1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích nội dung cơ bản của luật thuế bảo vệ môi trường – thực tiễn áp dụng và đề xuất pháp lý của nhóm thông qua một vụ việc cụ thể

13 265 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 217,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trong các văn bản luật có liên quan và tài liệu xung quanh việc soạn thảo, giới thiệu về thuế bảo vệ môi trường lại đề cập đến vấn đề này khá chi tiết Điều 2, Điều 4 Luật thuế

Trang 1

A LỜI NÓI ĐẦU

Ở Việt nam, trong những năm gần đây, quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa và phát triển đô thị được đẩy mạnh làm cho lượng nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt, số lượng chất thải rắn trong sinh hoạt và trong công nghiệp, các chất gây ô nhiễm không khí từ cả quá trình sản xuất công nghiệp và sử dụng các sản phẩm gây ô nhiễm ngày càng gia tăng Do đó, vấn đề bảo vệ môi trường và hạn chế ô nhiễm môi trường luôn được Đảng và Nhà nước ta xác định là mục tiêu quan trọng, là nhiệm vụ của toàn

xã hội Vì vậy việc tìm hiểu đề tài “Phân tích nội dung cơ bản của Luật thuế bảo vệ môi

trường – thực tiễn áp dụng và đề xuất pháp lý của nhóm thông qua một vụ việc cụ thể”

của nhóm em là điều cần thiết

B NỘI DUNG

I MỘT SÔ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG:

1 Khái niệm, đặc điểm thuế bảo vệ môi trường:

1.1 Khái niệm:

Ở Việt nam hiện nay thuế môi trường có tên gọi là thuế bảo vệ môi trường Thuế

môi trường có thể được hiểu theo các cách khác nhau phụ thuộc vào phạm vi tiếp cận

Cụ thể, khái niệm thuế môi trường được tiếp cận dưới hai góc độ:

Theo nghĩa rộng, thuế môi trường là toàn bộ các khoản thuế mà chủ thể phải nôp

liên quan đến việc tác động đến môi trường thoog qua hành vi của mình

Theo nghĩa hẹp, thuế môi trường được hiểu là loại thuế riêng biệt, được cơ quan

quyền lực nhà nước ban hành dưới hình thức luật hoặc pháp lệnh, điều chỉnh quan hệ về thuế giữa nhà nước và các chủ thể có hành vi tác động tiêu cực đến môi trường

Pháp luật Việt Nam đưa ra định nghĩa về thuế bảo vệ môi trường tại khoản 1 Điều

2 Luật bảo vệ môi trường năm 2010: “Thuế bảo vệ môi trường là loại thuế gián thu, thu

vào sản phẩm, hàng hóa (sau đây gọi chung là hàng hóa) khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trường”

 Đây là loại thuế riêng biệt, được Quốc Hội ban hành dưới hình thức luật, điều chỉnh quan hệ thuế giữa nhà nước và các chủ thể có hành vi tác động tiêu cực đến môi trường Thuế bảo vệ môi trường được đánh vào các sản phẩm gây tác động xấu đến môi trường, thực hiện theo nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền và áp dụng với hai mục tiêu chính: tạo nguồn thu, tăng ngân sách nhà nước và thay đổi hành vi của con người theo hướng có lợi cho môi trường

1.2 Đặc điểm:

Thuế bảo vệ môi trường có những đặc điểm chung của thuế như: là khoản thu bắt buộc nộp vào ngân sách nhà nước, gắn với yếu tố quyền lực và không mang tính đối giá, không hoàn trả trực tiếp

Ngoài ra còn có các đặc điểm riêng:

Thứ nhất, là loại thuế gián thu Tức là đối tượng nộp thuế và đối tượng gánh chịu

thuế không đồng thời là một, ở đây có sự chuyển dịch số tiền phải nộp từ người có nghĩa

Trang 2

vụ nộp thuế sang người sử dụng hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế thông qua cộng vào giá cả hàng hóa, dịch vụ

Thứ hai, diện đánh thuế của thuế bảo vệ môi trường hẹp Thuế này chỉ đánh vào

một số hàng hóa, dịch vụ khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trường

Thứ ba, không chỉ là một sắc thuế mà còn là một trong những công cụ kinh tế để

quản lí và bảo vệ môi trường

2 Vai trò của thuế bảo vệ môi trường:

Thứ nhất, thuế bảo vệ môi trường góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường và và

nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của toàn xã hội

Thuế bảo vệ môi trường có khả năng tác động vào hành vi tiêu dùng, ý thức của người dân, thông qua đó, phần nào nâng cao trách nhiệm bảo vệ môi trường của các

thành viên trong xã hội Thông qua thuế bảo vệ môi trường để đánh trực tiếp vào lợi ích kinh tế của người tiêu dung theo hướng thân thiện hơn với môi trường, giúp họ có thể nhận thức được tác hại cũng như lựa chọn các sản phẩm không gây hại

Thuế bảo vệ môi trường khuyến khích sản xuất hàng hóa thân thiện với môi trường, thúc đẩy đổi mới, cải cách công nghệ Thông qua sắc thuế này, các hàng hóa

gây hại cho môi trường càng nhiều sẽ phải chịu thuế càng cao, điều này làm tăng giá sản phẩm, tác động phần nào thói quen, lựa chọn người tiêu dung Do đó, khuyến khích sản xuất hàng hóa thân thiện với môi trường, thúc đẩy đổi mới, cải cách công nghệ

Thứ hai, thuế bảo vệ môi trường là một trong những nguồn thu tạo nguồn tài chính

cho nhà nước Mặc dù việc đặt ra thuế bảo vệ môi trường mục đích chính không phải để thu tiền của dân nhưng không thể phủ nhận việc thu thuế tạo ra nguồn thu cho ngân sách nhà nước

II NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG:

1 Đối tượng chịu thuế:

1.1 Nguyên tắc xác định đối tượng chịu thuế:

Luật thuế bảo vệ môi trường không quy định rõ ràng chỉ định nguyên tắc trong việc xác định đối tượng nào chịu thuế bảo vệ môi trường Tuy nhiên, trong các văn bản luật

có liên quan và tài liệu xung quanh việc soạn thảo, giới thiệu về thuế bảo vệ môi trường lại đề cập đến vấn đề này khá chi tiết (Điều 2, Điều 4 Luật thuế bảo vệ môi trường): Phải là những hàng hóa được sản xuất, nhập khẩu mà khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trường Phải phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia và với thông

lệ quốc tế Phải đảm bảo tính khả thi, xác định rõ loại hàng hóa để quản lí thu thuế được hiệu quả, phải tính đến sự hài hòa với phát triển kinh tế, không tác động đến năng lực cạnh tranh của hàng Việt Nam, đặc biệt là hàng hóa xuất khẩu

1.2 Những mặt hàng thuộc đối tượng chịu thuế:

Thuế bảo vệ môi trường quy định 8 sản phẩm thuộc đối tượng chịu thuế tại khoản 8 Điều 3 và quy định mở tại khoản 9 điều này, cụ thể:

2

Trang 3

Thứ nhất, xăng, dầu, mỡ nhờn bao gồm: xăng trừ etanol; nhiên liệu bay; dầu diesel,

dầu hỏa; dầu mazut; dầu nhờn; mỡ nhờn

Đây là các sản phẩm có chứa một số chất hóa học như chì, lưu huỳnh, benzene, cadmin, bari có tác hại lớn đối với môi trường cũng như sức khỏe con người Ngay cả khi chưa sử dụng, các chất chứa trong các loại xăng dầu đã phát thải ra môi trường và gây ảnh hưởng xấu đến môi trường Xăng dầu có phạm vi sử dụng rộng, ước tính đến 15 triệu tấn/năm nên nguy cơ ô nhiễm môi trường cũng diễn ra trên diện rộng Theo quy định tại nghị định số 67/2011/NĐ-CP và Thông tư 152/2011/BTC thì xăng dầu, mỡ nhờn tại khoản 1 Điều 3 Luật thuế bảo vệ môi trường là các loại xăng dầu, mỡ nhờn gốc hóa thạch xuất bán tại Việt Nam, không bao gồm chế phẩm sinh học Đối với nhiên liệu hỗn hợp chứa nhiên liệu sinh học và xăng dầu hóa thạch gốc thì chỉ tính thu thuế xăng dầu hóa thạch gốc

Thứ hai, than đá (than nâu, than antraxit, than mỡ, than đá khác) Than được sử

dụng cho mục đích đốt cháy sẽ thải ra môi trường các loại khí độc hại, gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người cũng như bầu khí quyển Việc đưa than vào đối tượng chịu thuế nhằm mục đích khuyến khích sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, giảm sự phụ thuộc vào năng lựơng có nguồn gốc hóa thạch vốn có hạn trong tự nhiên, khuyến khích

sử dụng năng lựơng tái tạo

Thứ ba, dung dịch hydro-chloro-fluoro-carbon (dung dịch HCFC).Việc đưa hóa

chất này vào làm đối tượng chịu thuế có vai trò thực hiện cam kết Việt Nam đã kí nghị định thư Montreal về hạn chế sử dụng các chất làm suy giảm tầng ozon và khuyến khích doanh nghiệp giảm dần sử dụng HCFC bằng việc chuyển đổi công nghệ sản xuất

Thứ tư, túi nilon thuộc diện chịu thuế: theo quy định, túi nilon thuộc diện chịu thuế

là túi nhựa xốp Sản phẩm này được coi là “hung thần của môi trường” Việc đưa túi nhựa xốp vào đối tượng chịu thuế nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của toàn xã hội, từ đó góp phần thay đổi hành vi của người tiêu dùng trong việc sử dụng túi nhựa xốp, khuyến khích sử dụng sản xuất các sản phẩm thay thế thân thiện hơn với môi trường

Thứ năm, đối với thuốc diệt cỏ thuộc loại hạn chế sử dụng, thuốc trừ mối thuộc loại

hạn chế sử dụng, thuốc bảo quản lâm sản thuộc loại hạn chế sử dụng, thuốc khử trùng kho thuộc loại hạn chế sử dụng được quy định tại khoản 5, 6, 7 và khoản 8 Điều 3 Luật Thuế bảo vệ môi trường

Đây là những chất độc có nguồn gốc từ tự nhiên hoặc tổng hợp từ các chất hóa học được dùng để phòng trừ dịch hại trên cây trồng và bảo quản nông sản Hiện nay, việc sử dụng đúng cách, đúng liều lượng thuốc bảo vệ thực vật chưa được quan tâm Việc đưa hóa chất này vào đối tượng chịu thuế nhằm nâng cao nhận thức của người sử dụng, khuyến khích họ thay đổi thói quen sử dụng lạm dụng, giảm thiểu những tác hại xấu của hóa chất bảo vệ thực vật đối với môi trường

Trang 4

Bên cạnh đó,trong trường hợp xét thấy cần thiết phải bổ sung đối tượng chịu thuế

khác cho phù hợp với từng thời kỳ thì Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, quy định

Ngoài ra, về đối tượng không chịu thuế bảo vệ môi trường được quy định cụ thể tại

Điều 4 Luật bảo vệ môi trường năm 2010, bao gồm:

- Hàng hóa không quy định tại Điều 3 thì không thuộc đối tượng chịu thuế bảo vệ môi trường

- Hàng hóa quy định tại Điều 3 nhưng không chịu thuế bảo vệ môi trường trong các trường hợp sau:

Hàng hóa vận chuyển quá cảnh hoặc chuyển khẩu qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam theo quy định của pháp luật, bao gồm hàng hóa được vận chuyển từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu qua cửa khẩu Việt Nam nhưng không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam; hàng hóa quá cảnh qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam trên cơ sở Hiệp định ký kết giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ nước ngoài hoặc thỏa thuận giữa cơ quan, người đại diện được Chính phủ Việt Nam và Chính phủ nước ngoài ủy quyền theo quy định của pháp luật;

Hàng hóa tạm nhập khẩu, tái xuất khẩu trong thời hạn theo quy định của pháp luật; Hàng hóa do cơ sở sản xuất trực tiếp xuất khẩu hoặc ủy thác cho cơ sở kinh doanh xuất khẩu để xuất khẩu, trừ trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân mua hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế bảo vệ môi trường để xuất khẩu

2 Chủ thể nộp thuế:

Người nộp thuế: Luật thuế bảo vệ môi trường xác định người nộp thuế là tổ chức

hộ gia đình, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế quy định tại Điều 3 Luật bảo vệ môi trường

Ngoài ra, trong một số trường hợp cụ thể người nộp thuế được quy định là:

Trường hợp ủy thác nhập khẩu hàng hóa thì người nhận ủy thác nhập khẩu là người nộp thuế;

Tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sản xuất, nhận gia cộng đồng thời nhận ủy thác bán hàng hóa vào thị trường Việt Nam là người nộp thuế bảo vệ môi trường Trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nhận gia công nhưng là người nộp thuế bảo vệ môi trường khi xuất, bán hàng hóa tại hàng hóa tại Việt Nam;

Trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân làm đầu mối thu mua than khai thác nhỏ, lẻ mà không xuất trình được chứng từ chứng minh hàng hóa đã được nộp thuế bảo

vệ môi trường thì tổ chức, hộ gia đình, cá nhân làm đầu mối thu mua là người nộp thuế

Người gánh chịu thuế: Thuế bảo vệ môi trường là thuế gián thu nên người nộp thuế

và người gánh chịu thuế khác nhau Cụ thể số thuế trên sẽ được chuyển hóa vào giá bán của hàng hóa, người trực tiếp gánh chịu thuế là người tiêu dùng Việc đánh thuế vào một

số mặt hàng có hại cho môi trường có thể định hướng được sự lựa chọn của người tiêu dùng chuyển sang các hàng hóa thân thiện hơn với môi trường hoặc sử dụng tiết kiệm

4

Trang 5

hơn loại trừ dần các sản phẩm gây ô nhiễm cho môi trường trong thói quen sử dụng hàng ngày

3 Căn cứ tính thuế:

Căn cứ tính thuế bảo vệ môi trường được quy định cụ thể tại Điều 6 Luật thuế bảo

vệ môi trường Cụ thể gồm số lượng hàng hóa tính thuế và mức thuế tuyệt đối

Số lượng hàng hóa tính thuế:

Đối với hàng hóa sản xuất trong nước thì số lượng hàng hóa tính thuế là số lượng hàng hóa sản xuất bán ra, trao đổi, tiêu dùng nội bộ, tặng cho, khuyến mại, quảng cáo Đối với hàng hóa nhập khẩu, số lượng hàng hóa tính thuế là số lượng hàng hóa nhập khẩu tức là nhập khẩu bao nhiêu sẽ tính thuế bằng đó

Đối với trường hợp hàng hóa chịu thuế bảo vệ môi trường xuất, bán và nhập khẩu tính bằng đơ vị đo lường khác đơn vị quy định tính thuế tại biểu mức thuế bảo vệ môi trường do Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành thì phải quy đổi ra đơn vị đo lường quy định tại biểu mức thuế Bảo vệ môi trường để tính thuế

Đối với hàng hóa là nhiên liệu hỗn hợp chưa xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hóa thạch và nhiên liệu sinh học thì số lượng hàng hóa tính thuế trong kì là số lượng xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hóa thạc có trong số lượng nhiên liệu hỗn hợp nhập khẩu hoặc sản xuất bán ra, trao đổi, tặng cho, đưa vào tiêu dùng nội bộ được quy đổi ra đơn vị đo lường quy định tính thuế của hàng hóa tương ứng Cách xác đinh được quy định như sau:

Số lượng xăng, dầu,

mỡ nhờn gốc hoá

thạch tính thuế

= Số lượng nhiên liệu hỗn hợp nhập khẩu, sản xuất bán ra, tiêu dùng, trao đổi, tặng cho

x Tỷ lệ phần trăm (%) xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hoá thạch có trong nhiên liệu hỗn hợp Căn cứ tiêu chuẩn kỹ thuật chế biến nhiên liệu hỗn hợp được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt (kể cả trường hợp có thay đổi tỷ lệ phần trăm (%) xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hoá thạch có trong nhiên liệu hỗn hợp), người nộp thuế tự tính toán, kê khai, nộp thuế bảo vệ môi trường đối với số lượng xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hoá thạch; Đồng thời

có trách nhiệm thông báo với cơ quan thuế về tỷ lệ phần trăm (%) xăng, dầu, mỡ nhờn

có gốc hoá thạch chứa trong nhiên liệu hỗn hợp và nộp cùng với tờ khai thuế của tháng tiếp theo tháng bắt đầu có bán (hoặc có thay đổi tỷ lệ) nhiên liệu hỗn hợp

- Mức thuế tuyệt đối: Khác với các sắc thuế trong hệ thống thuế hiện hành như thuế

giá trị giá tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, có mức thuế suất được thiết lập theo tỷ lệ phần trăm, thuế suất trong thuế bảo vệ môi trường được quy định theo mức thuế tuyệt đối bằng số tiền trên đơn vị hàng hóa Được quy định theo kiểu khung thuế tại Điều 8 của Luật, tùy từng mặt hàng Trong từng giai đoạn cụ thể khác nhau, Uỷ ban thường vụ Quốc hội căn cứ vào biểu thuế quy định mức cụ thể đối với từng loại hàng hóa chịu thuế bảo đảm các nguyên tắc: Mức thuế đối với hàng hóa chịu thuế phù hợp với chính sách phát triển kinh tế xã hội của nhà nước trong thời kì Mức thuế đối với hàng hóa chịu

Trang 6

thuế được xác định theo mức độ gây tác động xấu đến môi trường của hàng hóa (khoản

2 Điều 8)

4 Phương pháp tính thuế:

Phương pháp tính thuế bảo vệ môi trường được quy định tại Điều 7 Luật thuế bảo

vệ môi trường “ Phương pháp tính thuế: Số thuế bảo vệ môi trường phải nộp bằng số

lượng đơn vị hàng hóa chịu thuế nhân với mức thuế tuyệt đối quy định trên một đơn vị hàng hóa.”

Như vậy, số thuế bảo vệ môi trường phải nộp bằng tích số lượng hàng hóa chịu thuế và mức thuế tuyệt đối quy định trên một đơn vị hàng hóa Cụ thể theo công thức sau:

Số thuế bảo vệ môi trường = số lượng đơn vị hàng hóa chịu thuế x mức thuế tuyệt đối quy định trên một đơn vị hàng hóa

5 Quản lí thuế:

Vấn đề khai thuế, tính thuế, nộp thuế được quy định tại Điều 9, Điều 10 Chương III

Luật thuế bảo vệ môi trường Cụ thể:

- Thời điểm tính thuế trong các trường hợp khác nhau được xác định khác nhau Đối với hàng hóa sản xuất bán ra, trao đổi, tặng cho, thời điểm tính thuế là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hàng hóa

Đối với hàng hóa sản xuất được đưa vào tiêu dung nội bộ, thời điểm tính thuế là thời điểm đưa hàng hóa vào sử dụng

Đối với hàng hóa nhập khẩu, thời điểm tính thuế là thời điểm đăng kí tờ khai hải quan

Đối với xăng dầu sản xuất hoặc nhập khẩu để bán, thời điểm tính thuế là thời điểm đầu mối kinh doanh xăng dầu bán ra

- Khai thuế, tính thuế, nộp thuế: được thực hiện theo luật thuế bảo vệ môi trường, luật quản lí thuế hiện hành và các văn bản hướng dẫn thi hành

- Quản lí thuế bảo vệ môi trường trong một số trường hợp cụ thể:

+ Đối với xăng dầu: Các công ty kinh doanh xăng dầu đầu mối, tổ chức khác trực tiếp nhập khẩu, sản xuất, chế biến xăng dầu thực hiện đăng kí, kê khai, nộp thuế bảo vệ môi trường vào ngân sách nhà nước tại cơ quan thuế địa phương nơi kê khai nộp thuế giá trị gia tăng

+ Đối với than:

Đối với than khai thác sử dụng nội địa: Pháp luật quy định một số sự khác biệt về quản lí thuế trong kê khai và nộp thuế bảo vệ môi trường trong các trường hợp: than do tập đoàn công nghiệp than - khoáng sản Việt Nam( Vinacomin) quản lí và giao cho đơn

vị thành viên khai thác, chế biến và tiêu thụ việc ke ekhai, nộp thuế được thực hiện với

sự hoạt động của công ty làm đầu mối tiêu thụ: phân bổ số thuế, kê khai và nộp thuế, lập chứng từ nộp thuế nơi địa phương đóng trụ sở chính và các nơi có than khai thác

6

Trang 7

Đối với than nhập khẩu: người nộp thuế kê khai theo quy định đối với hàng hóa nhập khẩu khác

III THỰC TIỄN ÁP DỤNG LUẬT THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG, VỤ VIỆC CỤ THỂ VÀ ĐỀ XUẤT PHÁP LÝ CỦA NHÓM:

1 Thực tiễn áp dụng Luật thuế bảo vệ môi trường:

1.1 Đánh giá tổng quan về pháp luật thuế bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay:

Điểm tích cực:

Về quy định phạm vi các mặt hàng thuộc đối tượng chịu thuế: nhìn một cách tổng quát có thể thấy các mặt hàng thuộc diện chịu thuế đều là sản phẩm có khả năng gây hại

đủ lớn đối với môi trường và “đủ điều kiện” gánh chịu thuế bảo vệ môi trường Đồng thời việc quy định mở tại khoản 9 nhằm tạo ra cơ sở pháp lí kịp thời đáp ứng nhu cầu bổ sung các mặt hang chịu thuế là cần thiết Tuy nhiên về con số là 8 mặt hàng thì vẫn còn nhiều ý kiến còn chưa thực sự tán thành trong quá trình thảo luận để thông qua sắc thuế này

Về quy định căn cứ tính thuế:

- Quy định thuế suất tuyệt đối: có thể thấy hệ thống thuế hiện hành với các sắc thuế như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt đều sử dụng thuế suất theo tỷ lệ phần trăm là chủ yếu Điều này xuất phát từ đặc trưng của các loại thuế này là mang tính điều tiết nhằm tạo ra nguồn thu cho ngân sách nhà nước Còn đối với thuế bảo vệ môi trường, mục đích tạo nguồn thu cho ngân sách không phải là mục đích chính của việc đặt ra sắc thuế này.Chính vì vậy, việc sử dụng thuế suất tuyệt đối thực sự phù hợp với sắc thuế này Cụ thể: mục tiêu ban hành luật thuế này là nhằm hướng tới điều chỉnh hành vi, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, không đặt quá cao mục đích thu ngân sách Do đó

ưu điểm của thuế suất tuyệt đối trong trường hợp áp dụng vào đây sẽ không phát huy tối

đa Mức thuế được xác định theo khung, nên trong tường hợp cần thiết vẫn có thể điều chỉnh linh hoạt để phù hợp thực tế Đồng thời, áp dụng thuế suất tuyệt đối có thể tận dụng được ưu điểm của dạng này là đơn giản, minh bạch trong thực hiện, bảo đảm ổn định nguồn thu cho ngân sách nhà nước để chủ động trong kế hoạch bảo vệ môi trường

Một số bất cập của pháp luật thuế bảo vệ môi trường:

Bảo vệ môi trường luôn là một trong những chủ trương, chính sách lớn của Đảng

và Nhà nước ta Thực tế, thuế bảo vệ môi trường được xác định là loại thuế gián thu, thu vào sản phẩm hàng hóa khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trường Điều 3 Luật thuế bảo vệ môi trường quy định 8 nhóm sản phẩm hàng hóa hiện nay đang chịu sự điều chỉnh của Luật Thuế Bảo vệ môi trường Đó là xăng, dầu, mỡ nhờn; than đá; dung dịch hydro-chloro-fluoro-carbon (HCFC); túi ni lông thuộc diện chịu thuế; thuốc diệt cỏ thuộc loại hạn chế sử dụng; thuốc trừ mối thuộc loại hạn chế sử dụng; thuốc bảo quản lâm sản thuộc loại hạn chế sử dụng; thuốc khử trùng kho thuộc loại hạn chế sử dụng Tuy nhiên, trên thực tế, có nhiều sản phẩm, hàng hóa mà việc sử dụng có khả năng gây

Trang 8

ô nhiễm môi trường nhưng lại chưa được đưa vào diện điều chỉnh của Luật Thuế Bảo vệ môi trường, ví dụ như các chất tẩy rửa trong công nghiệp, thuốc lá, chất thải phóng xạ Không nhiều hàng hóa được đưa vào danh mục chịu thuế bảo vệ môi trường là một trong những lý do khiến cho thuế Bảo vệ môi trường, mặc dù là thuế gián thu nhưng lại

ít được đông đảo người tiêu dùng quan tâm, cũng như số thu thuế bảo vệ môi trường còn khá khiêm tốn Không chỉ hạn chế ở phạm vi đối tượng chịu thuế, ngay trong quy định hiện hành của Luật thuế bảo vệ môi trường về một số hàng hóa thuộc diện chịu thuế cũng đang có những tranh luận

Mức thuế mà luật quy định một số mặt hàng còn chưa phù hợp Cụ thể là mức thuế đối với thuốc bảo vệ thực vật Đánh thuế đối với thuốc bảo vệ thực vật sẽ gây tác động đến sản xuất nông nhiệp của người nông dân Nên luật thuế bảo vệ môi trường chỉ quy định một số lượng nhỏ thuốc bảo vệ thực vật phải chịu thuế cũng như mức thuế khá thấp Tuy nhiên, quy định này vì thế cũng làm hạn chế đi rất nhiều mục đích bảo vệ môi trường đối với việc áp dụng thuế bảo vệ môi trường cho nhóm sản phẩm này Thực tế cũng cho thấy mức thuế đối với thuốc bảo vệ thực vật rất thấp, ảnh hưởng rất nhỏ đến hoạt động sản xuất, kinh doanh nông nghiệp Chính vì thế khả năng tác động lên ý thức người dân cũng như khả năng bảo vệ môi trường của quy định trên rất hạn chế Đặc biệt

là trong tình hình hiện nay, khi mà người nông dân vì lợi nhuận đã lạm dụng thuốc bảo

vệ thực vật gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người

Đối với mặt hàng xăng, thuế suất thuế bảo vệ môi trường được áp dụng chung cho tất cả các loại xăng, chỉ trừ etanol là chưa hợp lý Trên thế giới các nước thường phân loại xăng dựa vào mức độ ô nhiễm khác nhau Ví dụ: Đức căn cứ vào hàm lượng lưu huỳnh có trong xăng để định thuế suất: Đối với xăng có hàm lượng lưu huỳnh trên 10mg/kg mức thuế suất là 669,80 Euro/lit; xăng có hàm lượng lưu huỳnh dưới 10 mg/kg mức thuế suất là 654,90 Euro/lit Hay Singapore căn cứ vào chỉ số octan có trong xăng

để quy định thuế suất: xăng octan 92/95 mức thuế suất là 0,4 đôla Sin/lit; xăng octan 97

và trên 97 mức thuế suất là 0,44 đôla Sing/lít1

Bên cạnh đó là bất cập trong quy định về mức thuế và các quy định khác đối với túi nilon Pháp luật quy định đưa sản phẩm túi nilon vào diện chịu thuế bảo vệ môi trường

là rất hợp lý vì sản phẩm này đang được sử dụng rất phổ biến, cũng gây hại lớn tới môi trường nhưng lại chưa được quản lý Tuy nhiên, các quy định về hướng dẫn mặt hàng túi nilon thuộc diện chịu thuế bảo vệ môi trường chưa rõ ràng Pháp luật chưa có quy định

về các mức thuế khác nhau để phân biệt các loại túi nilon thân thiện với môi trường và các loại túi nilon gây ô nhiễm cao, chưa đạt được mục đích khuyến khích các nhà sản xuất chú trọng các loại túi nilon thân thiện với môi trường Thêm vào đó, quy định thuế này khiến giá thành của các loại túi nilong tăng cao kéo theo giá giá thành nhiều loại

1 Phạm Thị Thanh Huyền, Pháp luật thuế bảo vệ môi trường ở Việt Nam những vấn đề lí luận và

thực tiễn, Khóa luận tốt nghiệp, Hà Nội, 2012.

8

Trang 9

hàng hóa cũng tăng theo, làm giảm sức cạnh tranh của hàng Việt Nam, đặc biệt là khi xuất khẩu ra thế giới

Luật thuế bảo vệ môi trường cũng có quy định phân biệt giữa thuế và phí Theo đó, phí là khoản thu để bù đắp một phần hoặc toàn bộ các chi phí mà nhà nước đã bỏ ra khi cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cho các chủ thể trong xã hội và áp dụng phí môi trường cho hành vi xả thải Nhưng trên thực tế, mức phí môi trường ở Việt Nam còn rất thấp so với hậu quả môi trường mà hành vi xả thải gây ra Ví dụ như việc nhà máy Vedan xả thải ra sông Thị Vải đã gây hủy hoại toàn bộ hệ sinh thái và ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất của người dân Không những thế, việc trả phí quá thấp khiến các chủ thể có hành vi xả thải có tâm lý chấp nhận việc trả phí và coi việc xả thải là quyền lợi vì mình đã trả phí thay vì tìm giải pháp mới, áp dụng các phương tiện khoa học hiện đại để hạn chế việc xả thải ra môi trường Như vậy, quy định này của pháp luật không những không thực hiện được mục đích bảo vệ môi trường mà còn gây phản tác dụng

1.2 Việc cụ thể: (Vụ việc của công ti cổ phần Nhựa Tân Đại Hưng)

Việc không thống nhất về quy định túi nilon phải chịu thuế môi trường gây khó khăn cho rất nhiều doanh nghiệp, vì hầu hết sản phẩm đều dùng túi nilon.

Nghị định số 67/2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Luật thuế bảo vệ môi trường quy định loại mặt hàng nhựa chịu thuế bảo vệ môi trường Theo đó, đối tượng chịu thuế là loại túi bao bì nhựa mỏng làm từ mảng nhựa đơn HDPE, LDPE hoặc LLDPE, trừ bao bì đóng gói sẵn hàng hóa và túi nilon đáp ứng tiêu chí thân thiện với môi trường theo quy định Thuế tính đối với mặt hàng này từ 30.000 đồng đến 50.000 đồng

Công ty cổ phần nhựa Tân Đại Hưng có sản xuất túi nilon – loại mặt hàng theo quy định của Luật thuế bảo vệ môi trường thuộc đối tượng chịu thuế Theo ông Phạm Trung Cang, Phó Tổng giám đốc Công ty cổ phần nhựa Tân Đại Hưng, sản xuất bao bì đựng phân bón hai lớp (ngoài là PP và trong là PE dày) bị đánh thuế vì có nhựa PE Sản

Trang 10

phẩm này xuất khẩu sang các nước EU không phải chịu thuế trong khi bán nội địa lại chịu thuế Đối tác là Công ty phân bón Việt Nhật tuyên bố sẽ không mua bao bì của công ty này nữa nếu giá tăng thêm 40.000 đồng/kg (vì phải cộng thêm thuế)

“Với cách hiểu của ngành thuế hiện nay, tất cả sản phẩm của công ty đều bị áp thuế với mức 40.000 đồng/kg Nói thẳng ra, cứ thấy có chữ PE trong sản phẩm hoặc thấy sản phẩm có chữ bao bì là “quất” thuế thẳng thừng Tôi cho rằng đây là một cách lạm thu thuế” - ông Cang nói trên Báo Tuổi Trẻ

Với công suất sản xuất 8.000 tấn bao bì/năm, số tiền thuế có thể lên đến 320 tỉ đồng Và do bị đánh thuế nên công ty buộc phải tăng giá bao bì cung cấp cho một số công ty sản xuất phân bón, hóa phẩm Kết quả là các doanh nghiệp này cho biết sẽ không mua bao bì của công ty ông nữa, thay vào đó sẽ nhập từ nước ngoài với giá thành

rẻ hơn

Thuế này khiến nhiều doanh nghiệp sử dụng bao bì của doanh nghiệp trong nước

để đóng gói có kế hoạch chuyển sang nhập khẩu bao bì với thuế gần bằng 0% thay vì đặt mua từ các doanh nghiệp trong nước Các doanh nghiệp sản xuất bao bì nhựa nói chung và công ty cổ phần Nhựa Tân Đại Hưng nói riêng ủng hộ việc đóng thuế với mục đích bảo vệ môi trường, nhưng vấn đề đáng quan tâm hiện nay ở chỗ việc áp dụng luật phải đúng đối tượng, thành phần và tiêu chí, không thể hiểu khác nhau rồi áp dụng không đúng “Ngay cả mức thu thuế 30.000-40.000 đồng/kg cũng tạo nhiều bức xúc cho doanh nghiệp khi không có quy định cụ thể loại nào thì bị áp thuế 30.000 đồng/kg, loại nào chịu 40.000 đồng/kg”, ông Cang nói, “Doanh nghiệp gánh chịu khi ngành thuế đồng loạt chọn mức cao nhất là 40.000 đồng/kg để áp thuế.”

Do vậy doanh nghiệp đang lúng túng, không thể định hướng phát triển sản xuất kinh doanh trong tương lai do không đủ vốn, thông tin để chuyển hướng sản xuất các mặt hàng khác nhằm tránh mức thuế cao Khả năng sản xuất ngưng trệ, phá sản là điều

có thể thấy được nếu những vướng mắc này không được tháo gỡ một cách quyết liệt, kịp thời Đáng tiếc hơn, trong quá trình xây dựng Luật thuế Bảo vệ Môi trường, các ý kiến đóng góp của VPA đã không được các bộ ngành quan tâm lưu ý Điều này dẫn đến các văn bản hướng dẫn thực thi luật chưa đầy đủ, rõ ràng, đưa đến nhiều cách hiểu khác nhau giữa các doanh nghiệp, người tiêu dùng và cơ quan thi hành luật khi áp dụng trong cuộc sống thực tiễn

2 Đề xuất pháp lí:

2.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành về thuế bảo vệ môi trường:

Từ những phân tích trên có thể thấy pháp luật thuế bảo vệ môi trường hiện nay cũng chưa thật sự toàn diện Sau đây là một số biện pháp của nhóm em góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật về thuế bảo vệ môi trường

Thứ nhất, cần mở rộng phạm vi đối tượng chịu thuế: với chỉ 8 mặt hàng thuộc đối

tượng chịu thuế như hiện nay có thể thấy phạm vi đối tượng còn hẹp, chưa thực sự bảo đảm yếu tố công bằng khi đánh thuế Ngoài các mặt hàng trên còn có nhiều mặt hàng

10

Ngày đăng: 25/03/2019, 09:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w