1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự việt nam thực trạng và giải pháp hoàn thiện (9điểm)

19 200 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 137 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghĩa vụ chứng minh trong tó tụng dân sự được hiểu là các đương sự có quyền tham gia vào quá trình tranh luận tại phiên tòa,được đưa ra các chứng cứ để chứng tỏ cho các đương sự khác cũn

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU1

NỘI DUNG 1

I Khái quát chung 1

1 Khái niệm nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự 1

2 Cơ sở quy định về nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự 2

a, Cơ sở lý luận 2

b, Cơ sở pháp lý 3

II Nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự Việt Nam 3

1 Nghĩa vụ chứng minh của đương sự 3

2 Nghĩa vụ chứng minh của người đại diện của đương sự 6

3 Nghĩa vụ chứng minh của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. 7 4 Nghĩa vụ chứng minh của các cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác 8

5.Nghĩa vụ chứng minh của Tòa án 9

6 Nghĩa vụ chứng minh của Viện kiểm sát 11

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 18

Trang 2

MỞ ĐẦU

Mỗi vụ việc dân sự phát sinh tại Tòa án thường chứa đựng những mâu thuẫn nhất định giữa các bên đương sự nên rất phức tạp Để giải quyết được vụ việc dân sự thì mọi vấn đề của vụ việc dân sự dù ai nêu ra cũng đều phải được làm rõ trước khi Tòa án quyết định giải quyết vụ việc dân sự Do vậy, việc nghiên cứu

để hiểu rõ về nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự là rất cần thiết để từ đó

có cái nhìn bao quát nhất về hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự

NỘI DUNG

I Khái quát chung

1 Khái niệm nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự

Chứng minh trong tố tụng dân sự là hoạt động tố tụng của các chủ thể tố tụng theo quy định của pháp luật trong việc làm rõ các sự kiện, tình tiết của vụ việc dân sự

Nghĩa vụ chứng minh trong tó tụng dân sự được hiểu là các đương sự có quyền tham gia vào quá trình tranh luận tại phiên tòa,được đưa ra các chứng cứ

để chứng tỏ cho các đương sự khác cũng như Tòa án thấy rằng yêu cầu của mình

là chính đáng cần được pháp luật bảo vệ.Các đương sự có quyền sử dụng chứng

cứ của mình,thông qua tranh luận sử dụng chứng cứ của các đương sự khác,của Tòa án,của Viện kiểm sát để giúp Tòa án làm sáng tỏ vấn đề.Tuy vậy,Tòa án vẫn giữ vai trò chủ động trong hoạt động xét xử,chủ động thu thập chứng cứ,chủ độgn xem xét,nghiên cứu và đánh giá chứng cứ

2 Cơ sở quy định về nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự

a, Cơ sở lý luận

Trong quan hệ tố tụng dân sự, Tòa án, Viện kiểm sát và những người tham gia

tố tụng có mối liên hệ mật thiết với nhau trong một vụ án Mọi hành vi tố tụng của các chủ thể trong toàn bộ quá trình tố tụng đều nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án đó Mặt khác, pháp luật nội dung và pháp luật hình thức là hai bộ phận có mối liên hệ mật thiết, không thể tách rời Luật tố tụng dân sự điều chỉnh

Trang

Trang 3

các quan hệ xã hội phát sinh giữa Tòa án nhân dân và những người tham gia tố tụng trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bảo vệ lợi ích hợp pháp của công dân, thiết lập lại các quan hệ pháp luật về nội dung bị vi phạm hay tranh chấp Pháp luật nội dung ghi nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Khi các quyền và lợi ích này bị xâm phạm, họ có quyền khởi kiện để đòi quyền lợi hợp pháp của mình Như vậy, khách thể của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự là đối tượng xem xét của Tòa án nhân dân do chính các yêu cầu của đương sự, tổ chức xã hội khởi kiện và mong muốn được Tòa án giải quyêt Họ là những người có khả năng đưa ra chứng cứ chính xác nhất làm căn cứ chứng minh có những yêu cầu của mình nên họ có nghĩa vụ phải chứng minh

Như vậy, việc quy định nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự là cần thiết nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của những chủ thể có nghĩa vụ chứng minh, đảm bảo việc thực hiện pháp luật được công bằng, nghiêm minh, giải quyết vụ việc dân sự hiệu quả và tuân theo pháp luật

b, Cơ sở pháp lý

Để đảm bảo nguyên tắc “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật” được

quy định trong Hiến pháp 1992 cũng như đảm bảo nguyên tắc nguyên tắc quyền

tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự, BLTTDS 2004 đã quy định quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự thành một nguyên tắc (Điều 6) và

cụ thể hóa tại các Điều 58, 63, 79, 117, 118…BLTTDS 2004 Theo đó, các chủ thể có nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự bao gồm: đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước hoặc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, Tòa án

và Viện kiểm sát Để giải quyết đúng được các vụ việc dân sự thì tất cả các sự kiện, tình tiết liên quan đến vụ việc đều phải chứng minh, bao gồm những tình tiết, sự kiện mà các chủ thể căn cứ vào đó đưa ra yêu cầu hay phản đối yêu cầu

Trang 4

của người khác và những tình tiết, sự kiện có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ việc dân sự

II Nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự Việt Nam.

1. Nghĩa vụ chứng minh của đương sự

Kế thừa và đồng thời cũng khắc phục được những hạn chế trước đây của các quy định trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 (Điều 3), Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án kinh tế năm 1994 (Điều 3) và Pháp lệnh thủ tục giải quyết tranh chấp lao động năm 1996 (Điều 2), BLTTDS năm 2004 đã quy định nghĩa vụ chứng minh của đương sự thành một nguyên tắc, đó là

nguyên tắc về việc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự “các

đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh như đương sự” (khoản 1 Điều 6

BLTTDS 2004) và cụ thể hóa nguyên tắc đó tại Điều 79 BLTTDS năm 2004:

“1 Đương sự có yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.

2 Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải chứng minh

sự phản đối đó là có căn cứ và phải đưa ra chứng cứ để chứng minh.

3 Cá nhân, cơ quan tổ chức khởi kiện bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước hoặc yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho việc khởi kiện, yêu cầu của mình là

có căn cứ và hợp pháp.

4 Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được hoặc chứng minh không đầy đủ đó.”

Trang

Trang 5

Đương sự có thể thực hiện quyền, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của mình thông qua hai cách là tự mình thu thập chứng cứ hoặc nhờ Tòa án thu thập hộ khi đủ điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 85 BLTTDS năm 2004

“Trong trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ và

có yêu cầu thì Thẩm phán có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp sau đây

để thu thập chứng cứ:

a) Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng;

b) Trưng cầu giám định;

c) Quyết định định giá tài sản;

d) Xem xét, thẩm định tại chỗ;

đ) Ủy thác thu thập chứng cứ;

e) Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự”.

Nhìn chung, việc thu thập chứng cứ là trách nhiệm của đương sự đối với yêu cầu của mình, họ có sự chủ động trong các thao tác thu thập, yêu cầu thu thập Tuy nhiên không thể nói là việc thu thập không có sự can thiệp của Nhà nước, bởi nếu không can thiệp sẽ gây ra tình trạng lộn xộn và đôi khi chứng cứ thu thập được không có giá trị pháp lý BLTTDS năm 2004 đã quy định trình tự và điều kiện để đương sự thực hiện quyền năng này Khi vi phạm về thủ tục luật định thì chứng cứ do đương sự thu thập được cũng sẽ không được chấp nhận Trong giai đoạn cung cấp chứng cứ thì đương sự chính là người cung cấp chứng cứ cho tòa án Đây chính là hoạt động giao nộp chứng cứ vào hồ sơ vụ

án, chứng cứ nhiều hay ít sẽ giới hạn việc tranh luận giữa các bên, chứng cứ càng cụ thể, xác đáng bao nhiêu thì việc tranh luận và trách nhiệm của tòa án càng đơn giản bấy nhiêu Người khởi kiện phải thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ ngay khi nộp đơn khởi kiện tại tòa án theo quy định tại Điều 165

BLTTDS năm 2004: “Người khởi kiện phải nộp kèm theo đơn khởi kiện tài liệu,

chứng cứ để chứng minh cho những yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp” Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền cung cấp chứng

Trang 6

cứ khi tòa án thông báo về việc khởi kiện của nguyên đơn: “Trong thời hạn

mười năm ngày kể từ ngày nhận được thông báo, người được thông báo phải nộp cho tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện

và tài liệu chứng cứ kèm theo, nếu có” (khoản 1 Điều 175 BLTTDS năm 2004).

Trong quá trình giải quyết vụ án đương sự có quyền cung cấp chứng cứ ở bất kỳ giai đoạn nào, nếu không cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ sẽ phải chịu những hậu quả pháp lý nhất định Hậu quả pháp lý này là việc được Tòa án công nhận các quyền và lợi ích hợp pháp dựa trên kết quả của quá trình đương sự thực hiện nghĩa vụ chứng minh.Theo quy định tại khoản 1 Điều 84 BLTTDS năm

2004 thì “Trong quá trình tòa án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền

và nghĩa vụ giao nộp chứng cứ cho tòa án; Nếu đương sự không nộp hoặc nộp không đầy đủ thì phải chịu hậu quả của việc không nộp hoặc không nộp đầy đủ đó ” Tại phiên tòa sơ thẩm “Đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền bổ sung chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp” (khoản 3 Điều 221 BLTTDS năm 2004).

Đương sự còn có thể giao nộp chứng cứ tại cấp phúc thẩm “kèm theo đơn kháng

cáo là tài liệu, chứng cứ bổ sung nếu có để chứng minh cho kháng cáo của mình

là có căn cứ và hợp pháp”, tại phiên tòa phúc thẩm “đương sự, Kiểm sát viên

có quyền xuất trình bổ sung chứng cứ” (khoản 3 Điều 271 BLTTDS năm 2004).

Trong giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của pháp luật, đương sự cũng có thể giao nộp chứng cứ bổ sung tại tòa án hoặc viện kiểm sát để bảo vệ cho quyền lợi của mình Việc quy định đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ

và thời điểm cung cấp mở rộng tại tất cả quá trình giải quyết là tạo điều kiện để đương sự có thể phát huy hết khả năng của mình trong việc cung cấp chứng cứ.1

2 Nghĩa vụ chứng minh của người đại diện của đương sự.

Người đại diện của đương sụ trong tố tụng dân sự là người thay mặt cho đương sự trong việc xác lập, thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng nhằm mục

1

“ Vai trò chứng minh của đương sự trong tố tụng dân sự- vấn đề cơ bản nhất của tố tụng dân sự Việt Nam hiện nay”, Khóa luận tốt nghiệp, Quách Mạnh Quyết, Lớp DS31B, Người hướng dẫn THS Trần Phương Thảo, Hà Nội, 2009

Trang

Trang 7

đích bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho đương sự Tương tự như pháp luật

nội dung, pháp luật tố tụng dân sự cũng phân chia người đại diện ra thành người

đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền.

Theo quy định tại Điều 141 BLDS năm 2005 thì người đại diện theo pháp luật bao gồm có cha mẹ đối với con chưa thành niên, người giám hộ đối với người được giám hộ, người được tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người đứng đầu pháp nhân theo quy định của điều lệ hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, chủ hộ gia đình đối với gia đình, tổ trưởng tổ hợp tác đối với tổ hợp tác Ngoài ra, cơ quan tổ chức khởi kiện bảo vệ lợi ích của người khác cũng là người đại diện theo pháp luật cho người được khởi kiện (Điều 73 BLTTDS năm 2004), người được tòa án chỉ định để đại diện cho đương sự tham gia tố tụng (Điều 76 BLTTDS năm 2004)

Theo quy định tại Điều 142 BLDS năm 2005 thì người đại diện theo ủy quyền

là người thay mặt cho đương sự thực hiện những quyền và nghĩa vụ tố tụng nhưng thông qua một giấy ủy quyền thể hiện ý chí của người đại diện và người được đại diện, phạm vi đại diện được ghi nhận một cách cụ thể trong giấy ủy quyền đó Có thể đại diện một phần hay toàn bộ nhưng trong vụ án ly hôn, đương sự không thể ủy quyền cho người khác tham gia thay mình

Quyền và nghĩa vụ của người đại diện cho đương sự trong tố tụng dân sự và trong hoạt động chứng minh được thực hiện theo quy định tại điều 74 BLTTDS 2004:

“1 Người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự thực hiện các quyền

và nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự mà mình đại diện.

2. Người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự theo nội dung văn bản ủy quyền”.

Khi tham gia vào hoạt động chứng minh, người đại diện có toàn quyền trong việc đề ra các yêu cầu, phản yêu cầu và chứng minh cho những ý kiến đó Nhưng dù là đại diện theo pháp luật hay đại diện theo ủy quyền của đương sự thì

Trang 8

vai trò chứng minh của họ cũng phát sinh sau khi phát sinh vai trò chứng minh của đương sự Đương sự không thể hoặc có hạn chế nhất định không thực hiện được quyền và nghĩa vụ của mình thì theo quy định của pháp luật họ có thể nhờ đến sự giúp đỡ của người đại diện hoặc tòa án sẽ chỉ định người đại diện cho họ Hoạt động chứng minh của người đại diện là “thay mặt” đương sự, hành vi chứng minh của họ cũng chính là hành vi của đương sự và hướng đến việc bảo

vệ quyền và lợi ích của đương sự Khi tư cách đương sự chấm dứt thì tư cách đại diện của họ cũng chấm dứt

Như vậy, so với đương sự, hoạt động chứng minh của người đại diện của đương sự gặp nhiều khó khăn hơn nên hiệu quả chứng minh hạn chế hơn Còn đương sự là chủ thể của quan hệ tranh chấp, họ là người hiểu nhất về quyền và nghĩa vụ của mình, về nguyên nhân phát sinh tranh chấp, về thực trạng quan hệ pháp luật của mình, nên hoạt động chứng minh sẽ dễ dàng và hiệu quả hơn

3 Nghĩa vụ chứng minh của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người được đương

sự nhờ và tòa án chấp nhận để tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (khoản 1 Điều 64 BLTTDS) Những người này có thể là luật

sư hoặc bất cứ chủ thể nào đủ điều kiện mà đương sự tin tưởng Đây cũng là một chủ thể của hoạt động chứng minh, họ có thể tham gia vào vụ án ở bất cứ giai đoạn nào, được tham gia phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm Liên quan đến hoạt động chứng minh, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền:

“2 Xác minh, thu thập chứng cứ và cung cấp chứng cứ cho tòa án, nghiên

cứu hồ sơ vụ án và được sao chụp những tài liệu cần thiết trong hồ sơ để thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

Trang

Trang 9

5 Giúp đương sự về mặt pháp lý liên quan đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ” (Điều 64 BLTTDS).

Trong trường hợp này, vai trò chứng minh của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự chỉ dừng lại ở việc giúp đỡ đương sự khi được “nhờ”, đương sự vẫn là người đề ra việc chứng minh, yêu cầu hoặc phản yêu cầu nhưng

do có hạn chế về mặt pháp lý cũng như kinh nghiệm tố tụng nên họ phải cầu cứu đến sự hỗ trợ, những người này chỉ có quyền chứ không có nghĩa vụ chứng minh, việc chứng minh được hay không không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của họ Người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự có thể không có mặt tại phiên tòa ( Điều 203 BLTTDS năm 2004)

Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam người bảo vệ quyền lợi của đương sự không có quyền thay mặt đương sự mà chỉ có thể giúp đỡ đương

sự Suy cho cùng, trong hoạt động chứng minh đương sự vẫn tự mình quyết định, tự mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ

4 Nghĩa vụ chứng minh của các cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

Ngoài các đương sự, trong trường hợp cần khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước thì cơ quan về dân số, gia đình và trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ có quyền khởi kiện vụ án về hôn nhân gia đình, công đoàn cấp trên của công đoàn

cơ sở có quyền khởi kiện vụ án lao động theo quy định của pháp luật về lao động Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước BLTTDS quy định các cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác cũng có nghĩa vụ chứng minh (khoản 3 điều 79 BLTTDS) Tuy không có quyền và lợi ích gắn liền với

vụ việc dân sự như đương sự, nhưng các cơ quan, tổ chức này khi đưa ra các yêu cầu cần phải nắm bắt rõ sự việc Do đó, tương tự như đương sự, cá nhân, cơ

Trang 10

quan, tổ chức khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước hoặc quyền và lợi ích hợp pháp của người khác cũng có nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Trong trường hợp các cá nhân, cơ quan, tổ chức này không thực hiện được nghĩa vụ chứng minh của mình thì sẽ dẫn đến sự bất lợi cho các đương sự

5.Nghĩa vụ chứng minh của Tòa án

Tòa án là chủ thể có nhiệm vụ giải quyết vụ việc dân sự Vai trò chứng minh của tòa án thể hiện ở một số quyền và nghĩa vụ như: tự mình tiến hành thu thập chứng cứ trong một số trường hợp quy định tại mục 1.2 phần IV nghị quyết số 04/2005/NQ – HĐTP ngày 19/9/2005 của HĐTPTANDTC về chứng cứ và chứng minh Để giải quyết đúng vụ việc dân sự thì Tòa án vẫn phải xác định xem trong vụ việc dân sự phải chứng minh làm rõ là những sự kiện, tình tiết nào? Các chứng cứ, tài liệu của đương sự và những người tham gia tố tụng cung cấp có đủ để giải quyết vụ việc dân sự hay không?

Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án

Các đương sự có quyền, nghĩa vụ thu thập chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình.Tòa án chỉ xem xét và đưa ra phán quyết trên cơ sở chứng cứ mà các bên đưa ra Để quyết định giải quyết vụ việc của mình có sức thuyết phục thì Tòa án không thể không làm rõ những cơ sở của quyết định đó, tức là phải chứng minh những sự kiện làm cơ sở cho các kết luận của Tòa án Khi thấy chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc dân sự chưa đủ cơ sở để giải quyết thì Tòa án phải yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ (Khoản 1 điều 85 BLTTDS) Đối với trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ và có yêu cầu thì Tòa án có thể tiến hành thu thập chứng cứ (Khoản 2 điều 85 BLTTDS) Khi nhận được yêu cầu của đương sự, Tòa án phải yêu cầu đương sự trình bày rõ việc đương sự tự thu thập chứng cứ như thế nào, lý do tại sao không thể tự mình thu thập chứng cứ và những biện pháp đương sự đã áp dụng mà vẫn không có kết quả trên cơ sở đó để chấp nhận hay không chấp nhận

Trang

Ngày đăng: 25/03/2019, 09:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w