1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nguyễn minh t kí HDLD với công ty m 100% vốn của trung quốc, đóng tại quận tân bình TP HCM từ 0132005

14 166 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 90,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận xét về việc giao kết hợp đồng của công ty và việc điều chuyển lao động đối với T Xét về điều kiện chủ thể: Trong trường hợp này, công ty M là doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ng

Trang 1

MỤC LỤC

1 Nhận xét về việc giao kết hợp đồng của công ty và việc điều chuyển lao động đối với T 4

2 Nhận xét về việc chấm dứt hợp đồng với T ngày 15/12/2008 và quyết định sa thải ngày 20/01/2009.

8

3 Tư vấn cách giải quyết phù hợp nhất với hai bên 11

Trang 2

ĐỀ BÀI SỐ 05

Nguyễn Minh T kí HDLD với công ty M 100% vốn của Trung Quốc, đóng tại quận Tân Bình TP HCM từ 01/3/2005 Theo hợp đồng, anh T làm công nhân đứng máy đúc khuông nhựa, mức lương 2,5 triệu đồng/tháng, hợp đồng ký 1 năm, mỗi năm

ký lại 1 lần Ngày 29/3/2008, công ty mở thêm xưởng sản xuất tại Đồng Nai nên điều chuyển T sang làm việc tại đó nhằm chuyển giao kỹ thuật cho công nhân mới T nhất trí với quyết định điều chuyển và đề xuất yêu cầu khi hết hợp đồng này, quay về công

ty sẽ ký hợp đồng lâu dài với mình Do không đảm bảo được vệ sinh môi trường, ngày 15/12/2008 phân xưởng phải tạm ngừng sản xuất đồng thời giám đốc công ty ra quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với T cùng tất cả công nhân ở đây mà không có thông báo trước vì lý do gặp sự cố khách quan, thanh toán cho T trợ cấp thôi việc tương ứng với 3,5 năm làm việc T không đồng ý và yêu cầu được quay lại làm việc tại trụ sở chính Sạu khi gửi đơn khiếu nại đến giám đốc công ty 2 tuần không thấy hồi

âm, T chủ động đi xin việc nơi khác và được nhận vào làm việc ở công ty khác Không muốn quay trở lại làm việc tại công ty, T quay lại phòng nhân sự nhận tiền trợ cấp thôi việc thì được biết giám đốc đã hủy quyết định chấm dứt hợp dồng với T và bố trí việc cho T làm việc theo như thỏa thuận trước đó và yêu cầu phải có mặt vào 10/01/2009 Cho rằng giám đốc thiếu tôn trọng mình, T yêu cầu giám đốc phải xin lỗi công khai về việc chấm dứt hợp đồng với mình mới quay lại làm việc Về phần mình,

T cũng muốn kéo dài thời gian để ổn định chỗ làm mới sẽ quay lại chấm dứt hợp đồng với công ty M nên không đến làm việc Biết việc T đã đi làm chỗ khác nên ngày 20/01/2009, sau 10 ngày không thấy T quay lại làm việc, giám đốc công ty ra quyết định sa thải với T

Trang 3

1 Nhận xét về việc giao kết hợp đồng của công ty và việc điều chuyển lao động đối với T? (3,5 điểm)

2 Nhận xét về việc chấm dứt hợp đồng với T ngày 15/12/2008 và quyết định

sa thải ngày 20/1/2009? (3,5 điểm)

3 Tư vấn cách giải quyết phù hợp nhất với hai bên? (3 điểm)

Trang 4

BÀI LÀM

Trong nền kinh tế thị trường, sức lao động là hàng hoá, quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động là quan hệ trao đổi sử dụng giá trị sức lao động Trong mối quan hệ này, người lao động đem sức lao động của mình làm việc cho người sử dụng lao động và phải tuân theo sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động thông qua việc thuê mướn, sử dụng lao động nhằm thu được những giá trị mới lớn hơn – lợi nhuận Do vậy, mục tiêu đạt được lợi ích tối đa luôn là động lực trực tiếp của các bên nên giữa họ khó có thể thống nhất được các quyền và nghĩa vụ trong quá trình thực hiện quan hệ lao động Những lợi ích đối lập này giữa người lao động và người sử dụng lao động sẽ trở thành mâu thuẫn, bất đồng nếu hai bên không dung hoà được quyền lợi của nhau

1 Nhận xét về việc giao kết hợp đồng của công ty và việc điều chuyển lao động đối với T

Xét về điều kiện chủ thể: Trong trường hợp này, công ty M là doanh nghiệp có

100% vốn đầu tư nước ngoài (100% vốn của Trung Quốc), có trụ sở tại quận Tân Bình TP Hồ Chí Minh, được phép hoạt động sản xuất kinh doanh theo quy định của pháp luật Việt Nam và có thỏa mãn các điều kiện chủ thể Và theo khoản 1 Điều 132

BLLĐ thì: “Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được trực tiếp tuyển dụng

lao động Việt Nam hoặc thông qua tổ chức giới thiệu việc làm và phải thông báo danh sách lao động đã tuyển được với vơ quan quản lý nhà nước về lao động địa phương” Như vậy, công ty M có đủ các điều kiện để tuyển dụng người lao động là

Trang 5

người Việt Nam và do đó, công ty M cũng có đầy đủ điều kiện về chủ thể để ký kết hợp đồng lao động với anh Nguyễn Minh T

Về công việc phải làm và địa điểm làm việc: Theo hợp đồng đã ký thì anh T làm

công nhân đứng máy đúc khuông nhựa tại xưởng sản xuất đóng tại quận Tân Bình TP

Hồ Chí Minh

Về mức lương thỏa thuận: Theo nghị định về mức lương tối thiểu vùng đối với

người lao động Việt Nam làm việc cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì công ty M là một doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư của Trung Quốc, do đó theo nghị định này thì mức lương tối thiểu đối với người lao động là 1.550.000 đồng đối với vùng 1 (áp dụng đối với các doanh nghiệp tại thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh) Như thế, mức lương mà công ty M trả cho anh T là đúng theo quy định của pháp luật

Về thời hạn của hợp đồng: Công ty M ký với anh Nguyễn Minh T hợp đồng lao

động có thời hạn là một năm (từ ngày 01/03/2005) và mỗi năm ký lại một lần Theo

quy định tại khoản 1 Điều 27 BLLĐ thì: “Hợp đồng xác định thời hạn là hợp đồng mà

trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng” Như thế hợp đồng ký kết giữa công ty

M và anh T là hợp đồng xác định thời hạn Và theo khoản 2 Điều 27 thì: “Khi hợp

đồng lao động quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 điều này hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới; nếu không ký kết hợp đồng mới, hợp đồng đã giao kết trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn Trường hợp hai bên ký kết hợp đồng lao động mới là hợp đồng xác định thời hạn thì cũng chỉ được ký thêm một thời hạn, sau đó nếu người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì phải

ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn” Nội dung này cũng được quy

định tại khoản 3 Điều 4 Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 05/5/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về hợp

Trang 6

đồng lao động Như thế, trong khoảng thời gian từ 01/03/2005 đến ngày 29/03/2008 là

3 năm, do vậy, hợp đồng lao động ký kết giữa công ty M và anh T (hợp đồng thời hạn

1 năm) đã được ký lại 1 lần vào 01/03/2006 (do hợp đồng điều tiên đã hết hạn) Tuy nhiên, đến hợp đồng thứ ba được hai bên ký kết vào ngày 01/03/2007 thì hai bên phải

ký kết hợp đồng không xác định thời hạn Trong trường hợp này công ty M ký hợp đồng lao động với anh T là hợp đồng ngắn hạn, “mỗi năm ký lại một lần”, như vậy là không đúng với quy định của pháp luật, Luật chỉ quy định cho hợp đồng lao động ngắn hạn sau khi hết hạn thì chỉ được ký thêm một thời hạn, ở đây công ty M kí hợp đồng 1 năm với anh T, và mỗi năm lại ký lại một lần, như vậy là quá số lần ký lại so với quy định của pháp luật Như vậy:

Thứ nhất, nếu hợp đồng lao động của công ty M kí với anh T đã ký tối đa hai lần,

mà sau khi hết hạn của hợp đồng anh T vẫn làm việc cho công ty M trong vòng 30 ngày mà hai bên chưa ký hợp đồng lao động mới kể từ ngày hết hạn thì hợp đồng lao động giữa công ty M và anh T đương nhiên trở thành hợp đồng không xác định thời hạn, và anh T có quyền yêu cầu công ty M ký kết hợp đồng không xác định thời hạn đối với mình Trong trường hợp anh T không muốn tiếp tục công việc tại công ty M thì cần phải làm thủ tục thông báo trước cho công ty theo quy định tại khoản 3 Điều

37 Bộ luật lao động đã được sửa đổi, bổ sung năm 2002 (trước 45 ngày)

Thứ hai, sau khi đã ký kết tối đa hai lần với hợp đồng có thời hạn mà công ty M

vẫn ký hợp đồng có thời hạn với anh T thì tức là công ty M giao kết hợp đồng trái với quy định của pháp luật (giao kết hợp đồng không đúng loại quy định) Theo điểm a khoản 2 Điều 10 Nghị định số 113/2004/NĐ-CP ngày 16/4/2004 của chính phủ quy

định xử phạt hành chính về hành vi vi phạm pháp luật lao động thì: “ Người sử dụng

lao động giao kết hợp đồng không đúng loại theo quy định tại Điều 27 của bộ luật Lao động đã được sửa đổi, bổ sung sẽ bị phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng khi vi phạm từ 1 người đến 10 người lao động” Nếu anh T không muốn tiếp tục

Trang 7

làm việc thì khi hết hạn hợp đồng anh T có thể chấm dứt hợp đồng mà không cần báo trước (tại khoản 1 Điều 36 Bộ luật Lao động)

Như vậy, công ty M giao kết hợp đồng với anh T mà mỗi năm ký lại một lần là trái

với quy định của pháp luật

Qua phân tích về việc giao kết hợp đồng giữa công ty M và anh T ở trên, có thể nhận thấy rằng công ty M đã giao kết hợp đồng lao động với anh T trái pháp luật, vì vậy những hành vi tiếp theo liên quan đến hợp đồng lao động kí kết giữa công ty M và anh T, trong đó có việc điều chuyển lao động đối với anh T là mắt xích trong hàng loạt những hành vi không đúng pháp luật của công ty M Nhưng trên thực tế, giữa công ty M và anh T đã có sự thỏa thuận, nhất trí khi kí kết hợp đồng lao động, quan hệ lao động đã diễn ra, lúc này công ty M sẽ có quyền điều chuyển lao động đối với anh T

Quan hệ lao động - sử dụng lao động giữa anh T với công ty M được thiết lập qua hợp đồng lao động Do đó, trong khoảng thời gian thực hiện hợp đồng hai bên phải tuân thủ các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng và pháp luật về lao động Theo

khoản 1 Điều 34 Bộ luật Lao động quy định: “Khi gặp khó khăn đột xuất hoặc do nhu

cầu sản xuất, kinh doanh, người sử dụng lao động được quyền tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác trái nghề, nhưng không được quá 60 ngày trong một năm” Tại khoản 1 Điều 8 BLLĐ sửa đổi năm 2002 quy định: “Người sử dụng lao động có quyền tuyển chọn lao động, bố trí, điều hành lao động theo nhu cầu sản xuất, kinh doanh; có quyền khen thưởng và xử lý các vi phạm kỷ luật lao động theo quy định của pháp luật lao động.” Và tại khoản 3 Điều 7 quy định: “Người lao động có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể, chấp hành kỷ luật lao động, nội quy lao động và tuân theo sự điều hành hợp pháp của người sử dụng lao động”.

Trang 8

Thực tiễn ta thấy rằng NSDLĐ họ phải bỏ chi phí để thuê NLĐ làm việc cho họ, cho nên họ có quyền sử dụng NLĐ một cách hiệu quả nhất, học có quyền bố trí, sắp xếp lao động….một cách hợp lý và không trái với quy định của pháp luật cũng như giao kết hợp đồng của hai bên Ngược lại NLĐ khi làm việc cho doanh nghiệp họ được nhận thù lao xứng đáng với công sức mà mình bỏ ra, và học cũng phải có nghĩa

vụ tuân thủ các quy định của NSDLĐ đặt ra và các điều khoản hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng

2 Nhận xét về việc chấm dứt hợp đồng với T ngày 15/12/2008 và quyết định sa thải ngày 20/1/2009

a) Việc chấm dứt hợp đồng với T ngày 15/10/2008:

Theo như đề bài thì ta biết T và công ty M đã kí kết hợp đồng lao động xác định thời hạn ( hợp đồng kí 1 năm, mỗi năm kí 1 lần) Do không đảm bảo được vệ sinh môi trường, ngày 15/12/2008 phân xưởng phải tạm ngừng sản xuất đồng thời giám đốc công ty ra quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với T cùng tất cả công nhân ở đây

mà không có thông báo trước vì lí do gặp sự cố khách quan, thanh toán cho T trợ cấp lao động tương ứng với 3,5 năm làm việc

Về thẩm quyền chấm dứt hợp đồng lao động, như đã phân tích thẩm quyền của

công ty M ở trên, thì ta thấy công ty M đã ký kết hợp đồng lao động với anh T nên công ty M có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với anh T theo Điều 38

Bộ luật Lao động

Về điều kiện đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của NSDLĐ, quy định tại

khoản 1 Điều 38 : “… Do thiên tai, hoả hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác

mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc…”;

Trong tình huống công ty M đưa ra sự cố khách quan đó là vì gây ô nhiễm môi trường mà phải tạm ngừng sản xuất nên cho anh T và công nhân nghỉ việc, như vậy có

3 giả thiết được đưa ra đó là:

Trang 9

Thứ nhất, nếu công ty M không áp dụng bất cứ biện pháp nào để cải thiện môi

trường, thì lí do để cho công nhân thôi việc không thuộc vào trường hợp là “lý do bất

khả kháng khác” Như vậy công ty M đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với

anh T là trái pháp luật

Thứ hai, nếu công ty M có áp dụng các biện pháp khắc phục môi trường nhưng áp

dụng nửa vời, không thực hiện đến nơi thì trường hợp này vẫn không thuộc “lý do bất

khả kháng khác” Việc chấm dứt hợp đồng với T là sai.

Thứ ba, nếu công ty M áp dụng đầy đủ các biện pháp mà vẫn không cải thiện được

môi trường thì thuộc trường hợp “lý do bất khả kháng khác”, công ty M có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với T

Về thủ tục chấm dứt hợp đồng lao động, theo khoản 2, khoản 3 Điều 38 Bộ luật lao

động quy định: “ 2- Trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo các

điểm a, b và c khoản 1 Điều này, người sử dụng lao động phải trao đổi, nhất trí với Ban chấp hành công đoàn cơ sở Trong trường hợp không nhất trí, hai bên phải báo cáo với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền Sau 30 ngày, kể từ ngày báo cho cơ quan lao động biết, người sử dụng lao động mới có quyền quyết định và phải chịu trách nhiệm

về quyết định của mình Trường hợp không nhất trí với quyết định của người sử dụng lao động, Ban chấp hành công đoàn cơ sở và người lao động có quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động theo trình tự do pháp luật quy định.

3- Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại điểm

b khoản 1 Điều này, người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước: a) ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn từ một năm đến ba năm;

c) ít nhất ba ngày đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ, theo một công việc nhất định mà thời hạn dưới một năm”.

Trang 10

Trong trường hợp này công ty M đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với anh

T mà không thông báo trước là trái với quy định của pháp luật

Giải quyết hậu quả pháp lý khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động: Khi đơn

phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với T công ty M đã trả trợ cấp tương ứng với 3,5 năm làm việc

Như vậy, công ty M không đáp ứng được đầy đủ các điều kiện nêu trên về đơn

phương chấm dứt hợp đồng lao động, nên việc chấm dứt hợp đồng với T ngày 15/12/2008 là không đúng theo quy định của pháp luật

Công ty M đã có quyết định bố trí việc làm cho T và có yêu cầu anh T phải có mặt vào 10/1/2009 nhưng biết việc T đã đi làm chỗ khác nên ngày 20/1/2009, sau 10 ngày không thấy T quay lại làm việc, giám đốc công ty ra quyết định sa thải với T

Sau khi nhận được quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng thì anh T đã gửi đơn khiếu nại đến công ty M, theo điểm a khoản 1 Điều 14 Nghị định 04/2005/

NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về khiếu nại, tố cáo về lao

động quy định như sau: “trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được đơn, người

giải quyết khiếu nại lần đầu phải thụ lý để giải quyết và thông báo cho người khiếu nại biết” Anh T gửi khiếu nại sau 2 tuần (14 ngày) không thấy công ty trả lời, như

vậy là công ty M đã không thụ lý đơn khiếu nại của anh T đúng quy định của pháp luật

Trong trường hợp này vì việc chấm dứt hợp đồng lao động ngày 15/12/2008 là trái pháp luật nên việc công ty M nhận T trở lại làm việc là hợp lý và đã có yêu cầu T phải

có mặt tại công ty vào ngày 10/01/2009 Như vậy là công ty M đã báo trước cho T Khi T không còn muốn trở lại làm việc thì công ty M phải giải quyết trường hợp của T bằng cách cho T nghỉ việc và nhận trợ cấp thôi việc theo khoản 1 Điều 41 Bộ luật lao

động: “Trong trường hợp người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng

lao động trái pháp luật thì phải nhận người lao động trở lại làm việc và phải bồi

Ngày đăng: 25/03/2019, 09:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w