện có
hiệu lực của di chúc cũng được hiểu là các quy định của pháp luật cần và đủ để một
di chúc có hiệu lực pháp luật Hay điều kiện có hiệu lực của di chúc là tổng thể những quy định của pháp luật mà một di chúc muốn phát sinh hiệu lực pháp lý phải thỏa mãn đầy đủ các điều kiện đó [62, tr.19] Thực tế cho thấy, góc nhìn của những
quan điểm này không sai nhưng chưa thể hiện được bản chất, cũng như chưa lột tả được sự khác biệt giữa điều kiện để di chúc hợp pháp với điều kiện có hiệu lực của
di chúc Vì hiệu lực pháp luật nói chung là giá trị pháp lý ghi nhận quyền, nghĩa vụ của các chủ thể trong giao dịch nhất định Giá trị này phản ánh được sự mong muốn đích thực của người xác lập giao dịch khi hướng tới làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ của chủ thể nào đó Đối với bản di chúc, để các chủ thể phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ theo ý chí của người để lại di sản ngoài việc thoả mãn điều kiện luật định (tức di chúc hợp pháp) về di chúc còn phải đáp ứng được điều kiện để phát sinh hiệu lực và phân định di sản Bởi vì, trong nhiều trường hợp, di chúc hợp pháp những vẫn không thể phát sinh hiệu lực thực tế Ví
Trang 33dụ: Người để lại di sản đã lập di chúc nhưng chưa chết hoặc người được hưởng thừa
kế chết trước người để lại di sản, di sản không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế… Những trường hợp này tuy là khách quan nhưng ảnh hưởng trực tiếp tới ý nguyện của người lập di chúc Vì vậy, nếu không ghi nhận những yêu cầu này, di chúc thực sự không có ý nghĩa, đồng thời không phản ánh được mong muốn cuối cùng của người lập di chúc đối với di sản của họ
Vấn đề hiệu lực của pháp luật được đặt ra đối với giao dịch nói chung nhưng với hợp đồng hay các giao dịch khác chỉ cần đảm bảo các điều kiện tại thời điểm xác lập giao dịch như: Người xác lập phải có năng lực hành vi, mục đích, nội dung không vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội, người xác lập phải tự nguyện, hình thức phù hợp Vì ở thời điểm này, khi được pháp luật ghi nhận quyền, nghĩa vụ tương xứng thì ý chí của người xác lập đã được thoả mãn Trong trường hợp muốn thay đổi, người xác lập hoàn toàn có thể thực hiện việc bổ sung, thay thế, huỷ bỏ…với nhau, vì lúc này
họ vẫn còn sống Còn riêng di chúc chỉ được xem xét khi người lập ra nó đã chết Rõ ràng, vai trò của pháp luật trong việc đảm bảo thực hiện ý chí của người lập di chúc phải kéo dài tới giai đoạn phân định được di sản Có như vậy, ý chí của người lập di chúc mới được thoả mãn Do đó, pháp luật buộc phải đặt ra nhiều yêu cầu đối với các giai đoạn kế tiếp là: Giai đoạn người lập di chúc chết và giai đoạn thực hiện ý nguyện của người để lại di sản Theo những gì đã phân tích ở trên về hiệu lực của di chúc, NCS
sẽ khái quát các yêu cầu pháp luật phải đặt ra để di chúc có hiệu lực pháp luật thành ba
nhóm điều kiện: Một là, điều kiện để di chúc hợp pháp Hai là, điều kiện để di chúc phát sinh hiệu lực pháp luật Ba là, điều kiện để di chúc được thi hành Để đưa ra khái
niệm về điều kiện có hiệu lực của di chúc, NCS sẽ nêu và chỉ ra cơ sở khoa học cho việc ghi nhận các nhóm điều kiện này của pháp luật từ đó khái quát thuật ngữ điều kiện
có hiệu lực của di chúc
1.2.1.1 Điều kiện để di chúc hợp pháp
Ở thời kì xã hội xuất hiện tư hữu, đó là ở lần phân công lao động thứ ba Theo nghiên cứu, ở thời kì này, lần đầu tiên xuất hiện một giai cấp tuy không tham gia vào quá trình lao động, sản xuất nhưng lại chiếm quyền lãnh đạo, bắt những người sản xuất phụ thuộc vào mình về kinh tế và bóc lột tầng lớp người lao động Cũng từ đây, Nhà nước đã xuất hiện [65, tr.35-38] khiến các vấn đề về của cải, vật chất được điều chỉnh
có tính trật tự hơn Đây cũng là một trong những tác động mang lại cho xã hội sự phát
triển có tính đột phá C Mác và Ăngghen nhận định rằng “Những của cải ấy một khi
đã trở thành tư hữu (của các gia đình) sẽ tăng lên nhanh chóng” [43, tập 27, tr.389]
Sự dư thừa về tài sản trong xã hội đã khiến cho xu hướng của sự tích lũy xuất hiện Điều này đồng nghĩa với việc các quan hệ về thừa kế cũng bắt đầu được chú trọng C
Mác và Ph Ăngghen cũng đã đề cập trong tác phẩm “Nguồn gốc gia đình, chế độ tư hữu và nhà nước” rằng: “Từ khi chế độ tư hữu chiến thắng chế độ công hữu, cùng với
Trang 34đó là sự quan tâm đến việc cho thừa kế tài sản” [43, tập 27, tr.257] Lý giải cho sự việc
này ở xã hội, một vài quan điểm nhận định, thừa kế là một trong các hoạt động tạo ra
cho người có tài sản một cảm giác “an toàn” nhất đối với lợi ích cho người thân của họ
khi họ qua đời Điều này khẳng định vai trò quan trọng của thừa kế trong mối quan hệ với sở hữu Nếu quan hệ sở hữu giúp chúng ta xác định được tài sản đó thuộc về ai, họ
có thể làm gì đối với tài sản thì thừa kế lại cho ta thấy được sự kế tục tài sản đó sẽ diễn
ra như thế nào sau khi họ qua đời
Sự ra đời của chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và xã hội phân chia thành giai cấp là tiền đề về kinh tế cho sự xuất hiện Nhà nước Theo góc nhìn của Ph
Ăngghen “Nhà nước không phải là một thực thể quyền lực từ bên ngoài áp đặt vào xã hội, mà là sản phẩm của một xã hội đã phát triển đến một giai đoạn nhất định, là bằng chứng của những mâu thuẫn, của những phân chia xã hội thành các lực lượng đối lập nhau mà tự chúng không thể giải quyết được” [59, tr.194] Điều
này khẳng định, Nhà nước phản ánh rõ nét thực thể quyền lực của một giai cấp trong xã hội Và để bảo vệ lợi ích giai cấp mình, pháp luật là thứ buộc phải xuất hiện và tồn tại song song với nhà nước Với nhiều vai trò nhưng lớn nhất là điều chỉnh các quan hệ xã hội hướng đến sự ổn định trật tự, pháp luật ở bất kì kiểu nhà nước nào cũng đều khẳng định được vị trí công cụ sắc bén bảo vệ cho giai cấp thống trị Trong Nhà nước từ thời kì đầu như La Mã, Athens, Germaina, các vấn
đề về sở hữu và hệ luận là thừa kế đã được ghi nhận, điều chỉnh Ngay cả các vấn
đề về sự dịch chuyển di sản của người chết cho người sống theo ý chí của người
đó trước khi chết cũng đã tồn tại Điều này được mô phỏng tại bảng V, Luật 12 Bảng thời kì La Mã Ở đó, thuật ngữ “di chúc” đã xuất hiện Điều này phản ánh rõ thực trạng xã hội, sự đa dạng về cách thức dịch chuyển di sản của người chết cho người còn sống Khi nghiên cứu về pháp luật thời kì này, các nhà khoa học nhận thấy, sự điều tiết bằng ý chí của Nhà nước vào các quan hệ xã hội nói chung và việc lập di chúc nói riêng rất mạnh mẽ Mọi sự dịch chuyển tài sản theo ý chí của
cá nhân trước khi chết đi đều tuân theo quy định về bản di chúc Một bản di chúc
có được pháp luật công nhận và đảm bảo thực hiện hay không không phụ thuộc vào ý chí của người tạo ra nó mà hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước thông qua một số các điều kiện nhất định
Ở các giai đoạn phát triển sau đó cho tới thời kì đương đại, pháp luật càng khẳng định được vai trò điều chỉnh quan hệ xã hội của mình nhiều hơn khi lần lượt
mở rộng phạm vi can thiệp vào quá trình lập di chúc của cá nhân Mặc dù, sự can thiệp này không làm mất đi quyền tự do ý chí của cá nhân nhưng vì, di chúc được xác định là tiền đề hay cơ sở hình thành quan hệ pháp luật qua đó tạo các quyền, nghĩa vụ tương ứng của các chủ thể Hay nói khác đi, di chúc khi đã được pháp luật điều chỉnh, nó sẽ là căn cứ phát sinh hậu quả pháp lý Cho nên, việc điều chỉnh các
Trang 35vấn đề liên quan đến quá trình hình thành bản di chúc từ góc độ pháp luật là một sự cần thiết Điều này luôn luôn hướng tới sự dung hòa về lợi ích của chính người lập
di chúc và các chủ thể khác trong xã hội
Nhìn nhận từ góc độ pháp lý, những yếu tố cấu thành một giao dịch nói chung
và một bản di chúc nói riêng thường bao gồm: Chủ thể, nội dung, sự tự nguyện và hình thức thể hiện Những yếu tố này được xác định là điều kiện để xem xét sự phù hợp trong quá trình kết giao giữa chúng để tạo thành một giao dịch nói chung và di chúc nói riêng Sự điều tiết từ góc độ pháp luật đối với các yếu tố này được gọi chung là điều kiện có hiệu lực của giao dịch hoặc đối với di chúc đó là điều kiện để
di chúc hợp pháp Mỗi một điều kiện đều đóng vai trò, ý nghĩa khác nhau tạo nên sự hoàn thiện cho một bản di chúc Đứng từ phương diện lập pháp, lý giải căn nguyên của sự can thiệp vào quá trình điều chỉnh, tạo ra tính phù hợp của bản di chúc được xác định như sau:
Thứ nhất, về người lập di chúc
Trong các quan hệ pháp luật, số lượng về chủ thể của quan hệ PLDS luôn được xem là nhiều nhất Điều này được lý giải rằng, dân sự thuộc về tư – lợi ích của các chủ thể luôn được gắn với mong muốn ý chí của chính họ khi tham gia các quan
hệ Các nhu cầu về lợi ích đôi khi không dừng lại ở từng cá nhân riêng lẻ mà còn của nhóm người hoặc cộng đồng người trong xã hội Tuy vậy, riêng đối với việc lập
di chúc, cá nhân là chủ thể duy nhất được xem xét thực hiện hoạt động này Khi nghiên cứu về người lập di chúc, NCS nhận thấy một số vấn đề sau đây cần phải xác định rõ về bản chất Để qua đó, chúng ta có góc nhìn toàn diện hơn từ lý luận cho việc quy định điều kiện về người lập di chúc:
Trong khoa học pháp lý, cá nhân được hiểu bao gồm: “công dân, người nước ngoài, người nước ngoài không có quốc tịch” [65 , tr.431] Trong đó, công dân là
người mang quốc tịch Việt Nam, người nước ngoài gồm công dân nước ngoài và
Trang 36người không quốc tịch thường trú hoặc tạm trú ở Việt Nam và người không có quốc tịch là người không có quốc tịch Việt Nam và cũng không có quốc tịch nước ngoài [32, Điều 3] Những người này đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam hoặc có thể đang sinh sống tại nước ngoài Đối với quyền lập di chúc, pháp luật chỉ ghi nhận cho cá nhân được phép thực hiện loại quyền năng này
Hai là, xác định cơ sở của việc quy định chỉ cá nhân mới là chủ thể có quyền lập di chúc
Pháp luật qua các thời kì đều khẳng định, việc lập di chúc là hoạt động gắn với
cá nhân chứ không phải tổ chức, pháp nhân hoặc chủ thể nào khác Cơ sở để giải thích cho quy định này như sau:
- Theo C.Mác và Ăngghen nhận định “xã hội suy cho đến cùng là sản phẩm của
sự tác động qua lại giữa những con người” [43, tập 27, tr.657] Theo đó, thứ chủ thể
duy nhất có thực là con người Tất thảy những thứ pháp luật quy định, điều chỉnh đều xuất phát từ hành vi, ứng xử, lợi ích của con người Vì vậy, dưới góc độ pháp lý, con người nói chung hay cá nhân hoặc thể nhân là chủ thể duy nhất hiện hữu Đây cũng là
cơ sở cho sự tồn tại ở mọi loại quan hệ pháp luật của cá nhân Riêng đối với quyền lập di chúc, pháp luật chỉ thừa nhận cá nhân được lập di chúc ngoài cơ sở là chủ thể
có thực, chúng ta còn có thể giải thích dựa trên lý thuyết về sự hình thành của các chủ thể khác trong quan hệ PLDS Ví dụ: Pháp nhân Pháp nhân là sự tổ hợp của một nhóm thể nhân được pháp luật quy định tên gọi cũng như địa vị pháp lý nhất định
Theo thuyết giả định (được các luật gia Tây Âu ghi nhận và người giải thích cũng
như tán đồng nhất là Laurent - Luật gia người Bỉ) thì pháp nhân là một chủ thể giả định [52, tr.309] Các hoạt động của pháp nhân đều thông qua cá nhân Mà đối với hoạt động lập di chúc, việc định đoạt tài sản luôn gắn liền với yếu tố ý chí của cá nhân Điều này càng khẳng định, ý chí phải được gắn với chủ thể có thực Còn các chủ thể khác sẽ rất khó để chúng ta có thể xác định được yếu tố ý chí cũng như sự thống nhất ý chí khi định đoạt tài sản chung cho người khác
- Việc một người sinh ra và chết đi hoàn toàn thuộc về lẽ tự nhiên Khi con người chết đi, những của cải, vật chất mà họ đã dự trữ, tích lũy được sẽ dịch chuyển cho người còn sống Còn đối với các chủ thể pháp nhân, sự hình thành hay chấm dứt hoàn toàn có thể phụ thuộc vào ý chí của con người hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Khi chấm dứt sự tồn tại của mình, tài sản mà pháp nhân có phải
xử lý theo quy định của pháp luật Bên cạnh đó, việc một người trong pháp nhân đó chết đi cũng sẽ không là căn cứ để chấm dứt cũng như dịch chuyển tài sản của pháp nhân đó cho người khác Điều này cho thấy, địa vị pháp lý của mỗi chủ thể trong xã hội đều được pháp luật quy định gắn với tính chất đặc thù của chủ thể đó Đối với cá nhân, sự sinh ra và chết đi của con người là tự nhiên cho nên pháp luật chỉ có thể điều chỉnh các vấn đề về cá nhân một cách khách quan Còn đối với pháp nhân, sự hình
Trang 37thành và chấm dứt hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của nhà nước hoặc của con người
cụ thể Vậy nên, nếu đặt ra quyền lập di chúc cho pháp nhân sẽ không thể phù hợp với tính chất của pháp luật là điều chỉnh quan hệ xã hội dựa trên nguyên tắc đảm bảo
sự thật khách quan của sự việc
- Khi còn sống, con người thực hiện các hoạt động hướng tới tìm kiếm các giá trị lợi ích vật chất và tinh thần Tinh thần là yếu tố gắn với mỗi chủ thể khó có thể định lượng Còn các giá trị lợi ích vật chất là những thứ tồn tại độc lập với con người Nó gắn với các nhu cầu, đòi hỏi khác nhau khi tác động vào giá trị vật chất đó Sự sống của con người không phải là thứ tồn tại vĩnh cửu nhưng của cải, vật chất mà con người tạo
ra hoàn toàn có thể tồn tại với phạm vi thời gian lâu hơn, đồng thời có giá trị với mọi người Rõ ràng khi cá nhân chết, của cải vật chất sẽ không có ý nghĩa nếu dịch theo người này Sự kế thừa sẽ được đặt ra thể theo ý chí của người này lúc còn sống hoặc theo ý chí của Nhà nước Còn đối với các chủ thể khác, tài sản họ có có thể là của Nhà nước, cổ phần hóa hoặc của riêng họ chứ không đặt ra cho riêng cá nhân nào… Mục đích thành lập, hoạt động duy trì và phát triển các chủ thể này được đặt ra ngay từ khi thành lập Các lợi ích mà họ có được có thể sẽ phân bổ cho cá nhân là thành viên của chủ thể nhưng không phải tất cả Khi chấm dứt tư cách chủ thể của mình, toàn bộ tài sản mà họ có không thể chuyển dịch theo ý chí của riêng cá nhân nào mà phải tuân theo quy định của pháp luật Cho nên, chúng ta không thể đặt ra vấn đề đối với một chủ thể không phải là cá nhân
- Bên cạnh các lý thuyết tạo dựng cơ sở cho việc không ghi nhận quyền lập
di chúc cho pháp nhân, NCS cho rằng, pháp nhân là chủ thể hoạt động dựa trên cơ chế đại diện thông qua một cá nhân (đại diện theo pháp luật hoặc uỷ quyền) Tức
là, mọi hoạt động của pháp nhân đều phải thông qua người đại diện Cho nên, nếu
để người đại diện thực hiện hoạt động lập di chúc cho pháp nhân sẽ vấp vào hai
vấn đề sau: (i) Ý chí để thiết lập di chúc là ý chí của người xác lập, họ mong muốn
mang lại lợi ích tinh thần cho chính mình hoặc lợi ích vật chất cho những người
thân của họ; (ii) Việc định đoạt tài sản của pháp nhân trong các hoạt động đều
hướng tới duy trì sự tồn tại, phát triển của pháp nhân chứ không phải mang lại lợi ích riêng cho cá nhân nào khác Hầu hết các hoạt động của pháp nhân đều được thể hiện cụ thể trong điều lệ hoạt động, được pháp luật cho phép hoặc được xác định một cách cụ thể dựa trên sự thống nhất của nhiều sáng lập viên Chính vì vậy, người đại diện không thể sử dụng ý chí của riêng mình để thiết lập di chúc cho cả một pháp nhân Điều này có thể vi phạm quyền, lợi ích và ý chí của các thành viên pháp nhân khác hoặc vi phạm quy định về cơ chế hoạt động của pháp nhân
- Ngoài ra, pháp luật khi ghi nhận quyền lập di chúc cho một chủ thể sẽ đồng thời ghi nhận cho người đó quyền được sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc
ở bất kì thời điểm nào trước khi chết Nếu ghi nhận cho pháp nhân quyền lập di
Trang 38chúc tức là ghi nhận ý chí chung trong di chúc là sự thống nhất của nhiều cá nhân
Vì pháp nhân là tổ chức có nhiều cá nhân Khi đã hoàn tất việc lập một di chúc chung, một cá nhân nào đó muốn sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ, thay thế nội dung của
di chúc sẽ là không thể, vì bản di chúc chứa đựng nội dung thể hiện ý chí của nhiều cá nhân Mà không cho phép sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc sẽ là
vi phạm quyền của người lập di chúc Điều này thiết tạo nên cơ sở thuyết phục cho việc không thừa nhận quyền lập di chúc của pháp nhân, tổ chức
Ba là, xác định cơ sở hình thành quy định điều kiện mà cá nhân phải thỏa mãn khi tham gia lập di chúc
Đối với quy định về điều kiện để di chúc hợp pháp, hai học thuyết (được NCS
đề cập mục 1.3) về quyền tự nhiên và thuyết tự do ý chí chi phối và tạo sự ảnh hưởng tương đối nhiều Trong khi thuyết về quyền tự nhiên chỉ ra rằng, quyền lập
di chúc xuất phát từ lợi ích tinh thần của người có tài sản mong muốn để lại cho người khác sau khi chết đi Cho nên, việc ghi nhận quyền lập di chúc là đương nhiên khi có pháp luật Thì thuyết về sự tự do ý chí lại khẳng định, quyền tự định đoạt của cá nhân xuất phát từ ý chí của mỗi cá nhân và phải được pháp luật tôn trọng, bảo đảm thực hiện Đây cũng là cơ sở để pháp luật đặt ra điều kiện về khả năng nhận thức, điều khiển hành vi cũng như khả năng về trí tuệ, sự minh mẫn và sáng suốt của cá nhân khi lập di chúc Điều này có thể được giải thích như sau:
(i) Về mặt y học, con người phải đạt độ tuổi nhất định mới có khả năng về mặt
nhận thức cũng như điều khiển hành vi Chỉ khi nhận thức được các vấn đề xung quanh cuộc sống, cá nhân mới có thể nhận biết được giá trị lợi ích vật chất hoặc tinh thần mà đối tượng của quyền năng nào đó mang lại cho họ Cũng từ góc độ này, khi
cá nhân đạt độ tuổi nhất định thì ý chí của cá nhân thể hiện ra bên ngoài mới đạt được
sự thấu đáo, và mới có cơ sở để khẳng định đó là ý chí đích thực của họ Đồng thời, thông qua khả năng nhận thức cũng như điều khiển hành vi của mình, cá nhân hoàn toàn có thể tự chịu trách nhiệm về hành vi của mình trước xã hội Đây là cơ sở để pháp luật quy định độ tuổi áp dụng đối với cá nhân khi lập di chúc Mỗi thời kì lịch
sử phát triển của pháp luật, mỗi một quốc gia dựa trên khả năng nhận thức, mức độ trưởng thành, khả năng điều khiển hành vi, khả năng chịu trách nhiệm bằng hành vi của cá nhân mà đưa ra độ tuổi phù hợp để áp dụng đối với các hoạt động tương ứng
(ii) Về sự tác động, chi phối thậm chí can thiệp ý chí bởi các chủ thể khác Khi
ở độ tuổi trưởng thành cá nhân sẽ đạt được khả năng về trí tuệ, sự minh mẫn, sáng suốt Qua đó, chính cá nhân sẽ có những nhận thức, đánh giá sự vật, hiện tượng một cách khách quan và phù hợp nhất Đặc biệt hơn, khi cá nhân tham gia vào quá trình định đoạt tài sản thông qua việc lập di chúc luôn cần đảm bảo loại trừ sự can thiệp bởi bởi ý chí của chủ thể khác Đây là một trong các cơ sở để ghi nhận điều kiện về trí tuệ, sự minh mẫn, sáng suốt của cá nhân khi lập di chúc
Trang 39(iii) Về quá trình khai thác sức lao động của bản thân để tạo ra tài sản, khả năng
xác lập quyền sở hữu đối với tài sản thông qua các hoạt động nhất định Khi đạt độ tuổi nhất định, con người có xu hướng khai thác chính sức lao động, trí tuệ của bản thân để tạo ra của cải, vật chất duy trì cuộc sống của bản thân Việc làm này có thể tạo ra lượng của cải dự trữ nhất định Khi còn sống họ có thể chiếm hữu, sử dụng, định đoạt theo cách của riêng họ và khi chết đi họ có thể lập di chúc chuyển dịch cho người thân Đây là một trong các cơ sở để hiện thực hoá quá trình thừa kế trong xã hội
(iv) Sự can thiệp bởi ý chí của nhà nước khi thực hiện việc điều chỉnh quan hệ
xã hội bằng pháp luật
Như NCS có đề cập, thuyết khoa học về nhà nước và pháp luật (mục 1.3) đã khẳng định, quan hệ về thừa kế cũng là một trong các quan hệ được quản lý bởi nhà nước và điều chỉnh bởi pháp luật Mà ở đấy, sự can thiệp bằng yếu tố ý chí của nhà nước và pháp luật luôn hướng tới đảm bảo lợi ích của các chủ thể trong quan hệ thừa kế, đồng thời loại trừ sự vi phạm quyền, lợi ích của chủ thể khác khi thực hiện việc lập di chúc Đối với điều kiện về người lập di chúc thì điều này càng thể hiện rõ khi pháp luật đặt ra độ tuổi, khả năng nhận thức, điểu khiển hành vi là điều kiện bắt buộc trong áp dụng để xem xét tính hợp pháp của di chúc Đây là cơ sở để Nhà nước thực hiện vai trò quyền uy của mình trong việc điều chỉnh quan hệ về thừa kế bằng pháp luật
Về cơ bản, việc quy định các điều kiện để một giao dịch có hiệu lực pháp luật đều đặt ra tương đối giống nhau khi xem xét về chủ thể Nhưng riêng di chúc, pháp luật lại đặt ra điều kiện khắt khe hơn về kể cả độ tuổi cũng như khả năng trí tuệ, sự minh mẫn, sáng suốt Vậy căn nguyên của việc quy định này là từ đâu? Theo NCS, cơ sở cho quy định này của pháp luật có thể xuất phát từ các khía cạnh sau:
- Quyết định của cá nhân lập di chúc sẽ không thể thay đổi khi pháp luật thừa nhận giá trị hiệu lực của di chúc đó Vì thực tế, khi cá nhân chết đi bản di chúc mới có hiệu lực pháp luật Rõ ràng, việc một người chết đi sẽ dẫn tới hậu quả không còn sự tồn tại của họ
ở thế giới khách quan Điều này khiến cho sự thay đổi những gì trước khi chết họ đã làm
là hoàn toàn không thể Cho nên, quyết định lập di chúc luôn được xác định là một quyết định xuất phát từ những suy nghĩ rất kĩ càng, thấu đáo và sâu sắc
- Quyết định của cá nhân lập di chúc thường liên quan tới việc định đoạt tài sản lớn của họ, thậm chí đó là công sức được tạo ra của cả đời người
- Việc lập di chúc hoàn toàn mang yếu tố đơn phương của cá nhân Ngoài việc xác định nội dung cho ai đó hưởng di sản, pháp luật vẫn đặt ra các quyền năng khác cho cá nhân lập di chúc như: Chỉ định người thực hiện nghĩa vụ về tài sản, chỉ định người thờ cúng, người quản lý di sản, người giữ và công bố di chúc… Khi cá nhân thực hiện các quyền năng này trong nội dung của di chúc, sự ràng buộc quyền, nghĩa vụ của các chủ thể khác sẽ xuất hiện khi bản di chúc có hiệu lực pháp luật
Mà sự ràng buộc quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khác được chỉ định trong di
Trang 40chúc lại không xuất phát từ mong muốn ý chí của họ Do đó, để đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng thì người lập di chúc phải đạt khả năng nhận thức, điều khiển hành vi ở mức độ cao
Với những lý do trên, pháp luật đặt ra điều kiện khắt khe về người lập di chúc
để khẳng định việc thừa nhận bản di chúc đã được lập hoàn toàn xuất phát từ mong muốn đích thực, sâu sắc của người có tài sản và quá trình lập di chúc của cá nhân đó hoàn toàn tỉnh táo, minh mẫn, sáng suốt
Tóm lại, nghiên cứu về điều kiện người lập di chúc, chúng ta có thể xác định
rõ pháp luật chỉ thừa nhận chủ thể cá nhân là người có quyền lập di chúc Đồng thời phải đạt độ tuổi, nhận thức nhất định chúng ta có thể nhận thấy việc ghi nhận này phản ánh một cách rõ ràng sự tôn trọng và bảo đảm thực hiện quyền lập di chúc của
cá nhân Bên cạnh đó, pháp luật vẫn thực hiện đúng vai trò điều tiết các quan hệ xã hội của mình khi đảm bảo cân bằng được lợi ích chủ thể lập di chúc, lợi ích chủ thể khác và cộng đồng, xã hội
Thứ hai, đối với nội dung của di chúc
Theo góc nhìn của Triết học, phạm trù nội dung chính là tổng hợp tất cả những mặt, những yếu tố tạo nên sự vật, hiện tượng [45, tr.327] Điều này cho thấy,
khi xác định nội dung của di chúc, chúng ta có thể dựa trên lý thuyết này để khẳng định rằng, những gì tạo nên bản di chúc được hiểu là nội dung Qua kết quả nghiên cứu khoa học tại Phụ lục 1 – Tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài, một vài
quan điểm chỉ ra rằng nội dung của di chúc là: Tổng hợp các vấn đề mà người lập di chúc đã thể hiện trong di chúc đó [67, tr.149 -150] hoặc ghi nhận quyền và nghĩa vụ của những người được hưởng di sản và có thể kèm theo những điều kiện và người lập
di chúc giao cho những người đó, để được công nhận thì nội dung không trái pháp luật, đạo đức xã hội [75, tr.23]; hay các điều khoản của di chúc thể hiện cụ thể ý chí của người lập di chúc – nội dung của di chúc còn phải hợp pháp thì di chúc mới có giá trị pháp lý và sẽ được thực hiện sau khi người lập di chúc chết [58, tr.151] Điểm chung của các quan điểm trên đều thừa nhận “nội dung của di chúc”
chính là những gì mà người lập di chúc mong muốn khi định đoạt tài sản của mình Nghiên cứu về vấn đề này này, NCS nhận thấy, các quy định của pháp luật thừa nhận nội dung của di chúc chịu sự chi phối, tác động bởi thuyết về tự do ý chí khá
rõ ràng Tất cả nội dung của di chúc phải là sự thể hiện ý chí của người lập di chúc
Họ được tự do với quyết định của mình trong việc điều dịch vấn đề tài sản sau khi
họ chết Với bản chất này, nội dung của di chúc chính là tổng hợp sự thể hiện mong muốn ý chí của người lập di chúc nhằm định đoạt tài sản của mình
Bên cạnh đó, việc pháp luật ghi nhận nội dung, mục đích của giao dịch nói chung và di chúc nói riêng không được vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo
đức xã hội được lý giải như sau: