Các quy định hiện hành về thẩm quyền và thủ tục xử phạt vi phạm hành chính nhà nước Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý, vi phạm các quy đ
Trang 1M c L c ục Lục ục Lục
Mở Đầu 1
Nội dung 1
I Các quy định hiện hành về thẩm quyền và thủ tục xử phạt vi phạm hành chính nhà nước 1
1 Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính nhà nước 2
2 Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính nhà nước 3
a Thủ tục xử phạt đơn giản 3
b Thủ tục có lập biên bản 3
II Đánh giá tính hợp lý của pháp luật về thẩm quyền và thủ tục xử phạt vi phạm hành chính 4
1 Tính hợp lý của pháp luật về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính 4
a Sự hợp lý 4
b Sự bất hợp lý 6
2 Tính hợp lý của pháp luật về thủ tục xử phạt vi phạm hành chính 7
a Sự hợp lý 7
b Sự bất hợp lý 9
Kết luận 10
Danh mục tài liệu tham khảo 11
Trang 2Mở Đầu
Vi phạm pháp luật được chia thành bốn loại cơ bản bao gồm: vi phạm hình sự, vi phạm hành chính, vi phạm dân sự và vi phạm kỉ luật Trong đó vi phạm hành chính được hiểu là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy tắc quản lí nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự, theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính Do vi phạm hành chính xảy ra rộng khắp trên hầu hết các lĩnh vực thực tế đời sống bao gồm: trật tự quản lí hành chính, trật tự an toàn xã hội, trật tự an toàn giao thông, trật tự quản lí văn hóa, giáo dục, y tế, thông tin nên pháp luật quy định việc xử lí vi phạm hành chính khá chặt chẽ Và xử phạt
vi phạm hành chính chính là một trong những nội dung mang ý nghĩa vô cùng quan
trọng trong công tác đấu tranh phòng và chống vi phạm hành chính, bởi vì thông qua
xử phạt, nhà nước đảm bảo được trật tự, kỉ cương của xã hội; quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, cộng đồng; ngăn ngừa sự tái diễn của các vi phạm hành chính
Nội dung
I Các quy định hiện hành về thẩm quyền và thủ tục xử phạt vi phạm hành chính nhà nước
Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô
ý, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lí nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật bị xử phạt hành chính Thực chất, xử phạt là việc áp dụng các chế tài hành chính có tính chất trừng phạt do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành đối với cá nhân, tổ chức vi phạm theo quy định của pháp luật
Theo đó, xử phạt vi phạm hành chính là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp
dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính
Nguyên tắc xử phạt, thủ tục xử phạt, thẩm quyền xử phạt cũng như các hành vi vi phạm được quy định trong rất nhiều các văn bản pháp luật khác nhau về xử phạt vi phạm hành chính Chung nhất thì xử phạt vi phạm hành chính có những đặc điểm sau đây:
- Xử phạt vi phạm hành chính chỉ được tiến hành khi có vi phạm xảy ra
- Xử phạt vi phạm hành chính là hoạt động cưỡng chế mang tính quyền lực Nhà
nước
- Hoạt động xử phạt vi phạm hành chính được thể hiện bằng quy định xử phạt
hành chính của cơ quan, cán bộ Nhà nước có thẩm quyền
- Hoạt động xử phạt hành chính phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật
và tuân theo trình tự, thủ tục hành chính
Trang 31 Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính nhà nước
Khoản 3 Điều 3 pháp lệnh xử lý VPHC năm 2002 (đã được sửa đổi bổ sung năm
2008 - Pháp lệnh số 04/2008/UBTVQH12, sau đây gọi là pháp lệnh xử lý VPHC năm 2008) qui định: “Việc xử lý VPHC phải do người có thẩm quyền tiến hành theo
đúng quy định của pháp luật” Như vậy, chúng ta có thể hiểu, thẩm quyền xử phạt
VPHC là khả năng được áp dụng các biện pháp XPHC trong giới hạn nhất định do
pháp luật qui định cho cá nhân hoặc tổ chức có thẩm quyền xử phạt VPHC của chủ thể nào đó được xác định bằng quyền hạn mà pháp luật qui định cho chủ thể đó được
áp dụng các biện pháp, hình thức xử phạt với mức độ được xác định cụ thể Việc phân định thẩm quyền, xác định đúng chủ thể có quyền trong việc xử lý VPHC là điều cần thiết nhằm bảo đảm công tác xử phạt VPHC được chính xác, đảm bảo tính pháp chế
Thẩm quyền xử phạt VPHC được quy định cụ thể trong pháp lệnh xử lý VPHC năm 2008 từ Điều 28 đến Điều 40d Nó bao gồm thẩm quyền xử lý VPHC của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã; của chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện; của Công an nhân dân; của Bộ đội biên phòng; của cảnh sát biển; của Hải quan; của Kiểm toán; của cơ quan thuế; của thanh tra chuyên ngành; của Giám đốc Cảng vụ hàng hải, giám đốc cảng vụ đường thủy nội địa; giám đốc cảng vụ hàng không; thẩm quyền xử lý VPHC của Tòa án nhân dân; của cơ quan thi hành án dân sự; của người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao; của Chủ tịch Hội đồng cạnh tranh; thủ trưởng cơ quan quản
lý cạnh tranh và thẩm quyền xử phạt hành chính của Ủy ban chứng khoán
Cụ thể, nguyên tắc xác định thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính được quy định tại Điều 42 pháp lệnh xử lý VPHC năm 2008 như sau:
“1.Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành
chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước ở địa phương.
Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính quy định tại các điều từ các điều từ 31đến Điều 40d của Pháp lệnh này có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực, ngành mình quản lý.
Trong trường hợp vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều người, thì việc xử phạt do người thụ lý đầu tiên thực hiện.
2 Thẩm quyền xử phạt của những người được quy định tại các điều từ Điều
28 đến Điều 40d của Pháp lệnh này là thẩm quyền áp dụng đối với một hành vi vi phạm hành chính Trong trường hợp phạt tiền, thẩm quyền xử phạt được xác định căn cứ vào mức tối đa của khung tiền phạt đối với từng hành vi vi phạm cụ thể.
3 Trong trường hợp xử phạt một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành
chính thì thẩm quyền xử phạt được xác định theo nguyên tắc sau đây:
a) Nếu hình thức, mức xử phạt được quy định đối với từng hành vi đều thuộc thẩm quyền của người xử phạt, thì thẩm quyền xử phạt vẫn thuộc người đó;
Trang 4b) Nếu hình thức, mức xử phạt được quy định đối với một trong các hành vi vượt quá thẩm quyền của người xử phạt thì người đó phải chuyển vụ vi phạm đến cấp có thẩm quyền xử phạt;
c) Nếu các hành vi thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều người thuộc các ngành khác nhau, thì quyền xử phạt thuộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền xử phạt nơi xảy ra vi phạm.".
2 Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính nhà nước
Theo qui định của pháp luật hiện hành thì công tác xử phạt VPHC cũng phải tuân theo các thủ tục do luật định; vì đặc tính chung của các hoạt động quản lý của Nhà nước là phải tuân theo những thủ tục pháp lý nhất định Thủ tục xử phạt VPHC không chỉ đảm bảo cho hoạt động của nhà nước tiến hành hợp lý mà còn bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của cá nhân, tổ chức và nhà nước Theo qui định của pháp lệnh xử lý VPHC năm 2008 thì việc ra quyết định hành chính được tiến hành theo hai thủ tục sau:
a Thủ tục xử phạt đơn giản
Gọi là thủ tục xử phạt đơn giản vì theo thủ tục này, khi phát hiện hành vi VPHC, người có thẩm quyền xử phạt ra quyết định xử phạt ngay Điều kiện để áp dụng thủ tục này là hành vi VPHC phải đơn giản để khi phát hiện hành vi phạm thì người có thẩm quyền đã xác định được đó là hành vi vi phạm nào, tính chất mức độ của vi phạm; đồng thời người phát hiện vi phạm phải có đủ thẩm quyền để ra quyết định xử phạt tại chỗ Chính vì vậy, Điều 56, pháp luật hiện hành qui định thủ tục này đươc áp dụng trong phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 10.000đ đến 200.000đ Đó là những hành
vi đơn giản và mức phạt được áp dụng phù hợp với thẩm quyền của hầu hết các chủ thể có thẩm quyền xử phạt VPHC
Quyết định xử phạt phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra quyết định; họ, tên, địa chỉ
của người vi phạm hoặc tên, địa chỉ của tổ chức vi phạm; hành vi vi phạm; địa điểm xảy ra vi phạm; họ, tên, chức vụ của người ra quyết định; điều, khoản của văn bản pháp luật được áp dụng Quyết định này được giao cho cá nhân, tổ chức bị xử phạt
1 bản Trong trường hợp người chưa thành niên bị phạt cảnh cáo thì quyết định xử phạt cảnh cáo còn được gửi cho cha mẹ, người giám hộ của người đó hoặc nhà trường nơi người chưa thành niên vi phạm đang học tập Trường hợp phạt tiền thì trong quyết định phải ghi rõ mức tiền phạt (Điều 54)
b Thủ tục có lập biên bản
Pháp lệnh xử lý VPHC năm 2008 quy định về Xử phạt vi phạm hành chính có lập
biên bản, hồ sơ xử phạt VPHC như sau:
“1 Xử phạt VPHC có lập biên bản được áp dụng đối với hành vi VPHC của cá
nhân, tổ chức VPHC không thuộc trường hợp quy định tại đoạn 1 khoản 1 Điều 56 của Luật này.
2 Việc xử phạt VPHC có lập biên bản phải được người có thẩm quyền xử
Trang 5lập thành hồ sơ xử phạt VPHC Hồ sơ bao gồm biên bản VPHC, quyết định xử phạt hành chính, các tài liệu, giấy tờ có liên quan và phải được đánh bút lục.
Hồ sơ phải được lưu trữ theo quy định của pháp luật về lưu trữ”
Thủ tục này khác thủ tục đơn giản ở chỗ, khi phát hiện hành vi VPHC, người có thẩm quyền xử phạt không ra quyết định xử phạt ngay mà phải lập biên bản về hành
vi VPHC Sở dĩ trong trường hợp này cần phải lập biên bản vì:
- Thứ nhất, hành vi vi phạm phức tạp nên trong thời gian ngắn (ngay khi phát
hiện vi phạm) và những biểu hiện bên ngoài của vi phạm được nhận biết trực tiếp thường không đủ để đánh giá chính xác loại vi phạm, tính chất, mức độ của vi phạm nên không thể ra quyết định xử phạt ngay
- Thứ hai, hành vi VPHC được phát hiện nhưng người phát hiện không đủ thẩm
quyền xử phạt, người có thẩm quyền xử phạt lại không có mặt tại hiện trường chứng kiến hành vi vi phạm xảy ra nên cần lập biên bản để cung cấp thông tin cho người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt
Về người có thẩm quyền lập biên bản được quy định tại Điều 55 Pháp lệnh xử lý VPHC năm 2008 Như vậy, người có thẩm quyền lập biên bản VPHC (trừ trường
hợp VPHC xảy ra trên tàu bay, tàu biển) phải thỏa mãn ba điều kiện: là người có
thẩm quyền, đang thi hành công vụ và hành vi VPHC đó thuộc lĩnh vực quản lý của người lập biên bản.
II Đánh giá tính hợp lý của pháp luật về thẩm quyền và thủ tục xử phạt vi phạm hành chính
Tính hợp lý của pháp luật về thẩm quyền và thủ tục xử phạt VPHC là yếu tố quan
trọng để đảm bảo công tác xử phạt VPHC được diễn ra chính xác, kịp thời, hiệu quả; tác động đến ý thức tuân thủ pháp luật của các cá nhân, tổ chức; đưa pháp luật bám sát với thực tế đời sống, tuân thủ nguyên tắc pháp chế; đồng thời góp phần vào thiết lập một trật tự quản lý hành chính ổn định
1 Tính hợp lý của pháp luật về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính
a Sự hợp lý
Các chức danh có thẩm quyền xử phạt đã được qui định tương đối đầy đủ.
Ở các cấp, các ngành, các lĩnh vực quản lý nhà nước đều có chức danh được trao
thẩm quyền tiến hành hoạt động xử phạt VPHC Đó là điều kiện quan trọng bảo đảm phát hiện nhanh chóng và xử lý kịp thời mọi trường hợp vi phạm, đáp ứng đòi hỏi của nguyên tắc “Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện kịp thời và phải bị đình chỉ ngay ” (khoản 1 Điều 3 – Pháp lệnh xử lý VPHC năm 2008)
Đồng thời, các hình thức xử phạt được qui định khá phong phú (tại Điều
12 Pháp lệnh xử lý VPHC năm 2008)
Trang 6Việc có quy định này đảm bảo tính đa dạng trong hình thức xử phạt để phù hợp với từng trường hợp, từng hành vi vi phạm cụ thể Trong đó, thẩm quyền phạt tiền và cảnh cáo được trao cho mọi chủ thể được qui định trong pháp lệnh, điều này cho thấy
sự linh hoạt của pháp luật, đảm bảo cho công tác xử phạt của các chủ thể này đối với các VPHC luôn được chủ động, tiến hành nhanh chóng, kịp thời Đặc biệt thẩm quyền áp dụng hình thức phạt tiền được sử dụng thường xuyên và đem lại kết quả cụ thể đóng góp cho ngân sách nhà nước
Theo pháp luật thì mức phạt tiền được áp dụng khác nhau đối với các hành vi VPHC trong những trường hợp khác nhau, và qui định thẩm quyền về mức phạt tiền tối đa cho mỗi chủ thể xử phạt là một trong những tiêu chí xác định thẩm quyền xử phạt Việc pháp luật qui định như thế đã thể hiện sự đánh giá của nhà nước đối với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi (chưa phải là tội phạm) qua đó thể hiện sự nghiêm khắc về tính giáo dục ý thức pháp luật đối với người vi phạm và đối với xã hội nói chung
Có sự phân hóa trong các qui định về thẩm quyền xử phạt VPHC
Người giữ chức vụ cao hơn được trao thẩm quyền rộng hơn (đương nhiên là trách nhiệm cũng nặng nề hơn); thẩm quyền của chủ tịch Ủy ban nhân dân được qui định tương đối toàn diện hơn các chức danh hoạt động trong từng ngành hoặc lĩnh vực quản lý cùng cấp Mức tiền phạt trong các lĩnh vực quản lý khác nhau cũng khác nhau cho phù hợp với đặc thù của từng lĩnh vực
Pháp lệnh năm 2008 đã mở rộng thẩm quyền xử phạt cho các chức danh ở cấp cơ sở; mức phạt tiền tối đa mà các chủ thể này được phép áp dụng đã được qui định cao hơn Ví dụ: chiến sĩ công an nhân dân, chiến sĩ bộ đội biên phòng, kiểm lâm viên đang thi hành công vụ được phạt tiền đến 200.000đ
Tính hợp lí trong các quy định về nguyên tắc xác định thẩm quyền
Các qui định về nguyên tắc xác định thẩm quyền đã giúp người có thẩm quyền xử phạt đỡ lúng túng trong việc xác định vụ việc cụ thể có thuộc thẩm quyền giải quyết của mình hay không và giúp cấp trên của họ dễ dàng hơn trong đánh giá hoạt động
xử phạt VPHC nói chung cũng như xác định trách nhiệm của cấp dưới trong những
vụ việc cụ thể Việc qui định nguyên tắc xác định thẩm quyền xử phạt này cho thấy pháp luật quan tâm đến việc vừa bảo đảm tính nhanh chóng, kịp thời vừa bảo đảm tính chính xác, tuân thủ pháp chế trong công tác xử phạt VPHC
Pháp luật dự liệu khá đầy đủ các trường hợp VPHC để phân định chủ thể
có thẩm quyền xử phạt
Điều này thể hiện qua việc pháp luật đã xác định thẩm quyền đối với từng hành vi
vi phạm cụ thể nhằm phân định thẩm quyền xử phạt giữa những người có thẩm quyền xử phạt trong cùng lĩnh vực, ngành quản lý; xác định thẩm quyền xử phạt trong trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính Ví dụ: tại
điểm c khoản 3 Điều 42 qui định: “Nếu các hành vi thuộc thẩm quyền xử phạt của
Trang 7nhiều người thuộc các ngành khác nhau, thì quyền xử phạt thuộc Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền xử phạt nơi xảy ra vi phạm” Qui định này của pháp
lệnh là hợp lý, nhằm tránh việc tách nhỏ vi phạm để xử lý
Các qui định về ủy quyền được đặt ra tương đối hợp lý
Pháp lệnh xử lý VPHC năm 2008 qui định (tại Điều 41) các chủ thể được pháp lệnh qui định thẩm quyền xử phạt có thể ủy quyền cho cấp phó thực hiện thẩm quyền
xử lý vi phạm hành chính; để đảm bảo việc xử phạt được tiến hành nhanh chóng, kịp thời trong những trường hợp cấp trưởng vắng mặt
Pháp lệnh cũng qui định việc uỷ quyền phải được thực hiện bằng văn bản; đây là một điểm mới của pháp lệnh so với Pháp lệnh xử lý VPHC năm 2002 Qui định bổ sung này thể hiện tính nghiêm túc và chịu trách nhiệm cá nhân trong việc ra quyết định xử phạt VPHC Theo tinh thần của Pháp lệnh xử lý VPHC thì người có thẩm quyền xử phạt cũng chỉ ủy quyền trong trường hợp vắng mặt Còn Nghị định của Chính phủ số 134/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 đặt ra những đòi hỏi rất khắt khe khi tiến hành ủy quyền, đó là người có thẩm quyền xử phạt chỉ được ủy quyền cho cấp phó trực tiếp của mình, việc ủy quyền phải được thể hiện thành văn bản và người được ủy quyền không được ủy quyền tiếp Những qui định này của pháp luật đảm bảo cho công tác tiến hành xử phạt phải được thực hiện bằng trách nhiệm của cá nhân, tránh trường hợp đùn đẩy, thoái thác
b Sự bất hợp lý
Bên cạnh tính hợp lý và thể hiện khả năng dự liệu của pháp luật, những qui định
về thẩm quyền xử phạt VPHC cũng bộc lộ không ít điểm chưa hợp lý:
Bất cập trong vấn đề xác định thẩm quyền
Các qui định về thẩm quyền xử phạt VPHC được thể hiện trong một số lượng văn bản quy phạm pháp luật khiến cho việc theo dõi để thực hiện không đơn giản Hơn nữa, các văn bản này do nhiều cơ quan và người có thẩm quyền ban hành vào những thời điểm khác nhau, dưới những hình thức khác nhau, có hiệu lực pháp lý khác nhau
và phạm vi thi hành khác nhau cho nên mâu thuẫn, chồng chéo, trùng lặp trong hệ thống là không thể tránh khỏi
Việc qui định các chức danh có thẩm quyền xử phạt chủ yếu được tiến hành theo phương pháp liệt kê.
Phương pháp này cũng có nhược điểm là bởi mỗi khi có cơ quan quản lý chuyên ngành mới được thành lập lại xuất hiện nhu cầu bổ sung chức danh có thẩm quyền
xử phạt Trong tiến trình cải cách hành chính hiện nay thì nhu cầy này xuất hiện tương đối thường xuyên mà việc sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh xử lý VPHC lại không thể tiến hành thường xuyên được Để đáp ứng nhu cầu đó, một số văn bản có hiệu lực pháp lý thấp hơn đã đặt ra những qui định về thẩm quyền xử phạt không phù hợp với Pháp lệnh xử lý VPHC
Trang 8 Pháp lệnh xử lý VPHC không xác định rõ hình thức ủy quyền
Bên cạnh những hợp lí, mặt tích cực đã nêu ở trên, thì mặc dù Pháp lệnh xử lý VPHC năm 2008 đã bổ sung yêu cầu ủy quyền bằng văn bản nhưng vẫn không qui định theo vụ việc hay theo thời gian Nghị định số 134/2003/NĐ-CP xác định việc ủy
quyền phải được thể hiện bằng văn bản nhưng cũng không qui định ủy quyền theo vụ
việc hay theo thời gian dẫn đến sự không thống nhất trong cách hiểu và lúng túng
thực hiện
Bất cập trong việc soạn thảo nghị định về xử phạt VPHC với từng lĩnh vực
Việc soạn thảo này được giao cho cơ quan quản lý hành chính nhà nước theo các ngành, lĩnh vực có thể dẫn đến quá tải về số lượng vụ việc trong một số ngành, lĩnh vực và khó khăn trong việc phối hợp giữa các chức danh có thẩm quyền xử phạt thuộc các ngành, lĩnh vực khác nhau Ví dụ: Nghị định số 140/2005/NĐ-CP qui định
về xử phạt VPHC trong lĩnh vực khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi không qui định thẩm quyền xử phạt của lực lượng công an nhân dân và các thanh tra, các chuyên ngành khác như giao thông vận tải, xây dựng, môi trường…và đối với các hành vi vi phạm hành chính liên quan đến lĩnh vực các cơ quan đó quản lý như hành
vi thực hiện giao thông trên công trình thủy lợi, hành vi xây dựng trái phép trên công trình thủy lợi và phạm vi bảo vệ công trình…
2 Tính hợp lý của pháp luật về thủ tục xử phạt vi phạm hành chính
Thủ tục xử phạt VPHC được quy định chủ yếu tại Chương VI Pháp lệnh xử lý VPHC năm 2008 Đồng thời, trên cơ sở Pháp lệnh ngày 2/7/2002 và Pháp lệnh ngày 16/12/2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 134/2003/NĐ-CP và Nghị định số 128/2008/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh xử lý VPHC năm 2002 và Pháp lệnh xử lý VPHC năm 2008, trong đó có các quy định về thủ tục
xử phạt VPHC (Chương IV Nghị định) Các Nghị định quy định xử phạt VPHC trong các lĩnh vực quản lý nhà nước chủ yếu viện dẫn các quy định về thủ tục xử phạt của Pháp lệnh xử lý VPHC năm 2008 và Nghị định số 128/2008/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung Nghị định 134/2003/NĐ-CP)
a Sự hợp lý
Thủ tục xử phạt VPHC đã được quy định cụ thể, rõ ràng hơn
Thủ tục xử phạt đã được quy định cụ thể, bổ sung thêm một số quy định mới để đáp ứng yêu cầu thực tế như: Điều 65 quy định thủ tục về hoãn chấp hành quyết định phạt tiền; Điều 68 quy định về chuyển quyết định XPVPHC để thi hành Nói cách khác, những quy định về thủ tục xử phạt VPHC của Pháp lệnh xử lý VPHC đã thể hiện rõ hơn tính minh bạch của pháp luật, thể hiện quan điểm của Nhà nước về cải cách thủ tục hành chính
Tính hợp lí khi pháp lệnh qui định hai loại thủ tục xử phạt VPHC là thủ
tục đơn giản và thủ tục có lập biên bản
Trang 9Việc pháp luật phân thành hai loại thủ tục xử phạt VPHC đáp ứng được yêu cầu của công tác xử phạt VPHC, khi mà công tác xử phạt đòi hỏi vừa phải nhanh chóng, kịp thời lại vừa phải chính xác và đúng thẩm quyền Nếu thủ tục đơn giản tạo điều kiện xử lý VPHC được nhanh gọn thì thủ tục có lập biên bản đảm bảo việc xử phạt
có cơ sở Mặt khác, biên bản VPHC cũng là cơ sở để người bị xử phạt khiếu nại, khởi kiện và các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết khiếu nại và xét xử vụ
kiện đối với quyết định xử phạt VPHC Việc qui định hai thủ tục xử phạt VPHC tạo
nên sự linh hoạt trong hoạt động xử phạt, vừa nhanh chóng, vừa chính xác trong những khả năng và điều kiện cho phép
Tính hợp lí trong qui định về người có thẩm quyền lập biên bản
Người có thẩm quyền lập biên bản được quy định tại Điều 55 Pháp lệnh xử lý VPHC năm 2008 Theo quy định mới này, người có thẩm quyền lập biên bản là
“người có thẩm quyền đang thi hành công vụ” thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của
Bộ, ngành, địa phương mình Khoản 1 Điều 55 này quy định như sau: “…người có
thẩm quyền đang thi hành công vụ có trách nhiệm lập biên bản đối với vi phạm mà mình phát hiện Trong trường hợp vi phạm hành chính không thuộc thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản thì phải chuyển tới ngay người có thẩm quyền xử phạt
để tiến hành xử phạt”
Qui định này của Pháp lệnh xử lý VPHC năm 2008 đã cho phép mọi chủ thể có thẩm quyền khi đang thi hành công vụ đều có thể lập biên bản, điều này là hoàn toàn hợp lý khi muốn công tác lập biên bản VPHC đuợc tiến hành mọi lúc, mọi nơi đối với mọi trường hợp VPHC mà cần áp dụng thủ tục có lập biên bản, dù nguời tiến hành lập bên bản có thẩm quyền xử phạt hay không có thẩm quyền xử phạt Và trên thực tế, phần lớn người xử phạt thường không có mặt tại “hiện trường” nên không có điều kiện lập biên bản
Pháp lệnh xử lý VPHC năm 2008 còn qui định bổ sung trường hợp: người vi phạm cố tình trốn tránh hoặc vì lý do khách quan mà không có mặt tại địa điểm xảy
ra vi phạm thì biên bản được lập xong phải có chữ ký của đại diện chính quyền cơ sở nơi xảy ra vi phạm hoặc của hai người làm chứng; việc dự liệu thêm trường hợp này
là phù hợp với thực tế, nhằm có chứng cứ chắc chắn khi ra quyết định xử phạt Với qui định bổ sung tại khoản 1 Điều 55 nêu trên, chúng ta còn hiểu rằng, “người có thẩm quyền đang thi hành công vụ” có thể là những người không thuộc các điều từ Điều 28 đến Điều 41 Pháp lệnh xử lý VPHC năm 2008
Sự hợp lý trong thủ tục phạt tiền
- Pháp lệnh xử lý VPHC năm 2008 có qui định: “Tiền phạt có thể được nộp một
lần hoặc nhiều lần trong thời hạn do người có thẩm quyền xử phạt quyết định”
(khoản 5 Điều 57) Đây là sự bổ sung mới so với Pháp lệnh xử lý VPHC năm 2002, khi trên thực tế, có nhiều trường hợp người vi phạm không đủ khả năng về tài chính
để nộp phạt một lần, tạo điều kiện để người vi phạm chấp hành nộp phạt Qui định
Trang 10bổ sung này của Pháp lệnh xử lý VPHC năm 2008 đã đưa ra các biện pháp cưỡng chế hợp lý: Nếu tổ chức tín dụng không thực hiện việc giữ lại trong tài khoản của cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế số tiền theo quy định tổ chức tín dụng đó phải nộp phạt thay, và nếu không thực hiện việc trích chuyển thì tổ chức tín dụng đó bị phạt số tiền tương ứng với số tiền không trích chuyển vào ngân sách nhà nước qua tài khoản mở tại Kho bạc nhà nước nhưng tối đa không quá 500.000.000 đồng
b Sự bất hợp lý
Quy định trường hợp áp dụng hình phạt tiền là thiếu hợp lí, chưa đáp ứng
được yêu cầu của thực tiễn
Mặc dù Pháp lệnh xử lý VPHC năm 2008 đã tăng mức phạt tiền (từ 10.000đ đến 200.000đ) so với Pháp lệnh xử lý VPHC năm 2002 (từ 5000đ đến 100.000đ) đối với trường hợp áp dụng thủ tục đơn giản nhưng yêu cầu của công tác xử phạt VPHC đặt
ra phải nhanh gọn, kịp thời nhưng còn phải chính xác và đúng thẩm quyền Do đó đối với những trường hợp mức tiền phạt áp dụng vượt quá 200.000đ lại phải tiến hành xử phạt theo thủ tục có lập biên bản
* VPHC có thể xảy ra trên mọi lĩnh vực quản lý, có nhiều hành vi VPHC mà mức
xử phạt áp dụng vượt quá mức 200.000đ; vì vậy nên tăng mức phạt tiền trong trường hợp áp dụng thủ tục xử phạt đơn giản Điều này cũng đồng nghĩa với việc pháp luật cũng sẽ phải tăng thẩm quyền xử phạt xác định theo mức tiền phạt tối đa cho các chủ thể ở các cấp cơ sở (như chiến sĩ công an nhân dân, bộ đội biên phòng…đang thi hành công vụ) Việc này sẽ đảm bảo cho hoạt động xử phạt VPHC được diễn ra thuận lợi, tiết kiệm được nhiều chi phí cũng như thời gian, công sức của Nhà nước
Theo như hệ thống pháp luật hiện hành qui định về thủ tục xử phạt VPHC chỉ có hai loại thủ tục xử phạt VPHC
Trường hợp áp dụng thủ tục đơn giản bao gồm: xử phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000đ đến 200.000đ; còn trường hợp áp dụng thủ tục có lập biên bản được xác định bằng phương pháp loại trừ, đó là tất cả các trường hợp xử phạt trừ trường hợp
xử phạt theo thủ tục đơn giản Điều đó có nghĩa là, khi bị xử phạt VPHC chỉ có thể
áp dụng thủ tục đơn giản hoặc thủ tục có lập biên bản, không còn thủ tục nào khác Điều này sẽ gây bất hợp lý trong một số trường hợp diễn ra trên thực tế như sau:
- Hành vi VPHC có mức phạt trên 200.000đ nhưng xảy ra đã quá lâu
Trên thực tế, không phải mọi hành vi VPHC đều được phát hiện khi đang thực hiện hoặc vừa mới thực hiện xong mà có trường hợp hành vi vi phạm đã chấm dứt khá lâu mới bị phát hiện Trong trường hợp này, việc lập biên bản hầu như không có
ý nghĩa gì vì hành vi đã xảy ra quá lâu, không phải là sự việc đang diễn ra hoặc vừa mới xảy ra Hơn nữa, nhiều trường hợp tại nơi diễn ra hành vi vi phạm (“hiện trường”) không còn gì để có thể ghi chép tại chỗ sự việc, các thông tin thu thập được nhằm xác minh vụ việc không phải là nội dung của biên bản VPHC