Pháp luật quy định tiền thực hiện ba chức năng chính là công cụ thanhtoán đa năng, công cụ tích lũy tài sản và công cụ định giá các loại tài sản, và tiềnchính là thước đo giá trị của các
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Tài sản là vấn đề trung tâm cốt lõi của mọi quan hệ xã hội nói chung vàquan hệ pháp luật nói riêng Khái niệm tài sản đã được đề cập từ rất lâu trongthực tiễn cũng như trong khoa học pháp lý Tài sản trên thực tế tồn tại ở nhiềudạng khác nhau, vô cùng phong phú và đa dạng Tuy nhiên mỗi loại tài sản lại cónhững đặc tính khác biệt cần thiết phải có những quy chế pháp lý điều chỉnhriêng Khái niệm tài sản được đề cập tại Điều 163, BLDS 2005 Theo đó thì tàisản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản Đây là cách định nghĩa tàisản mang tính chất liệt kê chứ không mang tính khái quát Do đó trong bài tiểu
luận của em chọn đề tài: “Một số vấn đề về tài sản theo quy định tại Điều 163 Bộ luật dân sự” để hiểu rõ hơn các quy định về tài sản cũng như những điểm bất cập
trong quy định về tài sản Do thời gian và sự hiểu biết còn hạn chế, nên bài làmcủa em sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được sự đóng gópcủa quý thầy cô để bài làm của em được hoàn chỉnh hơn
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I Cơ sở lý luận.
1 Khái quát về sự hình thành và phát triển của Tài sản.
Tài sản là công cụ của đời sống xã hội Từ hàng nghìn năm nay, pháp luật
về tài sản của các quốc gia đã hình thành dựa trên các tập quán, lối suy nghĩ vàhành động khác nhau Luật tài sản Phương Tây có khởi nguồn từ cổ luật La Mã
Từ cuộc cách mạng công nghiệp cuối thế kỉ XVII, người ta đã tạo ra các quy định
và thiết chế mới về tài sản đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế tư bản, mà vẫn dựa trên
tư duy cổ xưa, mang đậm dấu ấn của luật tục Hiện nay, luật tư được các học giảthừa nhận là một ngành luật cơ bản và Luật dân sự_nền tảng căn bản của luật tư
mà ở đó, Nhà nước chỉ đóng vai trò là trọng tài-có liên quan tới con người và quan
hệ của con người với nhau liên quan đến tài sản Trong các hệ thống pháp luật,thông thường người ta mượn khái niệm tài sản và các giải pháp của luật La Mã đểgiải quyết các mối quan hệ đó Các nước khác nhau có sự nhìn nhận và quan điểmluật học về tài sản khác nhau Luật học Việt Nam trên cơ sở vận dụng có chọn lọc
Trang 2những thành tựu của các hệ thống luật tiên tiến và kế thừa có sáng tạo tinh thầnluật học cổ điển của nước nhà.
2 Khái niệm tài sản.
Dưới góc độ pháp lí, tài sản là một chế định quan trọng của của Luật dân
sự Trong bối cảnh hệ thống pháp luật Việt Nam đang có nhiều thay đổi để theokịp với tiến trình hội nhập quốc tế, các khảo cứu mang tính lí luận về tài sản về cơbản đã bao quát và tương đối Bộ luật dân sự năm 1995 tại Điều 172 quy định:
“Tài sản bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản.” Có thể thấy rằng quy định này có phần chưa phù hợp với lí luận và thực
tiễn về tài sản Bộ luật dân sự 2005 trên cơ sở kế thừa và phát huy Bộ luật dân sự
1995 cũng đã có sự thay đổi điều chỉnh mới về khái niệm tài sản phù hợp hơn:
Điều 163, BLDS năm 2005 quy định :“ Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá
và các quyền tài sản” Theo quy định này thì tài sản được liệt kê khép kín chỉ tồn
tại ở một trong bốn loại: Vật, tiền, giấy tờ có giá hoặc quyền tài sản
3 Đặc điểm của tài sản.
Tài sản là vấn đề quan trọng khi xem xét các quan hệ có liên quan đến tàisản phát sinh từ các giao dịch dân sự, kinh tế Chính vì vậy việc xác định đặc điểmpháp lý của tài sản mang lại ý nghĩa đặc biệt cho hoạt động pháp lý Theo quyđịnh tại Điều 163 BLDS tài sản có những đặc điểm sau:
Thứ nhất : Tài sản có tính giá trị thể hiện ở việc chúng đều trị giá đượcbằng tiền Pháp luật quy định tiền thực hiện ba chức năng chính là công cụ thanhtoán đa năng, công cụ tích lũy tài sản và công cụ định giá các loại tài sản, và tiềnchính là thước đo giá trị của các loại tài sản khác
Thứ hai: Tài sản luôn phải đáp ứng một lợi ích nào đó cho chủ thể cóquyền Đó có thể là nhu cầu vật chất hoặc là tinh thần Đây cũng chính là tính lợiích của tài sản
Thứ ba : Tài sản là đối tượng trong lưu thông dân sự Chính vì đặc điểmnày mà khái niệm tài sản được mở rộng hay thu hẹp theo từng thời kỳ để phù hợpvới điều kiện giao lưu dân sự trong xã hội thời đó
Trang 34 Cơ sở của quy định về tài sản.
Quy định về tài sản lần đầu tiên được quy định trong Bộ luật dân sự năm
1995, theo đó tại Điều 172 Bộ luật dân sự năm 1995 quy định: “Tài sản bao gồmvật có thực, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” Tiếp đó Điều 163 BLDSnăm 2005 quy định: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tàisản” Ngoài ra các quy định về tài sản còn được quy định trong các văn bản phápluật liên quan
II Thực tiễn về tài sản theo pháp luật hiện hành.
Căn cứ vào Điều 163 BLDS năm 2005 thì tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ
có giá và các quyền tài sản Để hiểu rõ hơn nữa về quy định này của pháp luật dân
sự em xin lần lượt đi qua các vấn đề về các loại tài sản như sau:
`1 Vật.
1.1 Định nghĩa về vật
Vật là một bộ phận quan trọng của thế giới vật chất mà con người có thểcảm nhận nó bằng các giác quan của mình, tuy nhiên để vật trở thành đối tượngtrong quan hệ pháp luật dân sự thì chúng phải có những điều kiện nhất định
Điều 163 BLDS Việt Nam năm 2005 quy định vật với quan niệm là một tàisản trong thế giới vật chất khái niệm vật chất rất lớn nó bao trùm tất cả những gìxung quanh chúng ta Theo quan niệm luật dân sự vật chất phải thỏa mãn nhữngđiều nhất định như sau:
Là bộ phận của thế giới vật chất
Con người chiếm hữu được
Mang lại lợi ích cho chủ thể
Có thể đang tồn tại hoặc sẽ hình thành trong tương lai
Như vậy, có thể đưa ra một định nghĩa khái quát nhất về vật là đối tượng
của quan hệ pháp luật dân sự như sau: Vật là một bộ phận của thế giới vật chất tinh thần của mình”
Trang 4Trong pháp luật Việt Nam, từ Bộ luật dân sự năm 1995 đã quy định vật làmột loại tài sản Tuy nhiên có sự khác nhau giữa những quy định trong Bộ luậtdân sự năm 1995 và BLDS năm 2005 đã có sự mở rộng phạm vi về vật, từ “vật cóthực” năm 1995 sang “vật” năm 2005 là tài sản Như vậy, khái niệm vật chất chỉdừng lại ở khái niệm vật hiện hữu mà vật chỉ được hình thành trong tương laicũng có thể coi là tài sản Tại Điều 175 của BLDS năm 2005 đã xác định loại tàisản này là hoa lợi và lợi tức – đây chính là sự gia tăng của tài sản trong nhữngđiều kiện nhất định.
Do sự phát triển của khoa học công nghệ khái niệm hiện vật trong khoa họcpháp lý cũng được cũng được mở rộng Ví dụ: (vật thải nếu sử dụng làm nguyệnliệu sẽ được coi là vật nhưng ở dạng bình thường thì không là vật)
BLDS đã quy định vật với tư cách là một loại tài sản của quan hệ dân sựnhưng lại không giải thích vật là gì Vì vậy, đã có rất nhiều tranh luận về điều kiện
để vật là tài sản Nó sẽ mang đặc tính của một tài sản hoặc tinh thần có thể đangtồn tại hoặc hình thành trong tương lai
1.2 Đặc điểm pháp lý của vật.
Các nhà làm luật trong khi quy định vật là một loại tài sản có lẽ với suynghĩ vật là một khái niệm đã quá quen thuộc với chúng ta Do vậy BLDS chỉ đềcập đến phân loại vật cũng như trong các luật chuyên ngành chưa có văn bản cụthể nào thể hiện sự hướng dẫn cụ thể về vật với tư cách là đối tượng trong quan hệpháp luật dân sự Tuy nhiên, dựa vào các loại vật được quy định trong BLDS nhưvật chia được, vật không chia được, vật tiêu hao, vật không tiêu hao, vật đặcđịnh… có thể đưa ra một số đặc điểm cơ bản của vật khi là một tài sản
Vật thuộc bộ phận thế giới vật chất và phải do con người chiếm hữu được.Thế giới vật chất vô cùng phong phú, cho nên vật rất đa dạng Nếu là những vậtkhông thể kiểm soát được như nắng, mưa thì sẽ không được coi là tài sản trongquan hệ pháp luật dân sự Con người có thể áp dụng quyền sở hữu lên chúng.Trong đó các quyền chiếm hữu, quyền định đoạt Bao gồm các quyền nắm giữ,quyền quản lý tài sản, quyền chuyển giao, quyền sở hữu hoặc từ bỏ quyền đó Bên
Trang 5cạnh đó vật chỉ được coi là tài sản khi luôn mang lại cho chúng ta một lợi ích tinhthần hoặc vật chất nhất định.
Ngoài ra, đối với vật chúng ta có thể khai thác công dụng hữu ích từ vậtchính đó Ví dụ: có thể khai tháccốc để uống nước, bát để ăn cơm… Đây chính làđiểm khác biệt của vật so với tiền và giấy tờ có giá khác khi hai tài sản này khôngthể khai thác công dụng từ chính tờ tiền hoặc giấy tờ có giá đó
Khác với các loại tài sản khác như tiền thì vật có thể do nhiều chủ thể sángtạo ra Vật có thể được cấu tạo đơn giản hoặc phức tạp, do vậy đối với những vật
có kết cấu cầu kỳ thì không phải một chủ thể có thể tạo ra nó mà cần phải có sựhợp tác của nhiều chủ thể, những chủ thể này không bị hạn chế bởi pháp luật Vídụ: xe máy không thể do một người tạo nên mà phải do mỗi người lắp ráp các bộphận lại tạo thành
Ví dụ:cái kính là vật chính, hộp đựng kính là vật phụ Việc phân loại nàymang ý nghĩa cơ bản cho việc thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật trong trườnghợp chuyển giao vật chính thì phải chuyển giao cả vật phụ
Vật chia được và vật không chia được.
Căn cứ theo hình dáng, tính năng của vật người ta chia vật thành vật chínhchia được và vật không chia được
Vật chia được là vật khi bị phân chia vẫn giữ nguyên được tính chất và tínhnăng sử dụng ban đầu ví dụ:thóc, gạo, nước,…Bên cạnh đó vật không chia được
Trang 6là vật khi bị phân chia thì không giữ nguyên tính chất và khả năng sử dụng banđầu.ví dụ: bàn, ghế.xe máy, ô tô…
Cách phân loại này có ý nghĩa trong trường hợp khi cần phân chia vậtkhông chia được thì phải trị giá thành tiền để chia Ví dụ; trường hợp mà vợ chồngchia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì phải trị giá thành tiền để chia
Vật tiêu hao và vật không tiêu hao.
Căn cứ theo tính chất vật lý có thể phân loại vật thành vật tiêu hao và vậtkhông tiêu hao theo điều 178 BLDS năm 2005 Quy định vật tiêu hao là vật đãqua một lần sử dụng thì mất đi hoặc không giữ được hình dáng và tính năng banđầu Ví dụ: Xăng dầu, xà phòng,…
Pháp luật quy định vật không tiêu hao là vật qua sử dụng một lần vẫn giữnguyên được hình dáng và tính năng sử dụng ban đầu Ví dụ : Mũ nón, quầnáo,Giày dép, xe máy…
Đối với vật tiêu hao thì không thể là đối tượng của hoạt động cho thuê,mượn Bởi đối tượng hoạt động này phải là tài sản sử dụng mang tính chất lâubền Vật tiêu hao lại là vật sử dụng một lần đã mất đi hình dạng, tính năng banđầu
Vật cùng loại và vật đặc định.
Ngoài cách phân loại trên thì vật còn được phân thành vật cùng loại và vậtđặc định theo Điều 179 của BLDS năm 2005
Vật cùng loại là vật có cùng hình dáng, tính chất, tính năng sử dụng và xácđịnh được bằng đơn vị đo lường.Ví dụ: Rượu và nước giải khát cùng loại của mộtcông ty sản xuất,…
Vật đặc định là vật phân biệt được với các vật khác bằng những điểm riêng
về ký hiệu, hình dáng, màu sắc, chất liệu, đặc tính, vị trí
Ví dụ:Trống đồng được khai thác Đông sơn, cầu Mỹ thuận,
Việc phân loại vật thành vật cùng loại, vật đặc định có ý nghĩa trong khithực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật Đối với vật cùng loại nếu bị hư hỏng, mất…
Trang 7có thể thay bằng vật cùng loại Còn đối với vật đặc định thì nó là vật duy nhấtkhông thể dùng vật khác thay thế cho nó được.
• Vật đồng bộ.
Vật động bộ là tập hợp các vật, mà chỉ có đầy đủ nó mới có giá trị sử dụngđầy đủ Ví dụ như: Bộ ấm chén, Bộ bàn ghế,…Tập hợp các vật phải liên hệ vớinhau thành một chỉnh thể mà nếu thiếu một trong các phần, các bộ phận hoặc cóphần, hoặc bộ phận không đúng quy cách, chủng loại, thông số kỹ thuật, thì không
sử dụng được, hoặc giá trị sử dụng của vật đó bị giảm sút Ta có thể coi vật đồng
bộ là vật có đôi như: Đôi giầy, đôi dép, đôi tất,…Theo nguyên tắc chung vật đồng
bộ là đối tượng thống nhất trong các giao dịch dân sự Vì thế, khi thực hiện nghĩavujchuyeenr giao vật đồng bộ, thì phải chuyển giao toàn bộ các phần hoặc các bộphận hợp thành vật đồng bộ Ngoài ra các bên có thể thoae thuận từng vật trong
“bộ” đó để chuyển giao riêng biệt ví dụ như: Một cái cái bàn, một cái ghế…
tiền Việt Nam
Trong BLDS hiện hành của Việt Nam tuy đã quy định tiền là một loại tàisản, nhưng lại không có những quy định để làm rõ bản chất pháp lý của tiền Tuynhiên thông qua các quan niệm thì có thể đưa ra một số định nghĩa chung nhất vềtiền như sau: “Tiền được sử dụng làm thước đo giá trị của các loại tai sản khác và
nó phải có giá trị lưu hành trên thực tế”
Trang 82.2 Bản chất pháp lý của tiền.
Tiền là một loại tài sản đặc biệt.
Theo Điều 163 đã quy định 4 loại tài sản: vật, tiền, giấy tờ có giá, quyền tàisản Trong đó có thể nói tiền là một loại tài sản đặc biệt Như vậy, chúng ta đã biếttài sản mang tính giá trị và thước đo giá trị chính là tiền Người ta dùng tiền đểxác định giá trị của các loại tài sản, qua đó có thể biết được tài sản nào có giá trịhơn
Như vậy, việc tất cả các tài sản đều có thể quy đổi ra tiền đã tạo nên tínhđặc biệt của loại tài sản
Chức năng của tiền.
Tiền là một loại công cụ thanh toán đa năng: trong thời kỳ xa xưa khi tiền
chưa hình thành, các giao dịch hàng hóa diễn ra bằng phương thức vật đổi lấyvật.Ví dụ: một người bán thóc và cần mua nông cụ còn người bán nông cụ cầnmua vải, như vậy thì giao dịch giữa hai người này sẽ không thể xảy ra vì cái màngười bán thóc bán không phải là cái mà người bán nông cụ cần mua Vì vậy ta cóthể thấy giao dịch chỉ diễn ra khi 2 đáp ứng nhu cầu của nhau Vì thế mà hoạtđộng giao dịch này càng bị hạn chế Cho đến khi tiền ra đời thì quá trình đơn giản
đi rất nhiều Và người bán thóc chỉ cần bán thóc đi lấy tiền và mua nông cụ Vìvậy mà tiền được coi là phương tiện thanh toán hữu hiệu nhất Đặc biệt tiền còn
có thể trao đổi với bất cứ loại tài sản nào Cho nên có thể nó tiền là công cụ thanhtoán đa năng
Tiền là công cụ tích lũy tài sản: có thể nói trong đời sống kinh tế tiền thực
hiện chức năng là công cụ tích lũy khi nó tạm thời rút khỏi lưu thông, trở vàotrạng thái tĩnh, chuẩn bị cho nhu cầu chi dùng trong tương lai Tiền có tính bềnlâu, bởi vậy nên nó thực hiện chức cất giữ giá trị Một vật mau hỏng không được
để làm tiền, chính vì vậy tiền luôn được in trên giấy có chất lượng cao và tiền xuthì làm bằng kim loại Khi tiền xuất hiện người ta dần thay thế tích lũy dưới hìnhdạng tiền tệ Vì hình thái này có nhiều điểm nổi bật như lưu thông dễ dàng và là
Trang 9loại tài sản có tính thanh khoản, lưu thông… Tuy nhiên khi nền kinh tế lạm phátthì việc tích lũy bằng tiền tệ có thể mất giá trị.
Tiền là thước đo giá trị Chức năng này xuất phát khi tiền đo lường và biểu
hiện giá trị của các hàng hóa khác Chúng ta có thể ví đo lường các giá trị củahàng hóa và dịch vụ bằng tiền giống như chúng ta đo lường khối lượng bằngkilôgam hoặc đo khoảng cách bằng mét Khi tiền chưa xuất hiện thì công việc nàydiễn ra khá phức tạp Ví dụ : trong nền kinh tế chỉ có 3 mặt hàng: gạo, vải , muốithì có 3 giá trị để trao đổi thứ này với thứ khác: giá của một mét vải tính bằng baonhiêu kg gạo, giá của một mét vải tính bằng bao nhiêu kg muối, giá của một kggạo tính bằng bao nhiêu cân muối Cho đến khi nền kinh tế phát triển hơn, chúng
ta có nhiều hàng hóa để trao đổi hơn thì việc xác định vật này rẻ hơn vật kia hayngược lại là vấn đề hết sức khó khăn vì phải so sánh với giá của nhiều mặt hàng.Cho đến khi tiền được đưa vào nền kinh tế và dùng để thể hiện giá trị của tất cảcác mặt hàng, như vậy chúng ta có thể dễ dàng so sánh các mặt hàng với nhau.Với việc đảm nhận chức năng thước đo giá trị, tiền tệ đã giúp cho mọi việc tínhtoán trong nền kinh tế trở nên đơn giản như tính thu nhập, thuế, chi phí sinhhoạt…
2.3 Phân biệt tiền và vật
Theo quy định Điều 163 BLDS năm 2005 thì tiền và vật cùng là tài sảnnhưng giữa chúng lại có những điểm khác biệt về đặc điểm pháp lý
Đối với vật có thể khai thác công dụng hữu ích từ chính vật đó Ví dụ:
xe máy dùng để đi, cốc dùng để uống nước… còn đối với tiền thì không thể khaithác công dụng từ chính tiền Tiền có thể được làm bằng giấy hoặc làm bằng kimloại nhưng để khai thác công dụng của nó một cách trực tiếp thì sẽ không thuđược hiệu quả Mà tiền chỉ thể hiện lợi ích của chúng qua cách thực hiện chứcnăng của nó: công cụ thanh toán đa năng, công cụ tích lũy tài sản, công cụ địnhgiá
Tiền chỉ có thể được tạo ra bởi nhà nước, việc phát hành do nhà nướcđộc quyền còn vật có thể do rất nhiều các chủ thẻ khác tạo ra
Trang 10Chủ sở hữu vật được quyền tiêu hủy vật thuộc sở hữu hợp pháp của mình,nhưng chủ sở hữu tiền không được tiêu hủy tiền( không được xé, sử, thay đổi kíchthước của tiền.) Theo Điều 3 nghị quyết 130/2003/NQ – TTg về bảo vệ tiền tệ.
Bên cạnh đó thì vật được xác định số lượng bằng những đơn vị đo lườngkilogam,mét Thì tiền được xác định thông qua mệnh giá của nó
3.Giấy tờ có giá:
3.1 Định nghĩa giấy tờ có giá:
Giấy tờ có giá là loại tài sản phổ biến trong giao lưu dân sự hiện nay đặcbiệt là giao dịch trong các hệ thống ngân hàng và tổ chức tín dụng Nó được hiểu
là giấy tờ trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự Giấy
tờ có giá hiện nay tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau như séc, cổ phiếu, trái phiếu,công trái…
3.2 Đặc điểm giấy tờ có giá
Dưới góc độ pháp lý, giấy tờ có giá với tư cách là một hình thức pháp lýcủa tài sản trong quan hệ dân sự có các đặc điểm sau:
- Xét về mặt hình thức, giấy tờ có giá là một chứng chỉ được lập theohình thức, trật tự luật định; nội dung thể hiện trên giấy tờ có giá là thể hiệnquyền tài sản, giá của giấy tờ có giá là giá trị quyền tài sản và quyền này đượcpháp luật bảo vệ;
- Giấy tờ có giá là công cụ có thể chuyển nhượng với điều kiện chuyểnnhượng toàn bộ một lần, việc chuyển nhượng một phần giấy tờ có giá là vôhiệu;
- Chủ thể phát hành giấy tờ có giá rộng hơn tiền, có thể do các chủ thểkhác nhau phát hành (Nhà nước, các tổ chức ngân hàng phát hành theo trình tựluât định );
- Do dặc trưng của tài sản là có thể chuyển giao trong giao lưu dân sựnên chủ sở hữu giấy tờ có giá là một lớp người không ổn định;
- Không phải loại giấy tờ có giá nào cũng được coi là tài sản trong phápluật dân sự