1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vai trò của công khai tài chính doanh nghiệp đối với chủ sỡ hữu doanh nghiệp, các chủ nợ và nhà nước

15 136 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 119 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với đề tài “Vai trò của công khai tài chính doanh nghiệp đối với chủ sỡ hữu doanh nghiệp, các chủ nợ và Nhà nước” em sẽ phân tích vai trò của công khai tài chính doanh nghiệp đối với ba

Trang 1

MỤC LỤC

I Lý luận chung 2

1 Khái niệm 2

2 Đặc điểm của công khai tài chính doanh nghiệp 3

II Vai trò của công khai tài chính doanh nghiệp 4

1 Vai trò của công khai tài chính doanh nghiệp đối với chủ sở hữu 5

1.1 Công khai thông tin TCDN giúp chủ sỡ hữu DN thực hiện tốt hơn hoạt động giám sát nội bộ doanh nghiệp 5

1.2 Công khai TCDN trong việc khẳng định và quảng bá thương hiệu, thu hút đầu tư 7

Ví dụ 2: 9

2 Vai trò của công khai tài chính doanh nghiệp đối với các chủ nợ 10

3 Vai trò của công khai tài chính doanh nghiệp đối với Nhà nước 12

3.1 Đối với việc định hướng nền kinh tế 12

3.2 Đối với việc quản lý, giám sát các doanh nghiệp 12

III Đánh giá chung 13

Trang 2

Tài chính doanh nghiệp dưới góc độ kinh tế được hiểu là quan hệ giá trị giữa

doanh nghiệp với các chủ thể trong nền kinh tế Mà các quan hệ đó đều xoay

quanh một vấn đề - đó là lợi nhuận kinh tế Do đó, giữa các mối quan hệ: giữa doanh nghiệp – Nhà nước, doanh nghiệp – thị trường tài chính, doanh nghiệp – các thị trường khác và trong nội bộ doanh nghiệp thường phát sinh xung đột về lợi ích Do đó, pháp luật tài chính doanh nghiệp đặt ra vấn công khai các thông

tin tài chính doanh nghiệp nhằm đảm bảo lợi ích cho các chủ thể Với đề tài “Vai trò của công khai tài chính doanh nghiệp đối với chủ sỡ hữu doanh nghiệp, các chủ nợ và Nhà nước” em sẽ phân tích vai trò của công khai tài chính doanh

nghiệp đối với ba chủ thể chủ sở hữu doanh nghiệp, chủ nợ và Nhà nước

I Lý luận chung

1 Khái niệm

Công: mọi người; khai: mở 1 như vậy công khai có nghĩa là cho mọi người biết Trong hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau đều bình đẳng trước pháp luật trong việc lựa chọn ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh Do vậy sẽ

có nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp như : chủ doanh nghiệp, nhà tài trợ, nhà cung cấp, khách hàng…kể cả các cơ quan Nhà nước và người làm công, mỗi đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp trên các góc độ khác nhau

Do đó, để biết được tình hình tài chính doanh nghiệp (TCDN), cần thiết đến hoạt động phân tích tài chính của DN dựa trên các thông tin tài chính của doanh nghiệp Các thông tin TCDN là những thông tin liên quan đến các hoạt động huy động vốn, sử dụng vốn và phân phối lợi nhuận Theo Điều 5 Thông tư 171/2013/TT-BTC hướng dẫn công khai thông tin tài chính theo quy định tại nghị định số 61/2013 đối với doanh nghiệp Nhà nước là chủ sở hữu hoặc có vốn nhà nước, thông tin đó có thể là các thông tin như:

+ Công khai nội dung thông tin đã nêu tại Báo cáo đánh giá tình hình tài

chính

Trang 3

+ Công khai nội dung thông tin về các khoản thu nhập và thu nhập bình quân

của người lao động; tình hình chấp hành các nghĩa vụ đối với người lao động về bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, trợ cấp mất việc làm (nếu có); tình hình tiền lương, thù lao, tiền thưởng và thu nhập hàng tháng năm trước liền kề của từng viên chức quản lý doanh nghiệp

+ Công khai nội dung thông tin về Báo cáo tài chính đã được kiểm toán, các

ý kiến đánh giá, xác nhận, kết luận, kiến nghị của kiểm toán, của chủ sở hữu và

cơ quan quản lý tài chính doanh nghiệp về báo cáo tài chính, về tình hình tài chính của doanh nghiệp

+ Đối với thông tin về quản trị doanh nghiệp, doanh nghiệp công khai tình

hình xây dựng và thực hiện các quy chế nội bộ của doanh nghiệp

Vậy, công khai tài chính doanh nghiệp là việc doanh nghiệp công bố ra bên ngoài hoặc trong nội bộ doanh nghiệp những thông tin về tình hình tài chính doanh nghiệp cho những chủ thể có liên quan biết trong giới hạn dung hòa được lợi ích của doanh nghiệp và các chủ thể có liên quan.

2 Đặc điểm của công khai tài chính doanh nghiệp

Thứ nhất, công khai TCDN là quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp

Theo quy định của pháp luật hay theo sự vận động của thị trường mà công khai thông tin tài chính doanh nghiệp đã trở thành nghĩa vụ đối với mỗi doanh nghiệp Một doanh nghiệp có hoặc không công khai thông tin TCDN đã trở thành một tiêu chí đánh giá một doanh nghiệp Bên cạnh việc quy định, các doanh nghiệp do Nhà nước làm chủ sở hữu hoặc có vốn nhà nước có nghĩa vụ công khai tài chính theo Nghị định 61/2013/NĐ-CP mà các doanh nghiệp không

có vốn nhà nước cũng đã hình thành nghĩa vụ này như một tính tất yếu để tồn tại

và phát triển

Thứ hai, công khai TCDN liên quan đến lợi ích nhiều chủ thể

Bởi, TCDN bao hàm hoạt động huy động vốn, sử dụng vốn và phân phối lợi nhuận, xét dưới hình thức vốn hay lợi nhuận thì TCDN đã có mối liên hệ mật thiết với lợi ích của các chủ thể khác nhau Tuy nhiên, làm sao để bảo vệ được quyền lợi của mình, pháp luật TCDN đã quy định một phương thức như một

3

Trang 4

công cụ để các chủ thể có thể bảo vệ được quyền lợi cho chính mình, đó là quyền được biết các thông tin về tình hình tài chính doanh nghiệp Từ đó các chủ thể có thể phân tích tài chính doanh nghiệp Thông qua một hệ thống các phương pháp, công cụ và kỹ thuật phân tích, giúp người sử dụng thông tin từ các góc độ khác nhau, vừa đánh giá toàn diện, tổng hợp khái quát, lại vừa xem xét một cách chi tiết hoạt động tài chính doanh nghiệp, tìm ra những điểm mạnh và điểm yếu

về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, để nhận biết, phán đoán, dự báo và đưa ra quyết định tài chính, quyết định tài trợ và đầu tư phù hợp

Thứ ba, công khai TCDN xung đột với bảo vệ bí mật kinh doanh

Mỗi doanh nghiệp khi hoạt động trên thương trường đều có một bí mật kinh doanh riêng nhằm tạo ra lợi nhuận và lợi thế trước đối thủ cạnh tranh Bí mật kinh doanh là những thông tin:

(i) không là hiểu biết thông thường;

(ii) có khả năng áp dụng trong kinh doanh và khi được sử dụng sẽ tạo cho người nắm giữ thông tin đó có lợi thế hơn so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng nó;

(iii) được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để không bị tiết lộ

và không dễ dàng tiếp cận được

Vậy nên, cần đặt công khai TCDN trong mối tương quan với bảo vệ bí mật

Ví dụ: quy định Ngân hàng nhà nước có quyền từ chối yêu cầu của tổ chức, cá

nhân về việc cung cấp thông tin mật về tiền tệ và ngân hàng tại khoản 2 Điều 38

Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam 2010 là biểu hiện cho mối tương quan này Trong tổng hợp các thông tin của doanh nghiệp, có những thông tin các chủ thể khác có quyền được biết, doanh nghiệp có nghĩa vụ phải công khai nhưng cũng

có những thông tin cần được bảo vệ, được coi là thông tin mật, bí mật kinh doanh

II Vai trò của công khai tài chính doanh nghiệp

Công khai tài chính doanh nghiệp có vai trò gắn với vai trò của tài chính doanh nghiệp, nó xuyên suốt từ huy động vốn, sử dụng vốn và phân phối lợi nhuận Tài chính doanh nghiệp có như hai chức năng: chức năng phân phối và

Trang 5

chức năng giám đốc Hai chức năng này giúp các chủ thể có lợi ích liên quan cũng như chính doanh nghiệp bảo vệ được quyền lợi của mình

Tuy nhiên, xét ở một góc độ khác, tài chính doanh nghiệp chỉ có thể thực hiện được vai trò và nhiệm vụ bảo vệ các chủ thể của mình khi có công khai tài chính doanh nghiệp Có thể xem mối quan hệ giữa

doanh nghiệp với các chủ thể khác như mô hình của

“cầu thang xoắn ốc ADN”: xem doanh nghiệp và các

chủ thể khác là hai tay cầm, công khai thông tin sẽ là

chất xúc tác tạo nên khối lợi ích thống nhất có sự đan

xen nhưng dung hòa với nhau; tuy nhiên, nếu việc tiếp

cận và công khai thông tin trở nên rời rạc (thiếu trung

thực hay thiếu minh bạch) thì lợi ích giữa DN và các

chủ thể khác sẽ bị tách rời và có sự xung đột

Do đó, phải có công khai thông tin TCDN, thông tin phải minh bạch thì tài chính doanh nghiệp mới thực sự trở thành công cụ để bảo vệ lợi ích các chủ thể Trong phạm vi bài làm, em sẽ phân tích vai trò của công khai thông tin TCDN đối với ba chủ thể: chủ sở hữu, chủ nợ và Nhà nước

1 Vai trò của công khai tài chính doanh nghiệp đối với chủ sở hữu

1.1 Công khai thông tin TCDN giúp chủ sỡ hữu DN thực hiện tốt hơn hoạt động giám sát nội bộ doanh nghiệp

Hoạt động tài chính doanh nghiệp là hoạt động quan trọng, trọng tâm của

doanh nghiệp Thông qua việc ghi chép, thống kê, xử lý và công khai thông tin tài chính doanh nghiệp, chủ sở hữu (thông qua bộ máy của mình) thực hiện giám sát nội bộ doanh nghiệp Hoạt động này có ý nghĩa quan trọng trong đánh giá tính hợp lý, hợp pháp của hoạt động quản lý, điều hành, bảo đảm quyền lợi của người góp vốn, ngặn chặn kịp thời các hành vi tư lợi của người quản lý, người điều hành

Giám sát nội bộ là hoạt động của cơ quan thẩm quyền trong nội bộ doanh nghiệp nhằm kiểm tra, xem xét tính hợp lý, hợp pháp của hoạt động quản lý, điều hành Tức là xem xét về ba vấn đề (không phải tất cả nhưng là ba vấn đề quan trọng nhất):

5

Trang 6

+ Doanh nghiệp đã thực hiện đầu tư phù hợp với loại hình sản xuất kinh

doanh hay chưa? Cần có hoạt động tiếp nhận và xử lý thông tin TCDN để xác định về tính hiệu quả của các dự án đầu tư

+ Nguồn vốn tài trợ là nguồn nào? Cơ cấu vốn chủ sở hữu/vốn vay là như thế

nào? Vấn đề đặt ra ở đây là doanh nghiệp sẽ huy động nguồn tài trợ với cơ cấu như thế nào cho phù hợp và mang lại lợi nhuận cao nhất Liệu doanh nghiệp có nên sử dụng toàn bộ vốn chủ sở hữu để đầu tư hay kết hợp với cả các hình thức

đi vay và đi thuê? Điều này liên quan đến vấn đề cơ cấu vốn và chi phí vốn của doanh nghiệp

+ Sự quản lý, điều hành hoạt động tài chính đã diễn ra hợp lý và hợp pháp

chưa? Có sự tư lợi ở đây hay không? Hoạt động tài chính ngắn hạn gắn liền với các dòng tiền nhập quỹ và xuất quỹ Nhà quản lý tài chính cần xử lý sự lệch pha của các dòng tiền

Vậy, trên cơ sở sự thống kê, ghi chép và công khai thông tin, bộ máy giám

sát, quản lý và điều hành (do chủ sỡ hữu doanh nghiệp xây dựng) có thể phân tích tài chính một cách toàn diện nhất, về khả năng thanh toán, khả năng cân đối vốn, năng lực hoạt động cũng như khả năng sinh lãi, nhà quản lý tài chính có thể

dự đoán về kết quả hoạt động nói chung và mức doanh lợi nói riêng của doanh nghiệp trong tương lai Từ đó, chủ sở hữu doanh nghiệp có thể định hướng cho giám đốc tài chính cũng như hội đồng quản trị trong các quyết định đầu tư, tài trợ, phân chia lợi tức cổ phần và lập kế hoạch dự báo tài chính

Có thể thấy rõ hơn qua hoạt động giám sát của Ban Kiểm soát trong CTCP,

Ban kiểm soát có quyền và nhiệm vụ giám sát HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc trong việc quản lý, điều hành công ty; kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp, tính trung thực và mức độ cẩn trọng trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh, trong tổ chức công tác kế toán, thống kê và lập báo cáo tài chính; thẩm định báo cáo tình hình kinh doanh, báo cáo tài chính hằng năm và sáu tháng của

công ty, bán cáo đánh giá công tác của Hội đồng quản trị [Điều 123 LDN 2005].

Vậy, để thực hiện các hoạt động trên, việc công khai các thông tin liên quan đến hoạt động trên là tất yếu, nhưng là trong nội bộ công ty Công khai ở đây được hiểu là công khai giữa các “mắt xích” khác nhau trong bộ máy của CTCP

Trang 7

Hay việc công khai lợi ích của chính thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát, Giám đốc hay Tổng giám đốc và người quản lý khác theo Điều

118 LDN, họ phải kê khai các lợi ích của họ với công ty Các lợi ích đó như: tên địa chỉ, trụ sở chính, ngành nghề kinh doanh, số và ngày cấp GCN ĐKKD, nơi ĐKKD của DN mà họ có sở hữu vốn góp hoặc cổ phần; tỷ lệ và thời điểm sở

hữu vốn góp hoặc cổ phần đó [Khoản 1 Điều 118], việc công khai đó phải được

thông báo cho ĐHĐCĐ tại cuộc họp thường niên và được niêm yết, lưu giữ tại

trụ sở chính của doanh nghiệp [Khoản 2 Điều 118] Việc các chủ thể trên phải

công khai các lợi ích khác với lợi ích của công ty đảm bản hạn chế được sự tư lợi (việc chủ thể trên sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh của công ty hoặc lạm dụng địa vị, chức vụ và tài sản của công ty để tư lợi) Thông qua hoạt động công khai thông tin tại trụ sở DN, chủ sỡ hữu DN có thể bảo vệ được lợi ích của chính mình

Ví dụ1 2 : Trong vụ việc của CTCP chế biến thủy sản Phương Nam gần đây,

việc bà Diệu Hiền với chức danh Giám đốc thực hiện một số dự án đầu tư: Nhà máy Sản xuất nước uống Collagen Bình An, tổng vốn đầu tư là 10 triệu USD; đầu tư 200 tỷ đồng để xây dựng Viện Nghiên cứu thủy sản Bình An, tại Khu Công nghiệp Trà Nóc II, TP.Cần Thơ Tuy nhiên, các dự án trên thực tế không hoạt động hoặc hoạt động nhưng không mang lại lợi nhuận Nhiều dự án đầu tư không có hiệu quả như vậy, tất yếu dẫn đến thua lỗ Câu hỏi đặt ra, các cổ đông khác của CTCP Phương Nam có biết được những số liệu trên trước khi vụ việc

bị phanh phui hay không Chắc chắn rằng, các số liệu về các khoản lỗ, các khoản thâm hụt không được công khai hoặc đã được “làm đẹp” trước khi đưa ra ĐHĐCĐ

1.2 Công khai TCDN trong việc khẳng định và quảng bá thương hiệu, thu hút đầu tư

Hiện nay, mở cửa thông tin được xem là một hình thức để quảng bá thương hiệu của DN Việc công khai TCDN được xem là một tiêu chí quan trọng để các nhà đầu tư, người cho vay hay các ngân hàng đánh giá xem có nên đầu tư/cho vay hay không

2 Những dự án chết yểu của nữ đại gia Diệu Hiền, http://danviet.vn/thoi-su/nhung-du-an-chet-yeu-cua-nu-dai-gia-dieu-hien/79895p1c24.htm

7

Trang 8

Theo quy định của pháp luật, đối với phát hành trái phiếu, theo Nghị định 90/2011/NĐ-CP Về phát hành trái phiếu doanh nghiệp, một trong hai điều kiện

để phát hành trái phiếu được quy định tại Điều 13 đó là: theo báo cáo tài chính thì kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của năm liền kề trước năm phát hành phải có lãi Trường hợp doanh nghiệp phát hành trái phiếu trước ngày 01 tháng 4 hàng năm chưa có báo cáo tài chính năm của năm liền kề được kiểm toán thì phải có:

- Báo cáo tài chính được kiểm toán của năm trước năm liền kề với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi;

- Báo cáo tài chính quý gần nhất với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh

có lãi được kiểm toán (nếu có);

- Báo cáo tài chính của năm liền kề với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi được Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty phê duyệt theo Điều lệ hoạt động của công ty

Báo cáo tài chính (BCTC) có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp thông tin đối với nhà đầu tư, các tổ chức quản lý, điều hành thị trường, là điều kiện thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển hiệu quả và lành mạnh Công khai, minh bạch thông tin chứng tỏ được doanh nghiệp đó có kinh doanh đúng pháp luật, đúng với ngành nghề đăng ký trong GCN ĐKKD hay không, việc công khai minh bạch thông tin còn chứng tỏ được tiềm lực của doanh nghiệp Bởi, thông qua các thông tin được công khai, mà tiêu biểu là bản báo cáo tài chính, các nhà đầu tư có thể đánh giá được quy mô cũng như tiềm lực của doanh nghiệp

Ngoài ra, trên thương trường, việc một doanh nghiệp không công khai TCDN hoặc công khai nhưng không minh bạch chứng tỏ trong quan hệ “làm ăn” với

DN đó sẽ không đảm bảo được sự lành mạnh, uy tín của doanh nghiệp đó cũng không cao Do đó, công khai TCDN là biểu hiện cho sự “lành mạnh” của doanh nghiệp; là sự trung thực trong kinh doanh Không những vậy, công khai TCDN còn biểu hiện của sự uy tín và vị thế nhất định trên thương trường

Trang 9

Ví dụ 2:

Hoạt động công khai thông tin của công ty niêm yết trên trang thông tin điện tử: http://hnx.vn/ – Công khai – Minh bạch – Công bằng Cụ thể là đối với hai Công ty cổ phần Chứng khoán dần khí (PSI) và Công ty Cổ phần Than Hà Lầm – Vinacomin (HLC)

CTCP Chứng khoán dầu khí, địa chỉ: Tầng 2 và 10 - Tòa nhà Hanoi

Tourist, số 18 phố Lý Thường Kiệt, Hà Nội; GCN ĐKKD số: 26/UBCK-GPHĐKD Cổ phiếu của công ty Vinacomin chính thức lên sàn chứng khoán vào ngày 21/7/2010 Tất cả các thông tin được cần thiết đều có thể tìm thấy trên trang của công ty trong trang web hnx.vn Từ Bản cáo bạch, Các bản báo cáo tài chính các năm, Báo cáo thường niên hay Thông báo mới họp, tài liệu họp ĐHĐCĐ thường niên, Báo cái tài chính, Thay đổi GCN ĐKKD, Giải trình chênh lệch lợi nhuận hay Thay đổi nhận sự Việc các thông tin TCDN được công khai

sẽ giúp các nhà đầu tư đánh giá được khả năng kinh doanh của doanh nghiệp cũng như tác động vào cách ứng xử của nhà đầu tư (mua hay không mua cổ phiếu của PSI) và thông qua công khai thông tin có thể xây dựng được uy tín, chỗ đứng trên thị trường chứng khoán, thu hút được nhà đầu tư

CTCP Than Hà Lầm – Vinacomin, có địa chỉ: Số 1, phố Tân Lập, phường

Hà Lầm, Hạ Long, Quảng Ninh; GCN ĐKKD số: 2203001252 Cổ phiếu của công ty Vinacomin chính thức lên sàn chứng khoán vào ngày 05/3/2009 Các thông tin được tìm thấy (được công khai) tương tự như đối với PSI

Tuy nhiên, xem xét kỹ, CTCP Vinacomin đã không công bố thông tin trên trang thông tin điện tử Công ty về Báo cáo tình hình quản trị công ty năm 2010, Báo cáo thường niên năm 2010, Báo cáo tài chính Quý 2 và Quý 4 năm 2011, Báo cáo thường niên năm 2011, Nghị quyết và tài liệu họp Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2011, Báo cáo tài chính bán niên năm 2012 đã soát xét, Báo cáo tài chính năm 2012 đã kiểm toán, Báo cáo thường niên năm 2012; công bố thông tin không kịp thời về Báo cáo tài chính Quý 1 và Quý 2 năm 2012, Báo cáo tài chính Quý 3 và Quý 4 năm 2012, Báo cáo tài chính Quý 1, Quý 2 và Quý

3 năm 2013

9

Trang 10

Do đó, Vinacomin Phạt tiền 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng) theo quy định tại Điểm a Khoản 3 Điều 33 Nghị định số 85/2010/NĐ-CP ngày 2/8/2010 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán theo Quyết định số 243/QĐ-XPVPHC xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán đối với Công

ty Cổ phần Than Hà Lầm – Vinacomin Việc Vinacomin không công khai thông tin hoặc công khai không kịp thời sẽ dẫn đến cái nhìn không tích cực của nhà đầu tư đối với công ty, từ đó ảnh hưởng đến uy tín cũng như chỗ đứng của HLC trên trường chứng khoán

2 Vai trò của công khai tài chính doanh nghiệp đối với các chủ nợ

Để đáp ứng hoạt động, hiện nay các doanh nghiệp đa số đều có sử dụng vốn vay và đều có các mối quan hệ với các tổ chức tín dụng, ngân hàng với tư cách

là người cho vay Các chủ nợ cho vay tiền hoặc cung ứng hàng hoá và dịch vụ cho doanh nghiệp đều quan tâm đến việc liệu doanh nghiệp có đủ tiền để hoàn trả nợ vay cho họ khi nợ đến hạn hay không Do vậy, các chủ nợ đều phân tích rất kỹ tình hình tài chính và khả năng thanh toán của doanh nghiệp trước khi quyết định cho doanh nghiệp vay

Điều đó có nghĩa việc công khai thông tin TCDN và thông tin được công có minh bạch ảnh hưởng rất lớn đến cách ứng xử của các tổ chức tín dụng, ngân hàng Bởi nếu DN công khai thông tin nhưng thông tin thiếu trung thực, minh bạch sẽ dẫn đến cách hành xử không đúng gây ảnh hưởng đến lợi ích của các chủ nợ Các chủ nợ phân tích tài chính của DN nhằm đảm bảo khả năng trả nợ của doanh nghiệp

Trên cơ sở phân tích các thông tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp, các chủ nợ xem xét khả năng thanh toán của doanh nghiệp trên hai khía cạnh là ngắn hạn và dài hạn Nếu là những khoản cho vay ngắn hạn, người cho vay xét xem về vốn điều lệ, vốn có sẵn, tài sản thế chấp có giá trị hay không, tài sản đó

đã được thế chấp ở nơi khác chưa để đảm bảo khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp, nghĩa là khả năng ứng phó của doanh nghiệp đối với các món nợ khi đến hạn trả Nếu là những khoản cho vay dài hạn, người cho vay hướng đến khả năng hoàn trả và khả năng sinh lời của doanh nghiệp mà việc hoàn trả vốn

Ngày đăng: 25/03/2019, 10:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w