1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài tập nhóm số 2 hình sự 2 a, b và c bàn nhau trộm cắp tài sản của nhà ông h theo sự phân công của nhóm, c mang theo một thanh sắt để cạy phá cửa c

11 204 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong trường hợp này, A, B và C cùng thực hiện một tội phạm là tội trộm cắp tài sản, như vậy, đã thỏa mãn về số người tham gia là ít nhất hai người trở nên.. Trong đó cả hai đối tượng A,

Trang 1

ĐỀ BÀI

Bài 7:

A, B và C bàn nhau trộm cắp tài sản của nhà ông H Theo sự phân công của nhóm, C mang theo một thanh sắt để cạy phá cửa Chúng hẹn nhau 10 giờ đêm tập kết ở địa điểm X Đến giờ hẹn, C đem thanh sắt như đã thỏa thuận đến địa điểm X nhưng chờ mãi không thấy A và B đến nên bỏ về nhà ngủ A

và B đến chỗ hẹn trễ nên không gặp được C, nhưng vẫn quyết định đi lấy tài sản theo kế hoạch và đã lấy được tài sản giá trị 80 triệu đồng Do không đi lấy tài sản nên C chỉ được A và B chia cho 5 triệu đồng, C chê ít và không lấy, và cũng không nói gì về vụ trộm

Hỏi:

1 A,B và C có phải là đồng phạm trong vụ trộm cắp tài sản nói trên không? Tại sao?

2 Hành vi của C có được coi là tự ý nửa chừng CDVPT không? Tại sao?

3 Sau khi lấy được tài sản của nhà ông H A và B đã mang số tài sản

đó bán cho K và K đã mua lại số tài sản này K có phải chịu TNHS về hành vi của mình không? Tại sao?

4 Giả sử A, B và C mới tròn 15 tuổi thì A, B và C có phải chịu TNHS

về hành vi của mình không? Tại sao?

Trang 2

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BÀI LÀM

Trang 3

1 A, B và C có phải là đồng phạm trong vụ trộm cắp tài sản nói trên không? Tại sao?

Trước hết, ta cần khẳng định rằng A, B và C là đồng phạm trong vụ trộm cắp tài sản này

Tội phạm có thể chỉ do một người thực hiện nhưng cũng có thể do nhiều người cùng gây ra Khi có nhiều người cố ý cùng thực hiện tội phạm thì trường hợp đó được gọi là đồng phạm Trong luật hình sự, đồng phạm được

coi là hình thức phạm tội đặc biệt Điều 20 BLHS quy định: “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở nên cố ý cùng thực hiện một tội phạm” Theo

như nội dung này, đồng phạm đòi hỏi phải thỏa mãn các dấu hiệu về mặt khách quan và mặt chủ quan của đồng phạm Vì vậy, A, B và C có phải là đồng phạm trong vụ trộm cắp tài sản hay không ta phải căn cứ vào các dấu hiệu về mặt khách quan và chủ quan

Trước hết, những dấu hiệu về mặt khách quan:

- Về dấu hiệu thứ nhất: Đồng phạm đòi hỏi phải có từ hai người trở lên

và những người này có đủ điều kiện của chủ thể của tội phạm Điều kiện này

cụ thể là có năng lực TNHS và đạt độ tuổi chịu TNHS Dấu hiệu chủ thể đặc biệt không đòi hỏi phải có ở tất cả những người đồng phạm mà chỉ đòi hỏi ở loại người đồng phạm là người thực hành

Trong trường hợp này, A, B và C cùng thực hiện một tội phạm là tội trộm cắp tài sản, như vậy, đã thỏa mãn về số người tham gia là ít nhất hai người trở nên Chúng thỏa thuận phân công nhau trong vụ trộm cắp, có nghĩa

là, A, B và C không bị mắc các bệnh tâm thần hay những bệnh làm mất khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình, hay có thể hiểu là A, B và C có năng lực TNHS Về độ tuổi, trong đề bài không nhắc cụ thể nên ta mặc nhiên thừa nhận A, B, C đã đủ tuổi chịu TNHS

- Về dấu hiệu thứ hai: những người này phải cùng cố ý thực hiện tội phạm Có nghĩa là, người đồng phạm tham gia vào tội phạm với một trong bốn hành vi: Hành vi thực hiện tội phạm (thực hiện hành vi được mô tả trong

Trang 4

CTTP), người có hành vi này được gọi là người thực hành Hành vi tổ chức thực hiện tội phạm (tổ chức thực hiện hành vi mô tả trong CTTP), người có hành vi này được gọi là người tổ chức Hành vi xúi giục người khác thực hiện tội phạm (xúi giục người khác thực hiện hành vi được mô tả trong CTTP), người có hành vi này được gọi là người xúi giục Hành vi giúp sức người khác thực hiện tội phạm (giúp sức người khác thực hiện hành vi được mô tả trong CTTP), người có hành vi này gọi là người giúp sức Trong vụ đồng phạm có thể có đủ bốn loại hành vi tham gia nhưng cũng có thể chỉ có một loại hành vi

Trong vụ trộm cắp trên, A, B và C cùng thực hiện tội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 138 BLHS Cả ba người này đều có hành vi cố ý thực hiện cùng một tội phạm, góp phần thực hiện tội phạm và thúc đẩy việc thực hiện phạm tội Trong đó cả hai đối tượng A, B đóng vai trò là người thực hành vì có hành vi thực hiện tội trộm cắp tài sản (của ông H) và lấy được tài sản trị giá 80 triệu đồng, hành vi trộm cắp này được mô tả trong CTTP của tội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 138 BLHS Riêng C do yếu tố khách quan không thực hiện hành vi trộm cắp, nhưng cả 3 người đã cùng bàn nhau trộm cắp tài sản nhà ông H, C được phân công là người chuẩn bị hay cung cấp công cụ để giúp cho việc trộm cắp tài sản, cụ thể ở đây công cụ chính là thanh sắt Tuy do yếu tố khách quan là chờ không thấy đồng bọn nên đã bỏ về nhưng C đã có hành vi che giấu, không tố giác tội phạm, vì vậy C đóng vai trò

là người giúp sức

Do đó, những dấu hiệu về mặt khách quan trong vụ đồng phạm A, B

và C đều thỏa mãn

Tiếp theo, những dấu hiệu về mặt chủ quan:

- Dấu hiệu lỗi: Đồng phạm đòi hỏi những người cùng thực hiện tội phạm đều có lỗi cố ý Khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, mỗi người đồng phạm không chỉ cố ý với hảnh vi của mình mà còn biết và mong muốn

sự cố ý tham gia của những người đồng phạm khác Về lí trí: Mỗi người đều

biết hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và đều biết người khác cũng có

Trang 5

hành vi nguy hiểm cho xã hội cùng với mình Họ còn thấy trước được hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình cũng như hậu quả chung của tội

phạm mà họ tham gia thực hiện Vế ý chí: Những người đồng phạm cùng

mong muốn có hoạt động chung và cùng mong muốn hoặc cùng có ý thức để mặc cho hậu quả phát sinh

Trong vụ án trên, A, B và C cùng nhau bàn bạc, thảo luận, phân công nhiệm vụ thì cả ba đều hiểu rõ hành vi của mình, cũng như hành vi của cả nhóm là nguy hiểm cho xã hội và đều nhận thức rõ hậu quả của hành vi mà chúng gây ra Những hành vi của chúng đã xâm hại đến quyền sở hữu được luật hình sự bảo vệ và hậu quả mà chúng mong muốn xẩy ra là việc ông H (chủ sở hữu) mất đi khả năng thực tế của việc thực hiện các quyền chiếm hữu,

sử dụng, định đoạt của chủ sở hữu Và khi đã cùng nhau bàn bạc như vậy thì giữa ba người đã cùng có mong muốn có hoạt động chung cũng như cùng mong muốn cho hậu quả phát sinh Việc trộm cắp tài sản sẽ diễn ra thuận lợi,

ít rủi ro hơn khi có sự giúp đỡ, hỗ trợ của cả ba

- Dấu hiệu mục đích: Ngoài hai dấu hiệu cùng thực hiện và cùng cố ý, đồng phạm còn đòi hỏi dấu hiệu cùng mục đích trong trường hợp đồng phạm những tội có mục đích là dấu hiệu bắt buộc Đối với tội trộm cắp tài sản thì dấu hiệu mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc Quay lại tình huống, khi A, B và C lập ra kế hoạch trộm cắp nhà ông H thì chúng phải hiểu

rõ về mục đích thực hiện hành vi của mình và không người nào có mục đích nào khác Mỗi một người trong A, B và C đều muốn chiếm đoạt được tài sản của ông H nên chúng đã gặp nhau và bàn kế hoạch Để đạt được mục đích chiếm đoạt tài sản thì việc thực hiện đơn lẻ một người sẽ gặp nhiều khó khăn,

do vậy chỉ có thể tập trung lại và hỗ trợ lẫn nhau thì việc đạt được mục đích

sẽ dễ dàng hơn

Chính vì vậy, qua việc phân tích những dấu hiệu của đồng phạm thì có thể khẳng định rằng A, B và C là đồng phạm trong vụ trộm cắp tài sản nói trên

Trang 6

2 Hành vi của C có được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội không? Tại sao?

“Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự ý mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn TNHS về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của mội tội khác, thì người đó phải chịu TNHS về tội này” (Điều 19 BLHS).

Có thể thấy hành vi của C không được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội Hành vi của C chỉ được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội khi thỏa mãn các dấu hiệu của trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

Thứ nhất, việc chấm dứt không thực hiện tiếp tội phạm phải xảy ra khi tội phạm đang ở giải đoạn chuẩn bị hoặc ở giai đoạn chưa đạt chưa hoàn thành

Thứ hai, việc chấm dứt không thực hiện tội phạm phải là tự nguyên và dứt khoát Tức là là đòi hỏi việc chủ thể tự ý dừng lại không thực hiện tội phạm phải xuất phát từ động lực bên trong chứ không phải trở ngại khách quan chi phối Việc làm của chủ thể là sự từ bỏ hẳn ý định phạm tội chứ không phải thủ đoạn để tiếp tục thực hiện tội phạm

Đánh giá hành vi của C có thể thấy, về dấu hiệu thứ nhất là thỏa mãn

Vì việc chấm dứt hành vi phạm tội của C dừng lại ở giai đoạn phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành Cụ thể, việc C bỏ về không trực tiếp tham gia vào vụ trộm cắp tài sản nhà ông H là do việc A, B lỡ hẹn nên đến muộn Đây là yếu

tố bên ngoài khách quan hoàn toàn nằm ngoài dự kiến của C Sau thời gian bàn bạc, phân công kế hoạch thì C được giao “mang theo một thanh sắt để cạy phá cửa” Đến ngày hẹn, y đã thực hiện đúng với nhiệm vụ của mình Ngay từ tình tiết này đã thấy được ý thức phạm tội sâu sắc của C Tuy nhiên, khi đến giờ hành động thì C chờ mãi không thấy A, B đến nên đã bỏ về trước, có thể coi đây là “sự cố” nằm ngoài kế hoạch ban đầu của nhóm lập ra Thực chất nếu không có việc A, B đến muộn thì C đã có thể cùng A, B thực hiện hành vi

Trang 7

trộm cắp tài sản nhà ông H Do đó, việc C về nhà ngủ đồng nghĩa với việc y không thể trực tiếp tham gia vào vụ trộm cắp không xuất phát từ sự tự nguyên, động lực bên trong con người C mà nó chỉ là sự việc khách quan mang lại, nằm ngoài ý chí của C

Vậy nên, việc không thỏa mãn dấu hiệu thứ hai của trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội thì không thể nói hành vi của C là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

3 Sau khi lấy được tài sản của nhà ông H A và B đã mang số tài sản đó bán cho K và K đã mua lại số tài sản này K có phải chịu TNHS về hành vi của mình không? Tại sao?

Trong tình huống này, việc K có phải chịu TNHS hay không và chịu TNHS đối với tội danh nào cần dựa vào chi tiết việc K mua tài sản từ A và B

là hứa hẹn trước hay không Để làm rõ hơn vấn đề cần xét hai giả thiết: trường hợp thứ nhất là K mua tài sản từ A, B là do hứa hẹn trước và trường hợp thứ hai là K mua tài sản từ A, B không có sự hứa hẹn trước

Giả thiết thứ nhất, K có hứa hẹn trước về việc sẽ tiêu thụ tài sản khi A,

B trộm cắp được K sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản theo Điều 138 với vai trò là đồng phạm

Trong trường hợp này, K tham gia trộm cắp tài sản với vai trò là người giúp sức Người giúp sức có thể là giúp sức về vật chất hoặc tinh thần Ở đây,

K đã tham gia giúp sức về mặt tinh thần Đó là giúp sức bằng lời hứa hẹn trước rằng sẽ tiêu thụ các tài sản do A và B phạm tội mà có sau khi tội phạm

đã được thực hiện xong Lời hứa hẹn trước của người giúp sức tuy không tạo

ra những điều kiện thuận lợi cụ thể nhưng cũng có những tác động tích cực vào quá trình thực hiện tội phạm Việc K có hứa hẹn trước với A và B sẽ củng

cố ý định phạm tội của A và B, giúp họ yên tâm hơn để phạm tội vì tài sản do

họ trộm cắp được sẽ được tiêu thụ thành công

Trang 8

Xét trường hợp đồng phạm trong tội trộm cắp tài sản thì chỉ cần xét về dấu hiệu lỗi, còn mục đích phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc Lỗi cố ý trong đồng phạm được thể hiện trên hai mặt là lí trí và ý chí

A, B và K đều đã hứa hẹn trước với nhau Vì vậy, A và B đều biết về hành vi trộm cắp tài sản của mình là trái pháp luật và cũng biết rằng K cũng

có hành vi trái pháp luật là tiêu thụ tài sản do chính họ trộm cắp mà có Ngược lại, K biết hành vi tiêu thụ tài sản do phạm pháp mà có là trái pháp luật

và K cũng biết A và B có hành vi nguy hiểm cho xã hội đó là trộm cắp tài sản Đồng thời, về lí trí mỗi người đồng phạm còn thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình cũng như hậu quả chung của tội phạm mà họ tham gia thực hiện K đã hứa hẹn tiêu thụ tài sản do A và B trộm cắp được, do vậy K hoàn toàn có thể biết trước được hành vi của mình sẽ gây khó khăn cho công tác phát hiện, điều tra, xử lý A và B về hành vi trộm cắp tài sản Đồng thời, K cũng thấy trước hậu quả chung của tội phạm mà họ tham gia thực hiện, đó là gây nên thiệt hại đối với chủ sở hữu tài sản hay nói cách khác đó là xâm phạm đến quyền sở hữu đối với tài sản của người khác Qua những phân tích trên, các dấu hiệu trong trường hợp đồng phạm thì hành vi của K đều thỏa mãn

Vì vậy, nếu K có hứa hẹn trước với A và B về việc sẽ mua lại tài sản do

A và B ăn trộm thì K sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản theo Điều 138 với vai trò là đồng phạm và cụ thể là người giúp sức

Giả thiết thứ hai, K không hứa hẹn trước về việc sẽ tiêu thụ tài sản khi

A, B trộm cắp được

Trường hợp thứ nhất: K không hứa hẹn trước với A và B về việc sẽ tiêu thụ tài sản do A và B ăn trộm nhưng bằng cách nào đó khi A và B bán cho K,

K biết được đó là tài sản do họ phạm tội mà có, chẳng hạn đối với những tài sản có đăng kí quyền sở hữu mà A và B lại bán cho K với giá rất rẻ, thấp hơn nhiều so với giá trị thực của tài sản là 80 triệu đồng Đối với trường hợp này

K sẽ bị truy cứu trách nhiệm về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà

Trang 9

có theo Điều 250 BLHS vì hành vi của K mang đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm của tội này

Theo đó, K là người có năng lực TNHS và đạt độ tuổi chịu TNHS K không hề có hứa hẹn trước sẽ tiêu thụ tài sản mà A và B sẽ ăn trộm, nhưng do nhiều nguyên nhân (có thể một nguyên nhân nêu trên) K sẽ biết hoặc buộc phải biết đây là tài sản do A và B phạm tội mà có mà K lại mua lại tài sản đó, đây chính là hành vi tiêu thụ tài sản của người khác do phạm tội mà có Hơn nữa, lỗi của K là lỗi cố ý trực tiếp Mặc dù nhận thức được tài sản mình mua lại là tài sản do phạm tội mà có là trái pháp luật sẽ ảnh hưởng đến việc điều tra tội phạm, gây thiệt hại đến chủ sở hữu tài sản nhưng vì vụ lợi hoặc mục đích khác vẫn chấp nhận tiêu thụ tài sản đó

Như vậy, từ phân tích trên ta thấy rằng hành vi của K có đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm của tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

Do vậy, nếu K không hứa hẹn trước với A và B về việc sẽ tiêu thụ tài sản do

A và B ăn trộm nhưng bằng cách nào đó khi A và B bán cho K, K biết được

đó là tài sản do họ phạm tội mà có thì K sẽ bị truy cứu TNHS về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo Điều 250 BLHS

Trường hợp thứ hai: K không hứa hẹn trước với A và B về việc sẽ tiêu thụ tài sản do A và B ăn trộm đồng thời K cũng không biết được tài sản đó từ đâu mà có Đối với trường hợp này, K sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự

về hành vi của mình

Một người chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình nếu hành vi đó gây ra thiệt hại cho xã hội đồng thời hành vi đó là kết quả của sự

tự lựa chọn của họ trong khi họ có đủ điều kiện khách quan và chủ quan để lựa chọn và thực hiện xử sự khác phù hợp quy định của pháp luật Điều đó có nghĩa là họ cần phải có “lỗi” – là thái độ tâm lý của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra Ở đây, K không hề có “lỗi” trong việc mua lại tài sản từ A và B do K không biết

và nếu tài sản là động sản, không có đăng kí quyền sở hữu thì K cũng không

Trang 10

cần phải biết nguồn gốc tài sản Do vậy, trong trường hợp này K sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình

4 Giả sử A, B và C mới tròn 15 tuổi thì A, B và C có phải chịu TNHS về hành vi của mình không? Tại sao?

Như đã phân tích ở trên, A, B và C phạm phải tội trộm cắp tài sản quy định tại khoản 2 Điều 138 BLHS

Khoản 2 Điều 138 BLHS quy định: “Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:…”, theo đó, mức

cao nhất của khung hình phạt quy định tại khoản này là đến bảy năm tù Căn

cứ vào khoản 3 Điều 8 BLHS: “…; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy

là đến bảy năm tù:…”, do đó, tội trộm cắp tài sản do A, B và C thực hiện là

tội nghiêm trọng

Điều 12 BLHS có quy định về tuổi chịu TNHS như sau:

“1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.

2 Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.”

Theo đó, nếu A, B và C mới tròn 15 tuổi thì họ chỉ phải chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trong do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiệm trọng tuy nhiên, trong trường hợp này, tội trộm cắp tài sản mà họ thực hiện là tội phạm nghiêm trọng do đó, A, B và C sẽ không phải chịu TNHS về hành vi của mình

Trong trường hợp này, theo quy định tại Điều 70 BLHS thì A, B và C

có thể bị áp dụng một trong các biện pháp tư pháp có tình giáo dục, phòng ngừa: giáo dục tại xã, phường, thị trấn; hoặc đưa vào trường giáo dưỡng

Ngày đăng: 25/03/2019, 09:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w