1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kháng cáo phúc thẩm trong tố tụng hình sự

17 144 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 45,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm Có nhiều quan điểm khác nhau về kháng cáo: - Theo đại từ điển Tiếng việt : “ Kháng cáo là chống án, yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử” - Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học

Trang 1

A ĐẶT VẤN ĐỀ

Để đảm bảo sự thận trọng trong việc xét xử cũng như đảm bảo quyền được pahrn đối lại bản án, quyết định của Tòa án của bị cáo và những người có liên quan, luật TTHS Việt Nam quy định “Nguyên tắc hai cấp xét xử” theo đó, bảo án

và quyết định sơ thẩm sau khi tuyên án có thể bị kháng cáo, kháng nghị để xét xử một lần nữa nhằm khắc phục những sai lầm, thiếu sót của Tòa án cấp sơ thẩm, đảm bảo áp dụng thống nhất pháp luật Bài tiểu luận sau sẽ tìm hiểu kĩ hơn về kháng cáo phúc thẩm trong TTHS

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I MỘT SỐ VẪN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHÁNG CÁO PHÚC THÂM

1 Khái niệm

Có nhiều quan điểm khác nhau về kháng cáo:

- Theo đại từ điển Tiếng việt : “ Kháng cáo là chống án, yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử”

- Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học – NXB CAND: “Kháng cáo là người tham gia tố tụng có quyền và lợi ích hợp pháp trong vụ án yêu cầu TA cấp phúc thẩm xét xử lại bản án, quyết định sơ thẩm”

- Theo tác giả Đinh Văn Quế: “Kháng cáo là biểu thị sự bất đồng của mình đối với bản án hoặc quyết định của TA cấp sơ thẩm để yêu cầu TA cấp trên xét xử lại”.

- Theo từ điển Luật học – NXB Từ điển Bách Khoa: “Kháng cáo là quyền theo luật định của những người tham gia tố tụng được đề nghị TA cấp trên trực tiếp xem xét lại bản án, quyết định sơ thẩm đang còn trong thời gian kháng cáo”

- Theo giáo trình Luật TTHS VN của trường Đại học Luật Hà Nội: “Kháng cáo là quyền của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật được đề nghị

Trang 2

TA cấp trên trực tiếp xét lại bản án và quyết địn của TA cấp sơ thẩm chưa có hieuj lực pháp luật”

Nhìn chung, các quan điểm nêu trên chưa đưa ra một khái niệm chính xác về kháng cáo phúc thẩm, nhưng đều có những điểm chung, có thể đưa ra khái niệm như sau:

“Kháng cáo theo phúc thẩm là quyền của những người tham gia tố tụng mà pháp luật cho phép được đề nghị Tòa án cấp trên trực tiếp của Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại hoặc xét lại bản án quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật”

2 Ý nghĩa

Kháng cáo phúc thẩm là một chế định có vị trí và vai trò quan trọng không thể thiếu trong pháp luật TTHS Xét cả về mặt lí luận và thực tiễn, nếu không có thủ tục này thì hàng năm sẽ có nhiều bản án quyết định của TA sơ thẩm thiếu căn cứ, không hợp pháp vẫn được mang ra thi hành Điều đó đồng nghĩa với việc quyền

và lợi ích hợp pháp của bị cáo không được bảo vệ và nguyên tắc hai cấp xét xử không đạt hiệu quả Do đó, kháng cáo có ý nghĩa chính trị, pháp lí xã hội quan trọng

Ý nghĩa chính trị : Việc quy định và thực hiện chế định kháng cáo phúc thẩm trong

TTHS có ý nghĩa quan trọng trong việc đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Pháp luật quy định quyền kháng cáo phúc thẩm cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác chính là việc Nhà nước đã tạo điều kiện cho công dân tự mình đứng ra bảo về các quyền lợi và lợi ích hợp pháp của mình Đây là nguyên tắc thể hiện thái độ thận trọng của nhà nước trong việc đưa ra Bên cạnh đó, bị cáo

và người đại diện hợp pháp của họ thực hiện quyền kháng cáo là một trong những cách thức để họ thực quyền bào chữa cho bị cáo Thông qua việc kháng cáo, bị cáo

và những người tham gia tố tụng khác thể hiến sợ bất đồng về việc giải quyết vụ

Trang 3

án của TA cấp sơ thẩm, đồng thời đưa ra những yêu cầu của mình đối với TA cấp phúc thẩm , qua đó để bảo về quyền và lợi ích của mình

Từ nội dung kháng cáo, các cơ quan tiếng hành tố tụng có điều kiện thấy được những vướng mắc trong các quy định của pháp luật, từ đó kiến nghị sửa đổi, bổ sung kịp thời, phát hiện những sai lầm, thiếu sót nhằm khắc phục, đảm bảo vụ án được giải quyết đúng đắn, khách quan, công bằng và đúng pháp luật, nhằm hoàn thiện pháp luật, đảm bảo được nguyên tắc pháp chế XHCN

Ý nghĩa xã hội: Quyền kháng cáo là một trong những biểu hiện của dân chủ và

tiến bộ, vốn là những thuộc tính quan trọng của hệ thống tư pháp hình sự hiện đại

Sự ra đời của quyền kháng cáo trong tố tụng hịnh sự là nhu cầu tất yếu khách quan xuất phát từ bản chất tố tụng hình sự là bảo vệ ngày càng hiệu quả hơn quyền con người trong lĩnh vực đặc thù

- Là cơ quan xét xử duy nhất của Nhà nước, Tòa án có vai trò quan trọng đối với

xã hội Các bản án, quyết định của Tòa án có ảnh hưởng to lớn tới toàn xã hội Muốn các bản án, quyết định của Tòa án có ảnh hưởng tích cực tới xã hội thì các bản án, quyết định đó phải chính xác, công bằng, minh bạch, được mọi người đồng tình Để đảm bảo các sai sót được sửa chữa kịp thời, nhanh chóng thì kháng cáo có vai trò đặc biệt quan trọng

- Thông qua việc xem xét lại các quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm, các vụ việc được giải quyết thấu đáo, chính xác, tăng cường niềm tin của nhân dân vào pháp luật,vào nhà nước pháp quyền Quyền kháng cáo được thực hiện hiệu quả góp phần đảm bảo trật tự xã hội, đảm bảo pháp luật được thực thi nghiêm chỉnh, tránh gây ra những hậu quả đáng tiếc ảnh hưởng tới toàn xã hội

II NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TTHS VỀ KHÁNG CÁO

THEO THỦ TỤC PHÚC THẨM

1 Đối tượng của kháng cáo

Trang 4

Bộ luật TTHS hiện hành chưa có quy định riêng cụ thể về đối tượng của kháng cáo mà được quy định đan xen trong các điều luật khác nhau

Quy định tại Điều 203 BLTTHS có nêu:

“xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị”

Điều luật này đã gián tiếp quy định đối tượng của kháng cáo là những bản án, quyết đinh sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật Những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật không phải là đối tượng của kháng cáo phúc thẩm

Theo quy định của luật TTHS, tất cả các bản án sơ thẩm đều có thể là đối tượng của kháng cáo, không kể nội dung bản án đó như thế nào

2 Chủ thể của quyền kháng cáo

Phạm vi kháng cáo của từng chủ thể khác nhau, điều đó có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc chủ động thực hiện quyền năng của từng chủ thế cũng như đảm bảo tính hợp pháp của kháng cáo

Chủ thể có quyền kháng cáo được quy định tại Điều 233 BLTTHS và được hướng dẫn cụ thể tại nghị quyết số 05 Theo đó, những chủ thể sau có quyền kháng cáo trộng phạm vi luật định:

a Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo có quyền kháng cáo bản án hoặc quyết định sơ thẩm.

- Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo có quyền kháng cáo toàn bộ hoặc một phần bản án của Tòa án cấp sơ thẩm có liên quan đến mình nếu thấy bản án đó chưa hợp lý

Trang 5

- Theo NQ số 05/2005/NQ-HĐTP ngày 08/052005 của Hội đồng thẩm phán Tòa

án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ tư “ xét xử phúc thẩm” của Bộ luật TTHS thì người đại diện hợp pháp của bị cáo là người đại diện theo pháp luật

- Theo quy định tại Điều 50 BLTTHS, bị cáo là “Người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử” Như vậy, bị cáo tham gia tố tụng từ khi có quyết định đưa vụ án ra

xét xử đến khi bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật Là chủ thể chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ bản án hay quyết định sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo là điều tất yếu khi kháng cáo của bị cáo hợp pháp, Tòa án cấp phúc thẩm phải xem xét và giải quyết kháng cáo Bị cáo có thể nêu mục đích của việc kháng cáo như: xin giảm hình phạt, thay đổi tội danh nhẹ hơn, giảm mức bồi thường,…Để bị cáo có thể yên tâm thực hiện quyền kháng cáo, luật TTHS quy định, nếu chỉ có kháng cáo của bị cáo mà không có kháng cáo, kháng nghị theo hướng tăng nặng nào khác thì Tòa án cấp phúc thẩm không có quyền sửa bản án theo hướng bất lợi cho bị cáo Những người thân thích của bị cáo đã thành niên như: cha, mẹ, vợ, chồng, con không được quyền kháng cáo thay cho bị cáo

- Trong trường hợp bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất thì người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo bản án hoặc quyết định sơ thẩm để bảo vệ lợi ích cho họ

Người được Tòa tuyên vô tội cũng có quyền kháng cáo về phần nhận định của bản án sơ thẩm đã tuyên là học không có tội Luật TTHS hiện hành không hạn chế hướng kháng cáo của bị cáo

b Người bào chữa

- Để đảm bảo việc bảo vệ quyền lợi cho bị cáo bị hạn chế về năng lực hành vi tố tụng, luật TTHS Việt Nam quy định người bào chữa có quyền kháng cáo để bảo vệ

Trang 6

lợi ích của bị cáo chưa thành niên hoặc có nhược điểm về tâm thần hoặc thẻ chất đây là quyền kháng cáo độc lập của người bào chữa, không phụ thuộc vào việc bị cáo có đồng ý hay không đồng ý Trong trường hợp người bào chữa kháng cáo, bị cáo vẫn có quyền kháng cáo

- Theo quy định tại Điều 56 BLTTHS thì người bào chữa có thể là luật sư, người đại diện hợp pháp của bị cáo, bào chữa viên nhân dân Pháp luật TTHS hiện hành không quy định rõ phạm vi của chủ thể này

c Người bảo vệ quyền lợi của đương sự

Theo quy định tại Điều 59 BLTTHS, người bảo vệ quyền lợi của đương sự là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất bao gồm: luật sư, bào chữa viên nhân dân hoặc người khác được Cơ quan điều tra, VKS, Tòa án chấp nhận bảo vệ quyền lợi cho mình Đây là quyền kháng cáo độc lập của người bảo vệ quyền lợi của đương sự , không phải do đương sự ủy quyền

d Người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại.

- Người bị hại và đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về phần hình phạt cũng như phần bồi thường

- Nếu người bị hại chưa thành niên hoặc có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất

thì đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo Theo NQ số 05 thì : “Trong trường hợp người bị hại chỉ kháng cáo phần bản án hoặc quyết định sơ thẩm có liên quan đến việc bồi thường thiệt hại thì họ có thể ủy quyền cho người khác Người được ủy quyền có các quyền và nghĩa vụ như người đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự” Nếu người bị hại chết thì đại diện hợp pháp của họ thực hiện

quyền kháng cáo Luật TTHS Việt Nam hiện hành không hạn chế hướng kháng cáo của người bị hại, họ có thể kháng cáo với yêu cầu tăng nặng, hoặc giảm nhẹ đối với bị cáo Điều đó được quy định chit iết tại NQ số 05/2005/NQ-HĐTPND

Trang 7

e Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của họ.

Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định của Tòa án có liên quan đến việc bồi thường thiệt hại Do nguyên đơn, bị đơn dân sự tham gia vụ án hình sự để giải quyết vấn đề dân sự phát sinh trong vụ án hình sự, vì vậy, quyền kháng cáo của họ chỉ hạn chế trong phạm vi những phần bản án, quyết định liên quan đến việc bồi thường thiệt hại

f Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện hợp pháp của họ

Theo Khoản c Điều 54 và Điều 231 BLTTHS, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người đại dieenh hợp pháp của họ có quyền kháng cáo phần bản

án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của

họ mà không được kháng cáo các phần khác như phần hình phạt, phần bồi thường thiệt hại

3 Hình thức và thủ tục kháng cáo

Thủ tục kháng cáo được BLTTHS quy định như sau:

Người kháng cáo có thể gửi đơn đến Tòa án đã xử sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm hoặc có thể trình bày trực tiếp với Tòa án đã xét xử sơ thẩm về việc kháng cáo Nếu kháng cáo bằng miệng, Tòa án dã xử sơ thẩm phải lập biên bản về việc kháng cáo Người lập biên bản phải giải thích cho người yêu cầu kháng cáo nói rõ

lý do và yêu cầu kháng cáo Trong trường hợp bị cáo đang bị tạm giam, Ban giám thị trại giam phải tiếp nhận và gửi ngay đơn kháng cáo của bị cáo đến Tòa án đã xử

sơ thẩm

4 Thời hạn kháng cáo

- Theo quy định tại Khoảng 1 Điều 124 BLTTHS: “Thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án”

Trang 8

- Trường hợp Tòa xử vắng mặt bị cáo hoặc đương sự tại phiên tòa thì đối với họ, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày bản sao bản án được gioa cho họ hoặc được niêm yết Ngày đầu tiên của thời hạn kháng cáo được xác định là ngày tiếp theo của ngày tuyên án Nếu ngày cuối cùng của thời hạn kháng cáo là ngày nghỉ, ngày

lễ tết thì ngày cuối cùng của thời hạn kháng cáo được tính là ngày làm việc tiếp theo của ngày đó Thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hạn là 12h đêm của ngày đó Cụ thể hơn tại NQ số 05/2005/NQ-HĐTP

- Ngày kháng cáo được tính là ngày mà chủ thể kháng cáo thực hiện việc kháng cáo Nếu đơn kháng cáo gửi qua bưu điện thì ngày kháng cáo được tính căn cứ vào dấu bưu điện Nếu đơn kháng cáo gửi qua Ban giám thị trại giam thì ngày kháng cáo được tính căn cứ vào ngày BGT trại giam nhận được đơn kháng cáo

Việc kháng cáo quá hạn có thể chấp nhận được nếu có lý do chính đáng

5 Thông báo về việc kháng cáo

Theo quy định tại Điều 236 BLTTHS thì khi có kháng cáo, Tòa án cấp sơ thẩm phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp và những người tham gia

tố tụng trong thời hạn bảy ngày về nội dung kháng cáo, về những phần liên quan đến quyền lợi của họ Đối với bị cáo, việc thông báo đảm bảo cho họ có điều kiện thực hiện tốt quyền bào chữa tại phiên tòa phúc thẩm Người được thông báo về việc kháng cáo có quyền gửi ý kiến của mình cho Tòa án cấp phúc thẩm

6 Hậu quả của kháng cáo

Trong thời hạn kháng cáo, toàn bộ bản án của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật Khi thời hạn kháng cáo hết mà có đơn kháng cáo thì những phần của bản án bị kháng cáo chưa có hiệu lực pháp luật nên chưa được đưa ra thi hành, trừ một số trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 255 BLTTHS Đó là trường hợp bị cáo đang bị tạm giam mà Tòa án cấp sơ thẩm quyết định đình chỉ vụ án, không kết

Trang 9

tội, miễn trách nhiệm hình sự , miễn trách nhiệm hình phạt cho bị cáo, hình phạt không phải là tù giam hoặc phạt tù nhưng cho hưởng án treo hoặc khi thời hạn phạt

tù bằng hoặc ngắn hơn thời hạn đã tạm giam thì bản án hoặc quyết định của Tòa án được thi hành ngay, mặc dù vẫn có thể bị kháng cáo

Khi có kháng cáo đối với toàn bộ bản án thì toàn bộ bản án chưa có hiệu lực pháp luật và không được đưa ra thi hành Khi có kháng cáo, Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi hồ sơ vụ án cùng với đơn kháng cáo cho Tòa án cấp phúc thẩm trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày hết hạn kháng cáo để Tòa án cấp phúc thẩm chuẩn bị cho việc xét xử

7 Bổ sung, thay đổi và rút kháng cáo

Luật TTHS không chỉ quy định về quyền kháng cáo mà còn quy định cho các chủ thể của quyền kháng cáo có quyền bổ sung, thay đổi, rút kháng cáo

- Về việc bổ sung, thay đổi kháng cáo:

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 238 BLTTHS: “Trước khi bắt đầu hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo…có quyền bổ sung, thay đổi kháng cáo… nhưng không được làm xấu hơn tình trạng của bị cáo”

Theo thông tư số 01, làm xấu hơn tình trạng của bị cáo là “làm cho bị cáo có thể

bị tòa án cấp phúc thẩm phạt nặng hơn áp dụng điều khoản của BLTTHS về tội nặng hơn hoặc tăng mức bồi thường sơ với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm.”

Do đó, người đã kháng cáo theo hướng giảm nhẹ cho bị cáo so với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm thì không được bổ sung hoặc thya đổi kháng cáo theo hướng tăng nặng cho bị cáo Nếu đã kháng cáo theo hướng tăng nặng thì không được bỏ sung hình thức hoặc thay đổi bằng loại hình phạt khác nặng hơn”

Thời điểm bổ sung, thay đổi kháng cao mà pháp luật cho phép là “trước khi bắt đầu hoặc tại phiên tòa phúc thẩm” Theo hướng dẫn tại NQ số 05, trong thời hạn

Trang 10

kháng cáo luật định, việc thay đổi kháng cáo không bị hạn chế, không bị giới hạn việc bổ sung , thay đổi nội dung kháng cáo Nguyên tắc không làm xấu hơn tình trạng của bị cáo chỉ được áp dụng trong trường hợp khoảng thời gian đã hết hạn

kháng cáo và trong trường hợp kháng cáo quá hạn Như vậy, thời điểm “trước khi bắt đầu phiên tòa” trong trường hợp này được tính từ khi hết thời hạn kháng cáo.

- Về việc rút kháng cáo:

Người kháng cáo có thể rút một phần hay toàn bộ kháng cáo Nếu rút một phần kháng cáo thì Tòa án cấp phúc thẩm xét xử phần còn lại theo quy định của pháp luật, rút kháng cáo không bị giới hạn bởi nguyên tắc: “không làm xấu đi tình trạng của bị cáo”như bổ sung, thay đổi kháng cáo Người kháng cáo vào bất kì thời điểm nào từ sau khi tiến hành kháng cáo cho đến trước khi Tòa án cấp phúc thẩm nghị

án đều được rút toàn bộ hoặc mỗi phần kháng cáo của mình

Quyền rút kháng cáo và quyền kháng cáo là hai quyền song song tồn tại trong thời hạn kháng cáo Luật TTHS không quy định về số lần được rút hay điều kiện rút kháng cáo Vậy nên, trong thực tế người kháng cáo đã rút kháng cáo lại tiếp tục kháng cáo trở lại khi vẫn còn thời hạn kháng cáo Đây cũng là điểm khác so với quy định của một số nước trên thế giới

III THỰC TIỄN THI HÀNH QUY ĐỊNH CỦA BLTTHS 2003 VỀ

KHÁNG CÁO PHÚC THẨM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KHÁNG CÁO THEO THỦ TỤC PHÚC THẨM

BLTTHS năm 2003 ra đời đã khắc phục được những vướng mắc, thiếu sót của BLTTHS năm 1988 Tuy nhiên, vẫn còn những điểm chưa đầy đủ, hoàn thiện trong quy định của pháp luật về kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm cùng với việc hướng dẫn, giải thích của các cơ quan có thẩm quyền chưa rõ ràng, đầy đủ dẫn đến trong thực tiễn xét xử của Tòa án các cấp còn nhiều sai phạm Nhiều trường hợp các sai

Ngày đăng: 25/03/2019, 09:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w