Trong quá trình hình thành và hoạt động, nghề luật sư được điều chỉnhvà kiểm soát rất chặt chẽ bởi những quy định của pháp luậttrong từng thời kỳ được thực thi thơng qua việc ban hành Ph
Trang 1KHOA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ
-o0o -TIỂU LUẬN KIẾN THỨC CHUNG VỀ LUẬT SƯ VÀ NGHỀ LUẬT SƯ
Đề tài:
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ
Ở VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG PHÁT
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 18 tháng 01 năm 2013
Trang 2KHOA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ
-o0o -TIỂU LUẬN KIẾN THỨC CHUNG VỀ LUẬT SƯ VÀ NGHỀ LUẬT SƯ
Đề tài:
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ
Ở VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG PHÁT
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 18 tháng 01 năm 2013
Trang 3
Trang
LỜI NÓI ĐẦU
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LUẬT SƯ VÀ NGHỀ
Trang 4Ở VIỆT NAM THEO LUẬT LUẬT SƯ 2006 VÀ THEO LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU NĂM 2012 (có hiệu lực kể từ
1.1.6 Lệ phí đăng ký hoạt động, lệ phí thay đổi nội dung đăng ký hoạt động,
lệ phí cung cấp thông tin về nội dung đăng ký hoạt động
13
1.1.7 Lệ phí đăng ký hoạt động của Chi nhánh, Văn phòng đại diện của tổ
chức hành nghề luật sư
13
Trang 53 Những quy định liên quan đến hành nghề của tổ chức hành nghề luật
sư nước ngoài, luật sư nước ngoài tại Việt Nam 19
Chương 4: THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN TỔ CHỨC
VÀ HOẠT ĐỘNG HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ.
20
Trang 61.2 Ví dụ điển hình về thực trạng tổ chức và hoạt động hành nghề luật
LỜI NĨI ĐẦU
Trong tình hình phát triển chung của thế giới thì vấn đề về quyền con ngườitrên các nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ con người, bìnhđẳng, công bằng trong mọi hoạt động đã trở thành vấn đề quan tâm của hầu hết
Trang 7triển khơng ngừng kéo theo đĩ là sự phát sinh thêm nhiều mối quan hệ giữa cơng dân vớicơng dân, giữa cơng dân với các cơ quan, tổ chức và giữa các cơ quan, tổ chức với nhau.
Và hơn nữa là những mối quan hệ giữa các cá nhân và tổ chức trong nước với các cá nhân,
tổ chức nước ngồi trong mối quan hệ xã hội và kinh tế Những mối quan hệ này nhiều khiphát sinh mâu thuẫn, ảnh hưởng đến quyền lợi của mỗi bên, nhất là khi chúng ta đã thamgia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới(WTO) Thì nhu cầu cần thiết và cấp bách là xây dựng một hệ thống pháp luật đồng bộ vàphù hợp với một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thơng lệquốc tế để giải quyết tất cả những mâu thuẫn giữa các cá nhân và tổ chức trên cơ sở gĩpphần phát triển và nâng cao vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế đã được Đảng và nhànước ta quan tâm và xây dựng
Trong bối cảnh đĩ, cũng như những nghành nghề khác thì nghề Luật sư đã trở thànhmột nghề thực sự tồn tại và phát triển, cĩ vai trị, vị trí quan trọng và cĩ chỗ đứng vữngchắc trong đời sống kinh tế - xã hội Chính vì vậy, trong giai đoạn hiện nay Luật sưkhơng những được xã hội và pháp luật thừa nhận là một NGHỀ mà cịn là một NGHỀ caoquí được xã hội tơn vinh Những năm gần đây, cùng với tiến trình phát triển nền kinh tế thịtrường, đội ngũ luật sư đã từng bước phát triển về số lượng và chất lượng Phạm vi lĩnhvực dịch vụ mà luật sư cung cấp đang trở nên phong phú và đa dạng Nhiều văn phịngLuật sư, cơng ty tư vấn pháp luật ra đời đã đáp ứng phần nào nhu cầu về dịch vụ pháp lý,đặc biệt là nhu cầu tư vấn luật ngày một gia tăng
Trong quá trình hình thành và hoạt động, nghề luật sư được điều chỉnhvà kiểm soát rất chặt chẽ bởi những quy định của pháp luậttrong từng thời kỳ được thực thi thơng qua việc ban hành Pháp lệnh Tổchức Luật sư 1987, Pháp lệnh Luật sư 2001 … Đặc biệt, Pháp lệnh Luật sư
2001 ra đời đã mang theo một sứ mệnh lịch sử là sự chuyên nghiệp hĩa đội ngũ luật sư ViệtNam, pháp lệnh này đã nâng tầm nghề luật sư xứng đáng với vị trí vốn cĩ của nĩ trong nềnkinh tế thị trường của một xã hội đang trên đà phát triển mạnh mẽ Tuy nhiên, những quyđịnh chưa rõ ràng của Pháp lệnh Luật Sư 2001 đã để lại những khoảng trống nhất địnhtrong việc chuyên nghiệp hĩa hoạt động của nghề này Cho nên nhận thấy sự cần thiết cũngnhư cấp bách để hồn thiện khung pháp lý cho một nghề đang là tâm điểm của xã hội
Luật luật sư 2006 đã được ra đời với một kỳ vọng là nhằm nâng tầm quan trọng củađội ngũ Luật sư Việt Nam Các Luật sư sẽ khơng cịn là cái bĩng trên cơng đường mà sẽ trở
Trang 8thương mại đa phương Bên cạnh đó, luật sư còn phải tuân thủ cácquy tắc đạo đức nghề nghiệp bổ sung cho các quy định củapháp luật Những quy tắc này trong nhiều trường hợp còn đặt
ra yêu cầu cao hơn so với yêu cầu của pháp luật nhằm bảovệ khách hàng, những người thuê luật sư để bảo vệ quyềnvà lợi ích hợp pháp của mình Hoạt động luật ở nước takhông những đáp ứng kịp thời nhu cầu trợ giúp pháp lýngày càng cao của cá nhân, tổ chức mà cịn góp phần quantrọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can,
bị cáo và các đương sự khác, phục vụ tích cực cho công cuộccải cách tư pháp, tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi vàtin cậy cho các hoạt động đầu tư, kinh doanh thương mại trongbối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Trước những tồn tại, bất cập nêu trên xuất phát từ các nguyên nhân chủ quan vàkhách quan nêu trên, nhằm phát triển sao cho phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội hiệnnay, tổ chức và hoạt động của nghề luật sư ở Việt Nam cần phải cĩ những bước tiến mới.Chính vì vậy, Quốc hội khĩa 13 vừa qua một lần nữa đã thơng qua và cho ra đời Luật sửađổi, bổ sung một số điều của Luật luật sư số 20/2012/QH13 ngày 20 tháng 11 năm 2012 sẽchính thức cĩ hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2013, thực sự sẽ gĩp phần thúcđẩy hoạt động Luật sư ngày một chuyên nghiệp, tổ chức chặt chẽ, trình độ chuyên mơncao, đưa các dịch vụ pháp lý của Luật sư đến gần hơn với người dân
Để hiểu rõ hơn về Nghề luật sư và cũng xuất phát từ tầm quan trọng đối với viện
nhìn nhận nghề luật sư ở Việt Nam hiện nay, tơi chọn đề tài tiểu luận: “ Tổ chức và hoạt
động hành nghề luật sư ở việt nam, thực trạng và hướng phát triển” để người đọc cĩ cái
nhìn tồn diện về vai trị của Nghề luật sư trong đời sống pháp lý và đời sống xã hội, cơng
cuộc cải cách tư pháp, về chức năng xã hội của luật sư nhằm “gĩp phần bảo vệ cơng lý,
các quyền tự do, dân chủ của cơng dân, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xã hội dân chủ, cơng bằng, văn minh.” (Điều 3 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật luật sư năm 2012)
Trang 10Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LUẬT SƯ VÀ NGHỀ LUẬT SƯ Ở VIỆT
NAM
1 Sơ lược lý luận chung về luật sư và nghề luật sư ở Việt Nam.
1.1 Khái niệm về luật sư.
Hiện nay, chúng ta có thể hiểu với nhau rằng: Luật sư là một chức danh tư phápđộc lập, chỉ những người có đủ điều kiện hành nghề chuyên nghiệp theo quy định củapháp luật nhằm thực hiện việc tư vấn pháp luật, đại diện theo ủy quyền, bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp cho cá nhân, tổ chức và nhà nước trước tòa án và thực hiện các dịch vụpháp lý khác Điều 2 Luật Luật sư 2006 quy định: Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điềukiện hành nghề theo quy định của Luật luật sư, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầucủa cá nhân, cơ quan, tổ chức Tiêu chuẩn luật sư được quy định tại Điều 10 Luật Luật sưnhư sau: “Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật,
có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng Cử nhân Luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã quathời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trởthành Luật sư Lưu ý rằng, người có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 10 của Luật luật sưmuốn được hành nghề luật sư phải có Chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một Đoàn
luật sư
1.2 Khái niệm về Nghề luật sư.
Nghề luật sư ở Việt Nam trước hết là một nghề luật, trong đó các luật sư bằng kiếnthức pháp luật của mình, độc lập thực hiện các hoạt động trong phạm vi hành nghề theoquy định của pháp luật và quy chế trách nhiệm nghề nghiệp, nhằm mục đích phụng sựcông lý, góp phần phát triển kinh tế, bảo vệ pháp chế và xây dựng Nhà nước pháp quyềnViệt Nam
Theo nhiều nhà nghiên cứu, nghề luật sư không giống như những nghề bìnhthường khác vì ngoài những yêu cầu về kiến thức và trình độ chuyên môn thì việc hànhnghề luật sư còn phải tuân thủ theo quy chế đạo đức nghề nghiệp Điều này tạo nên nétđặc thù riêng của nghề luật sư và nét đặc thù này tác động sâu sắc đến kỹ năng hànhnghề, đặc biệt là kỹ năng tranh tụng của các luật sư
Xét về tính chất, có thể hiểu nghề luật sư có ba tính chất cơ bản như sau:
Thứ nhất, tính chất trợ giúp: Nói đến trợ giúp nghĩa là nói đến sự giúp đỡ, bênh
vực không vụ lợi của luật sư cho những người ở vào vị thế thấp kém Những người đượctrợ giúp thường là người bị ức hiếp, bị đối xử bất công trái pháp luật trong xã hội haynhững người nghèo, người già cô đơn, người chưa thành niên mà không có sự đùm bọccủa gia đình Do đó, tính chất này thể hiện hoạt động của nghề luật sư không chỉ là bổnphận mà còn là thước đo lòng nhân ái và đạo đức của luật sư
Trang 11Thứ hai, tính chất hướng dẫn: Thông thường, luật sư thực hiện việc hướng dẫn cho
khách hàng hiểu đúng tinh thần và nội dung của pháp luật, để từ đó họ biết cách tháo gỡvướng mắc sao cho phù hợp với pháp lý và đạo lý, cũng như để bảo vệ quyền và lợi íchchính đáng của họ
Thứ ba, tính chất phản biện: Là những biện luận nhằm phản bác lại lý lẽ, ý kiến
quan điểm của người khác mà mình cho là không phù hợp với pháp lý và đạo lý Luật sưlấy pháp luật và đạo đức xã hội làm chuẩn mực để xem xét mọi khía cạnh của sự việcnhằm xác định rõ phải trái, đúng sai… từ đó đề xuất những biện pháp phù hợp bảo vệ lẽphải, loại bỏ sai trái, bảo vệ công lý
Từ tính chất, đặc thù của nghề luật sư, chúng ta thấy rằng không dễ dàng để có thểthực hiện nghề này một cách bình thường Ở các nước phát triển nghề luật sư rất được coitrọng trong xã hội Người được phép hành nghề luật sư phải trải qua nhiều chương trìnhđào tạo và phải là người hội đủ nhiều phẩm chất quan trọng như thông minh, trong sáng,trung thực, dũng cảm Luật sư phải biết lấy pháp luật, đạo đức xã hội, lẽ sống công bằng
và chân lý khách quan làm cơ sở cho hoạt động nghề nghiệp thì mới được tin tưởng vàtrân trọng
Chương 2
LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ Ở VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ
1 Tổ chức và hoạt động nghề nghiệp luật sư giai đoạn từ trước năm 1946 đến năm 1959.
Trước năm 1930, người Pháp chiếm độc quyền nghề luật sư ở nước ta, nhưng vớisắc lệnh ngày 25/05/1930, thực dân Pháp mới tổ chức Hội đồng luật sư ở Hà Nội và SàiGòn có sự tham gia của người Việt Nam
Khi Cách mạng tháng tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số:46/SL ngày 10/10/1945 tổ chức đoàn thể luật sư nhằm duy trì tổ chức luật sư cũ với một
số điểm sửa đổi cho thích hợp với tình hình mới Ngoài ra, Sắc lệnh số: 217/SL ngày22/01/1946 cho phép các thẩm phán đệ nhị cấp (tỉnh và khu) có bằng luật khoa cử nhânđược bổ nhiệm sau ngày 19/08/1945 có thể ra làm luật sư mà không phải tập sự tại mộtVăn phòng luật sư
Quyền bào chữa của bị can, bị cáo đã được ghi nhận ngay từ Sắc lệnh đầu tiên vềTòa án Theo Điều 5 của Sắc lệnh về Tòa án ngày 13/09/1945 thiết lập các Tòa án quân
sự quy định: “Bị cáo có thể tự bào chữa hay nhờ một người khác bênh vực cho mình”
Trang 12Quyền bào chữa của bị cáo là nguyên tắc dân chủ quan trọng trong tố tụng cịnđược thừa nhận và thể hiện trong Điều 67 Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp đầu tiên củanước Việt Nam Dân chủ Cộng hịa như sau: “Người bị cáo được quyền tự bào chữa lấyhoặc mượn luật sư”.
Do hồn cảnh kháng chiến nên trong thời gian này lực lượng luật sư rất ít, một sốluật sư đã tham gia cách mạng, một số thì chuyển sang hoạt ðộng ở lĩnh vực khác, hầu hếtcác Văn phịng luật sư đều ngưng hoạt động Nên để đảm bảo quyền bào chữa của bị can,
bị cáo, trong khi số lượng luật sư cịn rất ít, Sắc lệnh số: 69/SL ngày 18/06/1949 (Đã bịsửa đổi bởi sắc lệnh số: 144/SL ngày 22/12/1949) đã được ban hành nhằm chophép nguyên cáo, bị cáo và bị can cĩ thể nhờ một cơng dân khơng phải là luật sư bên vựccho mình Cơng dân đĩ phải được ơng Chánh án thừa nhận Người đứng ra bên vựckhơng được nhận tiền thù lao của bị can hoặc thân nhân bị can Để cụ thể hĩa Sắc lệnhsố: 69/SL ngày 18/06/1949, Bộ Tư pháp đã ban hành Nghị định số: 01/NĐ-VY ngày12/01/1950 ấn định điều kiện để làm bào chữa viên và phụ cấp của bào chữa viên
2 Tổ chức và hoạt động nghề nghiệp luật sư giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1980.
Hiến pháp năm 1959 đã thiết lập hệ thống Tịa án và Viện Kiểm sát, Bộ Tư phápkhơng cịn tồn tại, cơng tác hành chính tư pháp được giao cho Tịa án tối cao đảm nhiệm,trong đĩ cĩ cơng tác bào chữa Điều 101 của Hiến pháp 1959 quy định về quyền bàochữa của bị cáo
Năm 1963, Văn phịng luật sư thí điểm được thành lập lấy tên là Văn phịng luật
sư Hà Nội Sau khi tổ chức Văn phịng luật sư này, tình hình yêu cầu bào chữa và bảo vệquyền lợi hợp pháp của cơng dân trước tịa ngày càng tăng Lúc đầu chỉ nhận bào chữanhững vụ án do Tịa án yêu cầu, về sau các bị cáo, đương sự trực tiếp đến mời luật sư tạiVăn phịng luật sư Năm 1972, Uỷ ban pháp chế của Chính phủ được thành lập Năm
1974 Tịa án tối cao chuyển đổi Văn phịng luật sư sang Uỷ ban Pháp chế của Chính phủquản lý theo chức năng quy định tại Nghị định số: 190/CP ngày 09/10/1972
Trang 133 Tổ chức và hoạt động nghề nghiệp luật sư giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1992.
Sau khi có Nghị quyết của Quốc hội về việc thành lập lại Bộ Tư pháp, ngày22/11/1981 Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số: 143-HĐBT quy định chức năng,nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp Bộ Tư pháp có nhiệm vụ quản lý hoạt động hànhchính tư pháp, trong đó có hoạt động luật sư
Ngày 31/10/1983 Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số: 691/QLTPK hướng dẫn
về công tác bào chữa ở một số tỉnh thành lập Đoàn bào chữa viên nhân dân và Thông tưnày tồn tại cho đến khi Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm 1987 được ban hành Theo đó, cácthành phố Hà Nội, Hồ Chí Minh, Hải Phòng đã có tổ chức luật sư, bào chữa thì cũng cốlại về tổ chức, quản lý chặt chẽ hơn Còn ở các tỉnh khác nếu có điểu kiện và được Uỷban nhân dân tỉnh cho phép thì thành lập Đoàn bào chữa viên nhân dân Người làm côngtác bào chữa phải là công dân của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, có phẩmchất đạo đức cách mạng tốt, gương mẫu chấp hành đường lối chính sách của Đảng vàpháp luật của Nhà nước, có kiến thức pháp lý cần thiết
Đến cuối năm 1987 cả nước đã có 30 tỉnh, thành phố thành lập Đoàn bào chữaviên nhân dân, với gần 400 bào chữa viên
Hiến pháp 1946, năm 1959 và năm 1980 đều thể hiện nguyên tắc bảo đảm quyềnbảo chữa của bị can, bị cáo Nhưng Điều 133 của Hiến pháp 1980 còn quy định: “Tổchức luật sư được thành lập để giúp bị cáo và các đương sự khác về mặt pháp lý” Đâychính là cơ sở pháp lý cho việc xây dựng một văn bản về tổ chức luật sư ở Việt Nam saunày
Ngày 18/12/1987, Hội đồng Nhà nước (nay là Uỷ ban Thường vụ Quốc hội) đãthông qua Pháp lệnh Tổ chức luật sư Pháp lệnh này đã cụ thể hóa quy định của Hiếnpháp 1980 về chế định luật sư, tạo cơ sở cho việc hình thành và phát triển của đội ngũluật sư ở Việt Nam
Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành “Quy chế Đoàn luật sư” kèmtheo Nghị định số: 15/HĐBT ngày 21/02/1989 nhằm cụ thể hóa và hướng dẫn thi hànhPháp lệnh Tổ chức hoạt động luật sư
Trang 14Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số: 313/TT/LS ngày 15/04/1989 hướng dẫn thựchiện Quy chế Đoàn luật sư
Theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp, các Sở Tư pháp đã phối hợp chặt chẽ với Uỷ banMặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức tuyên truyền, hướng dẫnđiều kiện và giới thiệu người có đủ tiêu chuẩn gia nhập Đoàn luật sư, giúp Uỷ ban nhândân cấp tỉnh, thành phố chuẩn bị hồ sơ thành lập Đoàn luật sư Theo Điều 7 Pháp lệnh Tổchức Luật sư: sau khi thống nhất ý kiến với Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Uỷ ban nhân dân cấptỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ra quyết định cho phép thành lập Đoàn luật sư
Tại thời điểm ban hành Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm 1987, số người có bằng cửnhân luật rất ít, nhất là các tỉnh miền núi, nên Pháp lệnh quy định về trình độ pháp lý đốivới người muốn gia nhập Đoàn luật sư nếu không có bằng cử nhân luật thì phải có trình
độ tương đương đại học pháp lý, đồng thời cho phép cán bộ – công chức được kiêmnhiệm hành nghề luật sư Số lượng luật sư kiêm nhiệm ở các Đoàn luật sư lúc bấy giờchiếm khoảng 40% trong tổng số luật sư của cả nước Số luật sư chuyên trách thì đa phần
là cán bộ nghỉ hưu Đội ngũ luật sư cả nước có khoảng 186 luật sư vào năm 1989
Pháp lệnh Tổ chức Luật sư là văn bản pháp luật tương đối hoàn chỉnh quy định về
tổ chức và hoạt động luật sư Tuy nhiên, trong bối cảnh chính sách mở cửa, quan hệ vềpháp luật, tư pháp giữa nước ta với các nước trong khu vực và thế giới ngày càng pháttriển Nhà nước ta cho phép luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam Những quy địnhcủa Pháp lệnh Tổ chức luật sư 1987 lúc này không còn phù hợp với thực tiễn, làm chohoạt động luật sư không đáp ứng nhu cầu giúp đỡ pháp lý ngày càng cao của xã hội Nhất
là các quy định về điều kiện và thủ tục công nhận luật sư, hình thức hành nghề và quản lýđối với hoạt động luật sư Tình hình đó đặt ra yêu cầu cần nhanh chóng đưa chế định luật
sư của nước ta phù hợp với cơ chế thị trường
Cùng với việc cải cách tư pháp, việc cải cách tổ chức và hoạt động luật sư là cầnthiết, trong đó có việc sửa đổi Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm 1987 Việc sửa đổi Pháplệnh đặt ra trong bối cảnh Đảng và Nhà nước ta đang tiến hành công cuộc đổi mới và xâydựng Nhà nước pháp quyền Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Nghị quyết Hội nghịlần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (Khóa XIII) đã nêu rõ:
“Đổi mới quản lý nhà nước đối với hoạt động luật sư… phù hợp với chủ trương xã hộihóa, kết hợp quản lý Nhà nước với vai trò tự quản của các tổ chức nghề nghiệp Đào tạo
Trang 15và phát triển đội ngũ luật sư cĩ phẩm chất đạo đức, cĩ trình độ chuyên mơn, nghiệp vụ,phát huy vai trị của họ trong tư vấn pháp luật và trong tố tụng”
4 Tổ chức và hoạt động nghề nghiệp luật sư giai đoạn từ năm 1992 đến nay.
Pháp lệnh Luật sư năm 2001 đã được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thơng qua ngày25/07/2001 là một bước tiến quan trọng trong quá trình xây dựng và hồn thiện thể chếluật sư ở nước ta, đưa chế định luật sư của nước ta tiến lại gần với thơng lệ quốc tế Pháplệnh Luật sư năm 2001 khơng chỉ nâng cao vai trị của luật sư trong xã hội mà cịn đưaluật sư của nước ta lên ngang tầm với luật sư của các nước trong khu vực và trên thế giới,làm cho đội ngũ luật sư cả nước gia tăng đến ngày 30/09/2001 đã tăng lên 2.100 luật sư(năm 1989 chỉ cĩ 186 luật sư) Khẳng định luật sư là một nghề trong xã hội và mang tínhchuyên nghiệp cao, cụ thể là:
- Kết hợp quản lý Nhà nước với vai trị tự quản của tổ chức luật sư thể hiện từ việcquy định điều kiện hành nghề luật sư: Một người muốn hành nghề luật sư phải gia nhậpĐồn luật sư để tập sự hành nghề, sau khi đạt yêu cầu kỳ kiểm tra hết tập sự thì Đồn luật
sư đề nghị cơ quan Nhà nước (Bộ Tư pháp) cấp chứng chỉ hành nghề luật sư, thì mớiđược hành nghề (Điều 7, 8, 10, 13 Pháp lệnh Luật sư năm 2001)
- Tiêu chuẩn chuyên mơn: Người muốn được cơng nhận là luật sư thì sau khi tốtnghiệp đại học luật (khơng chấp nhận trình độ tương đương đại học luật như Pháp lệnh
Tổ chức luật sư năm 1987) cịn phải qua một khĩa đào tạo luật sư và một thời gian tập sự
là 24 tháng (khoản 1 Điều 8 Pháp lệnh Luật sư năm 2001)
- Chuyên nghiệp hĩa đội ngũ luật sư: Cán bộ, cơng chức khơng được hành nghềluật sư (quy định này phù hợp với tính chất của nghề luật sư, thơng lệ quốc tế và Pháplệnh về cán bộ, cơng chức)
- Phân định rõ tổ chức xã hội nghề nghiệp của luật sư và tổ chức hành nghề củaluật sư, tạo điều kiện cho các luật sư thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm tronghành nghề, tạo cơ sở pháp lý mở rộng mạng lưới dịch vụ của luật sư theo nhu cầu của xãhội, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý của Đồn luật sư
- Quy định các hình thức tổ chức hành nghề của luật sư: Luật sư được tự do thànhlập Văn phịng luật sư (một luật sư) hoặc Cơng ty luật hợp danh (nhiều luật sư) theo quyđịnh của pháp luật, tổ chức và tự chịu trách nhiệm về việc hành nghề của mình trong Văn
Trang 16phịng hoặc Cơng ty do mình thành lập, được hợp tác với tổ chức luật sư nước ngồi theocác hình thức do pháp luật quy định, được đặt cơ sở hành nghề ở nước ngồi (Điều 17,
18, 19 Pháp lệnh Luật sư năm 2001)
- Mở rộng đáng kể quyền của luật sư: Ngồi lĩnh vực tham gia tố tụng luật sư cịnđược tham gia lĩnh vực tư vấn pháp luật, tư vấn pháp luật trong lĩnh vực đầu tư, kinhdoanh
Tuy nhiên, khơng phải lúc nào luật sư cũng đáp ứng theo mọi yêu cầu của kháchhàng vì luật sư cịn cĩ nghĩa vụ tơn trọng sự thật, cơng lý, đạo đức con người Nghề luật
sư là nghề nghiệp chuyên mơn chứ khơng phải là nghề kinh doanh thuần tuý vì nĩ gắnvới số phận của con người Lịch sử hình thành nghề luật sư đã chứng minh, chính từ cuộcđấu tranh chống những áp bức, bất cơng trong lịng xã hội cĩ giai cấp, người luật sư đãđứng về phía người bị áp bức, bên vực quyền lợi cho họ trước tương quan khơng ngangbằng giữa quyền lực nhà nước và cá nhân Chính từ hành động nhằm chống lại những bấtcơng đĩ, hình ảnh người luật sư xuất hiện như một biểu tượng về lịng nghĩa hiệp, bênvực cơng lý … Vì vậy mà nghề luật sư cịn được tơn vinh là một nghề cao quý trong xãhội, Luật sư xuất hiện như một biểu tượng về lịng nghĩa hiệp, bên vực cơng lý … Chính
vì vậy mà Nghề luật sư cho đến nay vẫn còn được tôn vinh là một nghềcao quý trong xã hội hiện đại
Tổ chức và hoạt động Luật sư tại Việt Nam hiện nay được điều chỉnh bởi LuậtLuật sư ra đời năm 2006 và các văn bản liên quan, Luật Luật sư 2006 đã quy định nhữngtiêu chuẩn, điều kiện cụ thể về hành nghề luật sư và cách thức tổ chức hành nghề luật sư.Những chế định mới của Luật Luật sư 2006 về tổ chức và hoạt động luật sư đã cĩ nhữngbước tiến đáng kể so với các văn bản ban hành trước đây, Pháp lệnh Tổ chức luật sư 1987
và Pháp lệnh Luật sư 2001 và trong thời gian vừa qua Quốc hội khĩa XIII đã thơng quaLuật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật luật sư 2006; Luật sửa đổi, bổ sung mới này sẽchính thức cĩ hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2013, thực sự sẽ gĩp phầnthúc đẩy hoạt động Luật sư ngày một chuyên nghiệp, tổ chức chặt chẽ, trình độ chuyênmơn cao, đưa các dịch vụ pháp lý của Luật sư đến gần hơn với người dân, phù hợp vớitrình độ phát triển của xã hội hiện tại, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của mọi tầng lớptrong xã hội
Chương 3
Trang 17TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ Ở VIỆT NAM THEO LUẬT LUẬT SƯ 2006 VÀ THEO LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ
ĐIỀU NĂM 2012 (có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2013).
1 Tổ chức hành nghề luật sư (Mục 2 Chương III Luật Luật sư 2006).
Theo quy định tại Điều 23 Luật luật sư năm 2006 quy định luật sư được hành nghềtheo các hình thức sau:
1 Hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư được thực hiện bằng việc thành lập hoặc tham gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư; làm việc theo hợp đồng cho tổ chức hành nghề luật sư.
2 Hành nghề với tư cách cá nhân.
3 Luật sư được lựa chọn một trong hai hình thức hành nghề quy định tại khoản 1
và khoản 2 Điều này để hành nghề.
Như vậy, từ quy định trên cho thấy luật sư được hành nghề theo hai cách: Hànhnghề trong tổ chức hành nghề luật sư và hành nghề với tư cách cá nhân
1.1 Luật sư hành nghề trong tổ chức hành nghề Luật sư.
Luật Luật sư 2006 đã tiến một bước dài theo hướng đưa các tổ chức hành nghềluật sư xích lại gần với các loại hình doanh nghiệp Theo quy định của Luật Luật sư 2006thì tổ chức hành nghề luật sư bao gồm:
- Văn phòng luật sư là tổ chức hành nghề luật sư do một luật sư thành lập, được tổchức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân Luật sư thành lập Văn phòng luật
sư là Trưởng Văn phòng và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọinghĩa vụ của Văn phòng Trưởng Văn phòng là người đại diện theo pháp luật của Vănphòng;
- Công ty luật bao gồm Công ty luật hợp danh và Công ty luật trách nhiệm hữuhạn So với Pháp lệnh luật sư năm 2001, Luật Luật sư năm 2006 quy định thêm loại hìnhCông ty luật trách nhiệm hữu hạn Hơn nữa, để phù hợp với quy định của Luật Doanhnghiệp, Luật Luật sư năm 2006 còn quy định Công ty luật trách nhiệm hữu hạn có thể làCông ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên hoặc Công ty luật trách nhiệmhữu hạn một thành viên
Trang 18Luật Luật sư năm 2006 không phân biệt về phạm vi hành nghề giữa Văn phòngluật sư và Công ty luật, theo đó Văn phòng luật sư và Công ty luật đều được thực hiệncác dịch vụ pháp lý theo quy định tại Điều 4 của Luật Luật sư năm 2006
Việc cho phép luật sư được thành lập Công ty luật trách nhiệm hữu hạn để hànhnghề nhằm bảo đảm sự phù hợp giữa quy định của pháp luật về luật sư với pháp luật vềdoanh nghiệp Theo quy định của Luật Doanh nghiệp, thì kinh doanh dịch vụ pháp lý làmột ngành, nghề và cá nhân đáp ứng đủ điều kiện luật định được phép lựa chọn thành lậpcác loại hình doanh nghiệp để tiến hành hoạt động kinh doanh Các loại hình doanhnghiệp trong lĩnh vực dịch vụ pháp lý bao gồm Công ty hợp danh và Công ty trách nhiệmhữu hạn Hơn nữa, việc mở rộng hình thức tổ chức hành nghề luật sư cũng nhằm tạo điềukiện thuận lợi cho luật sư lựa chọn hình thức tổ chức hành nghề phù hợp với khả năngthực tế của mình
Để bảo đảm quyền lợi của khách hàng, Công ty luật có nghĩa vụ mua bảo hiểmtrách nhiệm nghề nghiệp cho luật sư của mình để bồi thường thiệt hại gây ra cho kháchhàng
Theo quy định của Luật Luật sư thì một luật sư chỉ được thành lập Văn phòng luật
sư, thành lập hoặc tham gia thành lập Công ty luật tại địa phương nơi có Đoàn luật sư màluật sư đó là thành viên Trong trường hợp luật sư ở các Đoàn luật sư khác nhau cùngtham gia thành lập một Công ty luật thì có thể lựa chọn thành lập và đăng ký hoạt độngtại địa phương nơi có Đoàn luật sư mà một trong các luật sư đó là thành viên
Văn phòng luật sư, Công ty luật có các quyền, nghĩa vụ theo quy định của LuậtLuật sư, Luật Doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan
Đối chiếu với các quy định về tổ chức hành nghề luật sư theo Luật Luật sư sửa đổi
bổ sung năm 2012 quy định đã có điểm mới về Điều kiện thành lập tổ chức hành nghề
luật sư, cụ thể:“luật sư thành lập hoặc tham gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư
phải có ít nhất hai năm hành nghề liên tục làm việc theo hợp đồng lao động cho tổ chức
hành nghề luật sư hoặc hành nghề với tư cách cá nhân theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức theo quy định của Luật này”.
Về việc Hợp nhất, sáp nhập và chuyển đổi hình thức tổ chức hành nghề luật sư:
Luật sửa đổi bổ sung năm 2012 cho phép chuyển đổi loại hình từ Văn phòng luật sư cóthể chuyển đổi thành công ty luật; Công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên đượcchuyển đổi thành công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và ngược lại;công ty luật trách nhiệm hữu hạn được chuyển đổi thành công ty luật hợp danh và ngượclại (Điều 45)
1.1.1 Người đại diện theo pháp luật của tổ chức hành nghề luật sư.
Người đại diện theo pháp luật của Văn phòng luật sư là Trưởng Văn phòng
Trưởng Văn phòng luật sư là luật sư thành lập Văn phòng luật sư ‘Luật sư thành lập tổ
Trang 19chức hành nghề luật sư phải có ít nhất hai năm hành nghề liên tục làm việc theo hợp đồng lao động cho tổ chức hành nghề luật sư hoặc hành nghề với tư cách cá nhân theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức theo quy định của Luật luật sư” (theo quy định
tại Khoản 3 Điều 32 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2012)
Người đại diện theo pháp luật của Công ty luật hợp danh, Công ty luật trách nhiệmhữu hạn hai thành viên trở lên là Giám đốc Công ty Giám đốc Công ty là một thành viênđược các thành viên khác của Công ty thoả thuận cử làm Giám đốc Việc thoả thuận cửGiám đốc Công ty phải được lập thành văn bản và có chữ ký của tất cả các thành viên củaCông ty
Người đại diện theo pháp luật của Công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thànhviên là Giám đốc Công ty Luật sư chủ sở hữu Công ty luật trách nhiệm hữu hạn mộtthành viên đương nhiên là Giám đốc Công ty
1.1.2 Trách nhiệm về tài sản của các tổ chức hành nghề luật sư.
Luật sư thành lập Văn phòng luật sư phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sảncủa mình về mọi nghĩa vụ của Văn phòng
Các luật sư thành lập Công ty luật hợp danh phải chịu trách nhiệm liên đới bằngtoàn bộ tài sản của mình về mọi nghĩa vụ của Công ty
Các luật sư thành viên của Công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lênchịu trách nhiệm về mọi nghĩa vụ của Công ty trong phạm vi tài sản góp vào Công ty
Luật sư thành lập Công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên chịu tráchnhiệm về mọi nghĩa vụ của Công ty trong phạm vi phần tài sản của Công ty
1.1.3 Tên gọi của tổ chức hành nghề luật sư.
Tên của Văn phòng luật sư do luật sư lựa chọn và theo quy định của Luật Doanhnghiệp nhưng phải bao gồm cụm từ “Văn phòng luật sư”, không được trùng hoặc gâynhầm lẫn với tên của tổ chức hành nghề luật sư khác đã được đăng ký hoạt động, khôngđược sử dụng từ ngữ, ký hiệu vi phạm truyền thống lịch sử, văn hoá, đạo đức và thuầnphong mỹ tục của dân tộc
Tên của Công ty luật hợp danh, Công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viêntrở lên do các thành viên thoả thuận lựa chọn, tên của Công ty luật trách nhiệm hữu hạnmột thành viên do chủ sở hữu lựa chọn và theo quy định của Luật Doanh nghiệp nhưngphải bao gồm cụm từ “Công ty luật hợp danh” hoặc “Công ty luật trách nhiệm hữu hạn”,không được trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên của tổ chức hành nghề luật sư khác đã đượcđăng ký hoạt động, không được sử dụng từ ngữ, ký hiệu vi phạm truyền thống lịch sử,văn hoá, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc
Trang 20Theo quy định tại Điều 10 của Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 8 năm
2006 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh thì tên phải viết được bằng tiếng Việt, có thểkèm theo chữ số và ký hiệu, phát âm được
Luật Doanh nghiệp còn quy định cấm đặt tên trong các trường hợp sau:
- Sử dụng tên của cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân, tên của
tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội để làm toàn bộ hoặc một phần tên riêng, trừtrường hợp có sự chấp thuận của cơ quan, đơn vị hoặc tổ chức đó;
- Sử dụng từ ngữ, ký hiệu vi phạm truyền thống lịch sử, văn hoá, đạo đức và thuầnphong mỹ tục của dân tộc, tên danh nhân để đặt tên riêng
- Sử dụng tên thương mại của tổ chức, cá nhân khác đã đăng ký bảo hộ để cấuthành tên riêng, trừ trường hợp được sự chấp thuận của chủ sở hữu tên thương mại đó
Về tên trùng và tên gây nhầm lẫn được hiểu như sau:
- Tên trùng là trường hợp tên của tổ chức hành nghề luật sư yêu cầu đăng ký đượcviết và đọc bằng tiếng Việt hoàn toàn giống với tên của tổ chức hành nghề luật sư đã đăngký
- Các trường hợp sau đây được coi là gây nhầm lẫn với tên của các doanh nghiệpkhác:
+ Tên bằng tiếng Việt của tổ chức hành nghề luật sư yêu cầu đăng ký được đọcgiống như tên tổ chức hành nghề luật sư đã đăng ký;
+ Tên bằng tiếng Việt của tổ chức hành nghề luật sư yêu cầu đăng ký chỉ khác têncủa tổ chức hành nghề luật sư đã đăng ký bởi ký hiệu "&"; ký hiệu "-" ; chữ "và";
+ Tên viết tắt của tổ chức hành nghề luật sư yêu cầu đăng ký trùng với tên viết tắtcủa tổ chức hành nghề luật sư khác đã đăng ký;
+ Tên bằng tiếng nước ngoài của tổ chức hành nghề luật sư yêu cầu đăng ký trùngvới tên bằng tiếng nước ngoài của tổ chức hành nghề luật sư khác đã đăng ký;
+ Tên riêng của tổ chức hành nghề luật sư yêu cầu đăng ký khác với tên riêng của
tổ chức hành nghề luật sư đã đăng ký bởi một hoặc một số các số tự nhiên, số thứ tự hoặcmột hoặc một số chữ cái tiếng Việt (A, B, C, ) ngay sau tên riêng của tổ chức hành nghềluật sư;
+ Tên riêng của tổ chức hành nghề luật sư yêu cầu đăng ký khác với tên riêng của
tổ chức hành nghề luật sư đã đăng ký bởi từ "tân" ngay trước, hoặc “mới" ngay sau tên của
tổ chức hành nghề luật sư đã đăng ký;
Trang 21+ Tên riêng của tổ chức hành nghề luật sư yêu cầu đăng ký chỉ khác tên riêng của tổchức hành nghề luật sư đã đăng ký bởi các từ "miền Bắc", "miền Nam", "miền Trung",
"miền Tây", "miền Đông" hoặc các từ có ý nghĩa tương tự;
+ Tên riêng của tổ chức hành nghề luật sư yêu cầu đăng ký trùng với tên riêng của
tổ chức hành nghề luật sư đã đăng ký
Khi tiếp nhận hồ sơ đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư, Sở Tư phápcần rà soát, kiểm tra về tên của tổ chức hành nghề luật sư đã đăng ký trong phạm vi toànquốc để tránh tình trạng trùng lặp hoặc gây nhầm lần về tên của các tổ chức hành nghềluật sư Việc rà soát, kiểm tra tên của tổ chức hành nghề luật sư được thực hiện thông qua
Vụ Bổ trợ tư pháp, Bộ Tư pháp
1.1.4 Nơi đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư.
Văn phòng luật sư, Công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên đăng ký hoạtđộng tại Sở Tư pháp ở địa phương nơi có Đoàn luật sư mà Trưởng Văn phòng luật sưhoặc Giám đốc Công ty luật là thành viên
Công ty luật hợp danh và Công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên
mà các thành viên của công ty đều là thành viên của một Đoàn luật sư thì đăng ký hoạtđộng tại Sở Tư pháp ở địa phương nơi có Đoàn luật sư đó
Công ty luật hợp danh và Công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên
mà các thành viên là thành viên của các Đoàn luật sư khác nhau thì đăng ký hoạt động tại
Sở Tư pháp ở địa phương nơi có trụ sở của công ty
1.1.5 Hồ sơ đăng ký hoạt động.
Hồ sơ đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư gồm có:
- Giấy đề nghị đăng ký hoạt động theo các mẫu số ban hành kèm theo Thông tư số02/2007/TT-BTP;
- Dự thảo Điều lệ của Công ty luật;
Dự thảo Điều lệ Công ty luật phải có đầy đủ chữ ký của các thành viên hợp danhđối với Công ty luật hợp danh, của chủ sở hữu đối với Công ty luật trách nhiệm hữu hạnmột thành viên, của các thành viên đối với Công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thànhviên trở lên
- Bản sao Chứng chỉ hành nghề luật sư, bản sao Thẻ luật sư của luật sư thành lậpVăn phòng luật sư, thành lập hoặc tham gia thành lập Công ty luật;
- Giấy tờ chứng minh về trụ sở của tổ chức hành nghề luật sư
Trong trường hợp luật sư dùng nhà riêng của mình làm trụ sở thì giấy tờ chứngminh về trụ sở là Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà hoặc Giấy chứng nhận quyền sử
Trang 22dụng đất hoặc sổ hộ khẩu kèm theo giấy đồng ý của tất cả các thành viên trong gia đình
về việc sử dụng một phần hoặc toàn bộ diện tích nhà để làm trụ sở của tổ chức hành nghềluật sư
Trong trường hợp tổ chức hành nghề luật sư phải đi thuê nhà làm trụ sở thì giấy tờchứng minh về trụ sở là hợp đồng thuê nhà có xác nhận của chính quyền địa phương vềviệc người cho thuê nhà là chủ sở hữu thực sự và ngôi nhà không có tranh chấp
1.1.6 Lệ phí đăng ký hoạt động, lệ phí thay đổi nội dung đăng ký hoạt động, lệ phí cung cấp thông tin về nội dung đăng ký hoạt động.
a) Văn phòng luật sư, Công ty luật phải nộp lệ phí đăng ký hoạt động theo mức lệphí đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp, cụ thể như sau:
- Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh: 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng)
1 lần cấp;
- Công ty luật trách nhiệm hữu hạn: 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) 1 lần cấp;b) Chứng nhận đăng ký thay đổi nội dung đăng ký hoạt động: 20.000 (hai mươi nghìn) đồng 1 lần thay đổi;
c) Cấp bản sao giấy chứng nhận đăng ký hoạt động, giấy chứng nhận thay đổi đăng ký hoạt động hoặc bản trích lục nội dung đăng ký hoạt động; 2.000 (hai nghìn) đồng
1 bản
(Điều 2 Quyết định số 83/2000/QĐ/BTC ngày 29 tháng 5 năm 2000 của Bộtrưởng Bộ Tài chính ban hành mức thu lệ phí cấp giấy phép chứng nhận đăng ký kinhdoanh và công văn số 4957/BKH-PTDN ngày 04/7/2006 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư vềviệc thực hiện Luật Doanh nghiệp năm 2005)
d) Lệ phí cung cấp thông tin về nội dung đăng ký hoạt động: 10.000 (mười nghìn)đồng 1 lần cung cấp Riêng việc cung cấp thông tin về nội dung đăng ký hoạt động chocác cơ quan quản lý nhà nước mức lệ phí: 0 đồng
1.1.7 Lệ phí đăng ký hoạt động của Chi nhánh, Văn phòng đại diện của tổ chức hành nghề luật sư.
Văn phòng luật sư, Công ty luật phải nộp lệ phí đăng ký hoạt động theo mức lệ phíđăng ký kinh doanh của doanh nghiệp
Lệ phí đăng ký hoạt động của chi nhánh hoặc văn phòng đại diện của doanhnghiệp: 20.000 (hai mươi nghìn) đồng/1 lần (chứng nhận hoặc thay đổi)
(Quyết định số 95/2001/QĐ-BTC ngày 01 tháng 10 năm 2001 của Bộ trưởng BộTài chính về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 83/2000/QĐ-BTC Ngày 29/5/2000 của
Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành mức thu lệ phí cấp giấy chứng nhận đăng ký kinhdoanh)