1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luật thương mại nhóm an, bình, minh góp vốn thành lập CTTNHH đại dương năm 2009 an góp bằng ngôi nhà đứng tên mình, lúc đó trị giá 2 tỷ bình góp bằng

12 92 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 33,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, khi An, Bình, Minh muốn góp vốn vào công ti trách nhiệm hữu hạn Đại Dương, họ phải không nằm trong các đối tượng là cá nhân bị pháp luật cấm tham gia quản lí và góp vốn trong cô

Trang 1

A MỞ BÀI

Công ty TNHH là một loại công ty đối vốn “đặc biệt”, khi mà ở nó ngoài đặc trưng “trách nhiệm hữu hạn” của loại công ty đối vốn ra còn có cả đặc điểm của công ty đối nhân Có thể coi công ty trách nhiệm hữu hạn là “đứa con lai” của công

ty đối nhân và đối vốn Công ty Trách nhiệm hữu hạn có nhiều ưu điểm hơn hẳn các loại hình công ty khác, thỏa mãn được nhu cầu của phần đông nhà đầu tư kể cả vừa và nhỏ Tuy nhiên đặc trưng về vốn góp và chế độ trách nhiệm hữu hạn của một công ty đối vốn vẫn thể hiện rất mạnh mẽ Mong muốn tìm hiểu và nắm rõ vấn

đề này, nhóm chúng em xin lựa chọn đề tài số 4 về việc tranh chấp vốn góp của công ty TNHH Đại Dương làm đề tài nghiên cứu của mình

B NỘI DUNG

I Lý luận chung về Công ty TNHH.

Công ty trách nhiệm hữu hạn là loại hình doanh nghiệp có tư cách pháp nhân được pháp luật thừa nhận (Luật Doanh nghiệp 2005) Theo đó, chủ sở hữu công ty và công ty là hai thực thể pháp lý riêng biệt Trước pháp luật, công ty là pháp nhân, chủ sở hữu công ty là thể nhân với các quyền và nghĩa vụ tương ứng với quyền sở hữu công ty

Theo quy định của Luật doanh nghiệp 2005 thì công ty TNHH được chia thành 2 loại: Công ty TNHH 1 thành viên và công ty TNHH 2 thành viên trở lên

Sự khác biệt cơ bản giữa hai loại hình doanh nghiệp này là nằm ở cơ cấu tổ chức quản lý hay cách thực hiện quyền chủ sở hữu

Dù là công ty TNHH 1 thành viên hay công ty TNHH 2 thành viên thì đều

có các đặc điểm sau: số lượng thành viên không quá 50; trách nhiệm của các thành viên giới hạn trong phạm vi số vốn cam kết góp vào công ty; phần vốn góp chuyển nhượng được, nhưng có điều kiện; công ty là một pháp nhân độc lập và tách biệt về

1

Trang 2

trách nhiệm với các thành viên và công ty TNHH không được phát hành chứng khoán

Mặc dù không có quyền phát hành chứng khoán để thu hút vốn cho hoạt động kinh doanh như loại hình công ty cổ phần nhưng loại hình công ty TNHH lại được rất nhiều người lựa chọn để tiến hành cùng nhau hợp tác kinh doanh bởi do đặc tính chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn góp vào công ty và việc chuyển nhượng vốn của các thành viên góp vốn bị hạn chế hơn so với loại hình công ty cổ phần

II Khái quát thủ tục góp vốn vào công ty

2.1 Xác định đối tượng góp vốn

Tất cả các tổ chức là pháp nhân, bao gồm cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, không phân biệt nơi đăng ký trụ sở chính và mọi cá nhân không phân biệt quốc tịch và nơi cư trú, nếu không thuộc đối tượng quy định tại khoản 2 Điều

13 của Luật Doanh nghiệp đều có quyền góp vốn với mức không hạn chế tại doanh nghiệp theo quy định tương ứng của Luật Doanh nghiệp

Như vậy, khi An, Bình, Minh muốn góp vốn vào công ti trách nhiệm hữu hạn Đại Dương, họ phải không nằm trong các đối tượng là cá nhân bị pháp luật cấm tham gia quản lí và góp vốn (trong công ti TNHH, người góp vốn đương nhiên là thành viên Hội đồng thành viên và được coi là người quản lý công ty) theo quy định của Luật Doanh nghiệp, cụ thể là:

- Cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức

- Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong các

cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam

- Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong các doanh nghiệp 100% vốn sở hữu nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo uỷ quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác

2

Trang 3

- Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự

- Người đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị Toà án cấm hành nghề kinh doanh

- Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản

2.2 Xác định loại tài sản góp vốn

Tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công

ty.1

Trong trường hợp công ti TNHH Đại Dương, phần vốn góp của An, Bình và Minh phải được chuyển quyền sở hữu cho công ti theo quy định tại Điều 29 Luật Doanh nghiệp Ngôi nhà của An là bất động sản, thuộc vào loại tài sản có đăng kí quyền sở hữu nên An phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu ngôi nhà cho công ti tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Máy móc, thiết bị do Bình góp và tiền do Minh góp thuộc loại tài sản không đăng kí quyền sở hữu, việc góp vốn phải được thực hiện bằng việc giao nhận tài sản góp vốn giữa Bình, Minh với công ti TNHH Đại Dương có xác nhận bằng biên bản

2.3 Định giá tài sản góp vốn

Việc định giá tài sản góp vốn của mỗi thành viên được quy định trong Điều

30 Luật Doanh nghiệp 2005, cụ thể trong trường hợp này là khoản 2 Điều 30 (quy định về định giá tài sản góp vốn khi thành lập doanh nghiệp) Tài sản góp vốn của

An và Bình không phải là tiền nên sẽ được định giá bởi các thành viên sáng lập theo nguyên tắc nhất trí Nếu tài sản góp vốn được định giá cao hơn so với giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì các thành viên, cổ đông sáng lập liên đới chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bằng số

1 Xem Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005

3

Trang 4

chênh lệch giữa giá trị được định và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá Giá trị 2 tỉ của ngôi nhà và 3 tỉ của máy móc, thiết bị là giá trị do các thành viên sáng lập công ti TNHH Đại Dương thống nhất với nhau

2.4 Cấp giấy chứng nhận góp vốn

Tại thời điểm góp đủ giá trị phần vốn góp, An, Bình và Minh sẽ được công ti TNHH Đại Dương cấp giấy chứng nhận phần vốn góp Giấy chứng nhận phần vốn góp có các nội dung theo quy định tại khoản 4 Điều 39 Luật Doanh nghiệp 2005, trong đó có ghi cụ thể phần vốn góp và giá trị phần vốn góp (ngôi nhà trị giá 2 tỉ với An, máy móc thiết bị trị giá 3 tỉ với Bình và tiền mặt 4 tỉ với Minh) Trường hợp, giấy chứng nhận phần vốn góp bị mất, bị rách, bị cháy hoặc bị tiêu huỷ dưới hình thức khác, thành viên được công ty cấp lại giấy chứng nhận phần vốn góp

III Xác định tư cách thành viên của An

Theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2005, cá nhân, tổ chức có thể xác lập

tư cách thành viên công ty TNHH bằng nhiều cách thức khác nhau như góp vốn trực tiếp vào công ty, nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, nhận tặng cho, nhận trả

nợ bằng phần vốn góp2 từ thành viên công ty Nếu như chủ thể góp vốn trực tiếp vào công ty, nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế phần vốn góp của thành viên công

ty sẽ đương nhiên trở thành thành viên công ty mà không cần có sự phê chuẩn của

Hội đồng thành viên công ty3 nếu các chủ thể này không thuộc các trường hợp bị cấm góp vốn vào công ty4 theo Khoản 4 Điều 13 Luật Doanh nghiệp 2005

Trường hợp của An là trực tiếp góp vốn vào công ty để trở thành thành viên của công ty TNHH Đại Dương An được phép giữ ngôi nhà cho đến khi công ty

2 : Điều 4 khoản 5 Luật DN: “Phần vốn góp là tỷ lệ vốn mà chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu chung của công ty góp vào vốn điều lệ.”

3 : Xem khoản 4 điều 4, điều 44, điều 45 Luật DN

4 : Xem khoản 4 điều 13 Luật DN

4

Trang 5

yêu cầu An phải sang tên chuyển nhượng ngôi nhà Và An sẽ được hưởng lợi nhuận theo giá trị của ngôi nhà khi ông An tiến hành góp vốn thành lập công ty

Ngoài ra, An có nghĩa vụ phải sang tên chuyển nhượng ngôi nhà cho công ty khi công ty yêu cầu Sau khi hoàn thành việc chuyển quyền sở hữu ngồi nhà sang cho công ty, An sẽ được cấp giấy chứng nhận phần vốn góp theo quy định tại khoản 4 Điều 39 Luật Doanh nghiệp 2005 Khi công ty yêu cầu mà An không hoàn thành việc sang tên chuyển nhượng tài sản cho công ty đúng thời hạn thì số vốn chưa góp tức là ngôi nhà được coi là nợ của An và An sẽ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh do không góp đủ số vốn

Tóm lại, có thể kết luận, việc góp đủ hay chưa đủ vốn theo cam kết không phải là yếu tố quyết định trong việc xác lập tư cách thành viên An hoàn toàn có tư cách thành viên của công ty TNHH Đại Dương mà An cùng Bình và Minh góp vốn thành lập

IV Cách thức giải quyết vụ việc

4.1 Tóm tắt vụ việc:

An, Bình, Minh góp vốn thành lập CTTNHH Đại Dương năm 2009 An góp bằng ngôi nhà đứng tên mình, lúc đó trị giá 2 tỷ; Bình góp bằng máy móc trị giá 3 tỷ; Minh góp bằng tiền mặt là 4 tỷ CTTNHH Đại Dương làm ăn tốt, lợi nhuận của các thành viên chia tương ứng với tỷ lệ vốn góp (góp thật, không cam kết) Ngôi nhà An dùng làm tài sản góp vốn vẫn đứng tên An, 3 thành viên thỏa thuận bao giờ công ty yêu cầu thì An sẽ phải chuyển quyền sở hữu cho công ty, thực tế công ty chưa yêu cầu Năm 2013, giá trị ngôi nhà ngôi nhà của An tăng lên đến 10 tỉ

An đã đến công ty yêu cầu Bình và Minh:

5

Trang 6

- Hoặc phải cho An rút ngôi nhà ra, nộp vào CT 2 tỷ tiền mặt tương ứng với giá trị phần vốn góp lâu nay của An;

- Hoặc phải sửa phần vốn góp của An là 10 tỷ tương tương với giá trị ngôi nhà, chứ không phải 2 tỷ như lâu nay

Bình và Minh không đồng ý yêu cầu của An, do đó An làm đơn ra Tòa án yêu cầu giải quyết tranh chấp giữa công ty và thành viên công ty liên quan đến tài sản góp vốn

4.2 Giải quyết vụ việc

4.2.1 Tại thời điểm An kiện ra tòa, tài sản là ngôi nhà thuộc quyền sở hữu của An.

Trước hết, ta xác định việc chuyển quyền sở hữu tài sản của thành viên vào công ty Trách nhiệm hữu hạn chính là một giao dịch

Theo điểm a khoản 1 Điều 29 (Luật Doanh nghiệp) : đối với tài sản có đăng

kí hoặc giá trị quyền sử dụng đất thì người góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền

sở hữu tài sản đó hoặc quyền sử dụng đất cho công ty tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Những tài sản quy định của pháp luật phải đăng kí, sang tên, xin phép thì quyền sở hữu được xác lập từ thời điểm hoàn tất các thủ tục của giao dịch hợp pháp.5

Trường hợp này là giao dịch chuyển quyền sở hữu bất động sản cụ thể là ngôi nhà, giao dịch chuyển quyền sở hữu bất động sản chỉ có hiệu lực tính từ thời điểm đăng kí quyền sở hữu Ngôi nhà vẫn đứng tên An có nghĩa là An chưa tiến hành đăng kí chuyển quyền sở hữu Vì vậy, giao dịch này chưa hoàn thành

5 Theo giáo trình Luật dân sự Việt Nam – trang 215 (tập 1)(Đại học Luật Hà Nội, NXB CAND)

6

Trang 7

Từ đó, có thể kết luận rằng : Tại thời điểm An kiện ra tòa, tài sản (ngôi nhà) vẫn thuộc quyền sở hữu của An

4.2.2 An có nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu ngôi nhà cho công ty khi có yêu cầu

Nếu chấp nhận yêu cầu của An, lợi ích của công ty sẽ không được đảm bảo Đứng trước tình huống này, công ty chắc chắn sẽ yêu cầu ông An chuyển quyền sở hữu ngôi nhà sang cho công ty, và công ty có quyền ra yêu cầu đó

Theo thỏa thuận ban đầu lúc góp vốn : "3 thành viên thỏa thuận bao giờ công

ty yêu cầu thì An sẽ phải chuyển quyền sở hữu cho công ty", vì thế khi An chưa chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho công ty thì An vẫn chưa hoàn thành nghĩa

vụ góp vốn

Nếu An không đồng ý chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho công ty khi

có yêu cầu thì căn cứ vào điều 39 Luật doanh nghiệp (được sửa đổi, bổ sung năm 2013) An phải chịu trách nhiệm về việc không hoàn thành nghĩa vụ góp vốn của mình

Điều 39 Luật Doanh nghiệp có quy định :

"2 Trường hợp có thành viên không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết thì số vốn chưa góp được coi là nợ của thành viên đó đối với công ty; thành viên đó phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh do không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết

Sau thời hạn cam kết lần cuối mà vẫn có thành viên chưa góp đủ số vốn đã cam kết thì số vốn chưa góp được xử lý theo một trong các cách sau đây:

a) Một hoặc một số thành viên nhận góp đủ số vốn chưa góp;

b) Huy động người khác cùng góp vốn vào công ty;

7

Trang 8

c) Các thành viên còn lại góp đủ số vốn chưa góp theo tỷ lệ phần vốn góp của họ trong vốn điều lệ công ty

Sau khi số vốn còn lại được góp đủ theo quy định tại khoản này, thành viên chưa góp vốn theo cam kết đương nhiên không còn là thành viên của công ty và công ty phải đăng ký thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật này."

Việc An không thực hiện thủ tục chuyển quyền sở hữu để hoàn thành nghĩa

vụ góp vốn khi công ty yêu cầu sẽ được xử lí như theo quy định trên Khi đó, thiệt hại mà An phải chịu là rất lớn

Trong sự so sánh lợi ích và thiệt hại, chắc chắn An sẽ tiến hành chuyển quyền sở hữu ngôi nhà mình đang đứng tên thành tài sản của công ty Chúng ta sẽ giải quyết yêu cầu của An khi ngôi nhà đã thuộc quyền sở hữu của công ty

4.2.3 Giải quyết yêu cầu đầu tiên của An

Yêu cầu 1 : "An muốn rút ngôi nhà ra, nộp vào công ty 2 tỷ tiền mặt tương ứng với giá trị phần vốn góp lâu nay của An"

Điều 42 Luật Doanh nghiệp quy định về nghĩa vụ của thành viên : "không được rút vốn đã góp ra khỏi công ty dưới mọi hình thức, trừ trường hợp quy định tại các điều 43, 44, 45 và 60 của Luật này" Trường hợp của An không thuộc các điều 43, 44, 45, 60 của Luật Doanh nghiệp nên An không có quyền rút ngôi nhà ra

Nếu An muốn thay đổi loại tài sản góp vốn?

Khi thành viên thực hiện xong nghĩa vụ góp vốn của mình thì quan hệ góp vốn giữa họ và công ty đã chấm dứt Vì thế không thể xuất hiện tình trạng làm thay đổi quan hệ góp vốn này được Luật Doanh nghiệp cũng chỉ quy định trường hợp thành viên thay đổi loại tài sản góp vốn đã cam kết, vì trong thời hạn đó thì quan hệ

8

Trang 9

góp vốn giữa thành viên và công ty chưa chấm dứt Vì thế, việc thay đổi tài sản góp vốn sau khi góp vốn là không thể thực hiện được

Nếu ông An vẫn muốn sở hữu ngôi nhà ?

Ngôi nhà đã đứng tên công ty, nếu An muốn sở hữu ngôi nhà thì An phải mua lại tài sản này từ công ty Giá của ngôi nhà tại thời điểm năm 2013 khi xảy ra tranh chấp là 10 tỉ, vì thế công ty có thể bán ngôi nhà này cho An với giá 10 tỉ hoặc một mức giá khác phù hợp theo thỏa thuận của hai bên (Theo khoản 2 điều 43 Luật Doanh nghiệp: "Khi có yêu cầu của thành viên quy định tại khoản 1 điều này, nếu không thỏa thuận được về giá thì công ty phải mua lại phần vốn đã góp của thành viên đó theo giá của thị trường hoặc giá được định theo nguyên tắc quy định tại điều lệ công ty trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày có yêu cầu") Tuy nhiên, nếu công ty không đồng ý bán ngôi nhà này, tức là công ty vẫn muốn giữ tài sản của công ty dưới hình thức là ngôi nhà, hoặc giữa An và công ty không đi đến thảo thuận chung về mức giá bán ngôi nhà, thì ngôi nhà vẫn là tài sản của công ty, An không còn quyền sở hữu ngôi nhà

4.2.4 Giải quyết yêu cầu thứ hai của An

Nếu yêu cầu 1 không được thực hiện, An có yêu cầu khác như sau : "Phải sửa phần vốn góp của An là 10 tỷ tương tương với giá trị ngôi nhà, chứ không phải

2 tỷ như lâu nay"

Yêu cầu của An trong trường hợp này chính là việc định giá lại ngôi nhà với giá trị là 10 tỉ

Điều 30 Luật Doanh nghiệp quy định về việc định giá tài sản :

9

Trang 10

"1 Tài sản góp vốn không phải là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng phải được các thành viên, cổ đông sáng lập hoặc tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá

2 Tài sản góp vốn khi thành lập doanh nghiệp phải được các thành viên, cổ đông sáng lập định giá theo nguyên tắc nhất trí; nếu tài sản góp vốn được định giá cao hơn so với giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì các thành viên, cổ đông sáng lập liên đới chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bằng số chênh lệch giữa giá trị được định và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá

3 Tài sản góp vốn trong quá trình hoạt động do doanh nghiệp và người góp vốn thoả thuận định giá hoặc do một tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá Trường hợp tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá thì giá trị tài sản góp vốn phải được người góp vốn và doanh nghiệp chấp thuận; nếu tài sản góp vốn được định giá cao hơn giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì người góp vốn hoặc tổ chức định giá và người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp cùng liên đới chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bằng số chênh lệch giữa giá trị được định và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá."

Thứ nhất, tài sản góp vốn là ngôi nhà phải được định giá

Thứ hai, ngôi nhà phải được định giá theo giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn chứ không phải tại thời điểm hoàn thành nghãi vụ góp vốn Thời điểm góp vốn trong trường hợp này là năm 2009 khi công ty được thành lập

Thứ ba, tại thời điểm góp vốn, các thành viên đã định giá ngôi nà là 2 tỉ đúng với giá trị thực tế của nó lúc đó

Vì thế, việc định giá đã hoàn tất tại thời điểm góp vốn với giá trị ngôi nhà là

2 tỉ, không có việc định giá lại tài sản góp vốn

10

Ngày đăng: 25/03/2019, 09:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w