1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Những khẳng định sau đúng hay sai, giải thích a chỉ có viện kiểm sát mới có quyền luận tội bị cáo b khi nói lời sau cùng tại

3 149 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 34,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự, Viện kiểm sát nhân dân có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: 1.. Đọc cáo trạng, quyết định của Viện kiểm sát nhân

Trang 1

Đề 1 Những khẳng định sau đúng hay sai, giải thích :

a Chỉ có viện kiểm sát mới có quyền luận tội bị cáo

b Khi nói lời sau cùng tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo không được trình bày thêm các tình tiết của vụ án

Bài làm

1, Chỉ có viện kiểm sát mới có quyền luận tội bị cáo, đây là khẳng định đúng Vì :

Luận tội là phân tích, lập luận về tội trạng của bị cáo.Việc luận tội được tiến hành sau khi kết thúc phần thủ tục xét hỏi tại tòa Theo điều 137 Hiến pháp 1992 thực hành quyền công tố là chức năng ( thẩm quyền) của viện kiểm sát Luận tội là nhiệm vụ và quyền hạn của viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong xét xử các vụ án hình sự, và được quy định tại Điều 17 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân

Điều 17 Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử các vụ án hình

sự, Viện kiểm sát nhân dân có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1 Đọc cáo trạng, quyết định của Viện kiểm sát nhân dân liên quan đến việc giải quyết vụ án tại phiên toà;

2 Thực hiện việc luận tội đối với bị cáo tại phiên toà sơ thẩm, phát biểu quan điểm

về việc giải quyết vụ án tại phiên toà phúc thẩm; tranh luận với người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm;

3 Phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân về việc giải quyết vụ án tại phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm.

Trang 2

Kiểm sát viên là người được phân công thực hành quyền công tố trong hoạt động tố tụng, kiểm sát viên thực hiện luận tội với tư cách đại diện cho viện kiểm sát Theo Điều 217 – Bộ luật tố tụng hình sự 2003, Kiểm sát viên căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự và những người tham gia tố tụng khác, để đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung cáo trạng hoặc kết luận về tội danh nhẹ hơn; nếu thấy không có căn cứ để kết tội thì rút toàn bộ quyết định truy tố và đề nghị hội đồng xét xử tuyên bố không có tội

Luận tội là một phần của giai đoạn tranh luận tại phiên tòa Để tôn trọng nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật, Điều 217 – Bộ luật tố tụng hình sự quy định trình tự phát biểu khi tranh luận tại phiên tòa, cụ thể là sau khi kiểm sát viên luận tội: - Bị cáo được quyền trình bày lời bào chữa, nếu bị cáo có người bào chữa thì người này bào chữa cho bị cáo, bị cáo có quyền bổ sung ý kiến bào chữa - Người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ được trình bày ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích của mình Điều 218 – Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định về quyền đối đáp của những người tham gia tranh luận tại phiên tòa

2, Khi nói lời sau cùng tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo không được trình bày thêm các tình tiết của vụ án Đây là khẳng định sai Vì :

Theo Điều 220- Bộ luật tố tụng hình sự về Bị cáo nói lời sau cùng quy định:

“Sau khi những người tham gia tranh luận tại phiên tòa không trình bày gì thêm, chủ tọa phiên tòa tuyên bố kết thúc tranh luận

Bị cáo được nói lời sau cùng Không được đặt câu hỏi khi bị cáo nói lời sau cùng Hội đồng xét xử có quyền yêu cầu bị cáo không được trình bày những điểm không liên quan đến vụ án, nhưng không được hạn chế thời gian đối với bị cáo.

Nếu trong lời nói sau cùng, bị cáo trình bày thêm tình tiết mới có ý nghĩa quan trọng đối với vụ án, thì Hội đồng xét xử phải quyết định trở lại việc xét hỏi.”

Trang 3

Nếu trong vụ án có nhiều bị cáo thì hội đồng xét xử ấn định trật tự nói lời cuối cùng của các bị cáo Tòa án phải lắng nghe lời nói sau cùng của bị cáo, không được đặt câu hỏi khi bị cáo nói lời sau cùng Hội đồng xét xử có quyền yêu cầu bị cáo không được trình bày những điểm không liên quan đến vụ án, nhưng không được hạn chế thời gian đối với bị cáo Nếu trong lời nói sau cùng của bị cáo có thêm tình tiết mới có ý nghĩa quan trọng đối với vụ án thì hội đồng xét xử phải quyết định trở lại việc xét hỏi, tiếp theo là việc tranh luận tại phiên tòa và bị cáo lại được nói lời sau cùng

Quy định bị cáo được nói lời sau cùng là để nắm bắt được nguyện vọng, tâm

tư cũng như nhận thức của họ sau khi đã xét hỏi, tranh luận xong để có cơ sở cân nhắc đường lối xử lý vụ án cho phù hợp Quy định nếu trong lời nói sau cùng, bị cáo trình bày thêm tình tiết mới, thì hội đồng xét xử phải quyết định trở lại việc xét hỏi, không chỉ có ý nghĩa đơn thuần là tạo điều kiện cho việc kết tội được đúng đắn mà còn có ý nghĩa ở phạm vi rộng hơn là đảm bảo cho việc xét xử được chính xác, toàn diện, và khách quan Ví dụ nếu trong trường hợp lời nói sau cùng có tình tiết mới có thể dẫn đến việc khẳng định bị cáo có tội hay không có tội; thay đổi tội danh, thay dổi khung hình phạt, phát hiện tội phạm mới, người phạm tội mới; có chứa tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Tóm lại, lời nói sau cùng của bị cáo là quyền lợi của bị cáo, là cơ hội để bị cáo trình bày tâm tư, nguyện vọng của mình trước khi tòa án nghị án, tuyên án Thể hiện sự khách quan, nghiêm minh của tòa án khi thực hiện hoạt động xét xử, và là

cơ sở để tòa án cân nhắc xử lý vụ án cho hợp lý

Ngày đăng: 25/03/2019, 09:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w