Việc hưởng di sản của người để lại di sản sẽ tuân theo một số nguyên tắc cụ thể:hàng thừa kế trước loại trừ hàng thừa kế sau và sẽ không bao giờ có trường hợp haingười ở hai hàng thừa kế
Trang 1Mục Lục Trang
A.MỞ ĐẦU
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I.Những vấn đề chung về thừa kế và thừa kế thế vị.
1.Khái niệm về thừa kế và quyền thừa kế.
2.Khái niệm thừa kế theo pháp luật và thừa kế thế vị.
2.1 Khái niệm thừa kế theo pháp luật
a Diện thừa kế
b Hàng thừa kế
2.2 Khái niệm chung về thừa kế thế vị
3.Các quy định của pháp luật dân sự về thừa kế thế vị qua các thời kỳ.
II.Một số vấn đề về thừa kế thế vị theo quy định của BLDS 2005.
1.Điều kiện hưởng thừa kế thế vị.
2.Các trường hợp được hưởng thừa kế thế vị.
2.1 Thừa kế thế vị trong trường hợp thông thường.
a Cháu thế vị cha hoặc mẹ để hưởng di sản của ông, bà.
b Chắt thế vị cha hoặc mẹ của chắt để hưởng di sản của cụ.
2.2 Thừa kế thế vị trong trường hợp có nhân tố con nuôi.
2.3 Thừa kế thế vị của con riêng, cha dượng, mẹ kế.
2.4 Thừa kế thế vị trong trường hợp con được sinh ra theo phương pháp khoa
học
2.5 Thừa kế thế vị trong trường hợp có vi phạm khoản 1 Điều 643 BLDS
3.Mối quan hệ thừa kế theo hàng và thừa kế thế vị.
III.Một số bất cập trong quá trình áp dụng các quy định về thừ kế thế vị trong Bộ
luật Dân sự 2005 và hướng hoàn thiện các quy định đó.
1.Thừa kế thế vị trong trường hợp có nhân tố con nuôi.
2 Thừa kế thế vị của con riêng, cha dượng, mẹ kế.
3.Thừa kế thế vị trong trường hợp con sinh ra theo phương pháp khoa học.
4 Về thừa kế thế vị trong trường hộ vi phạm khoản 1 Điều 643 Bộ luật dân sự 2005.
C.KẾT LUẬN
2 3 3 3 4 4 4 5 6 8 8 9 9 9 12 13 14 15 16 16 17 18 20 21
Trang 2A.MỞ ĐẦU
Trong nề kinh tế thị trường, cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, cácquan hệ xã hội ngày càng trở nên đa dạng Khi con người bắt đầu tích lũy về tài sản thìcũng đặt ra yêu cầu pháp luật bảo hộ vấn đề quyền sở hữu tài sản và chuyển dịch khốitài sản đó sau khi chết Thừa kế trở nên đặc biệt quan trọng được nhà nước ghi nhận vàbảo hộ và cụ thể hóa trong BLDS Cùng với sự phát triển ngày càng đa dạng của cuộcsống các quy định của pháp luật về thừa kế cũng ngày được hoàn thiện dần
Thừa kế tài sản là phạm trù pháp luật phản ánh quan hệ kinh tế - xã hội nói chung
và lịch sử phát triển kinh tế - xã hội nói riêng, nó xuất hiện và tồn tại cùng với sự xuấthiện và phát triển của xã hội có phân chia giai cấp dựa trên cơ sở tư hữu về tài sảnđược thể hiện ở sự dịch chuyển tài sản của người chết cho người còn sống theo cácnguyên tắc và trình tự, thủ tục do pháp luật quy định Trong đó, thừa kế thế vị là việccháu hoặc chắt được hưởng di sản của ông, bà, hoặc cụ với tư cách thay thế vị trí củangười cha hoặc người mẹ để nhận phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu hoặc chắtđáng lẽ được hưởng nếu còn sống
Kể từ năm 1945 đến nay, bằng việc ban hành các văn bản pháp luật, các quy định
về thừa kế thế vị ngày càng được bổ sung và hoàn thiện nhằm bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của công dân Đặc biệt những quy định của pháp luật hiện hành đã thể hiện
sự bảo vệ , củng cố và duy trì truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta Tuy nhiên, có nhiềuquy định của pháp luật về thừa kế thế vị còn chưa rõ ràng, dẫn đến sự chưa thống nhất
và chưa có cách giải quyết đồng bộ giữa các cơ quan có thẩm quyền Để tìm hiểu sâuhơn về vấn đề này, em xin lựa chọn đề tài: “Thừa kế thế vị theo qui định trong Bộ luậtdân sự năm 2005”
Trang 3B.NỘI DUNG
I.Những vấn đề chung về thừa kế và thừa kế thế vị.
1.Khái niệm về thừa kế và quyền thừa kế.
Thừa kế di sản theo quan hệ pháp luật dân sự chính là sự dịch chuyển tài sản vàquyền sở hữu tài sản của cá nhân người đã chết cho cá nhân, tổ chức có quyền hưởngthừa kế, người thừa kế trở thành chủ sở hữu của tài sản được hưởng theo di chúc hoặctheo pháp luật Người được hưởng tài sản của người đã chết để lại được gọi là ngườithừa kế Người để lại di sản chỉ có thể là cá nhân, mà không là pháp nhân, cơ quan nhànước hoặc tổ chức, nhưng người thừa kế có thể là cá nhân hoặc cơ quan nhà nước haybất kỳ một chủ thể nào khác thỏa mãn các quy định của pháp luật người được có tàisản chỉ định hưởng di sản theo di chúc
Quyền thừa kế hiểu theo nghĩa rộng là tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định
về nguyên tắc, điều kiện, trình tự, hình thức để lại di sản và hưởng di sản thừa kế,quyền khởi kiện yêu cầu bảo vệ quyền thừa kế của mình và phủ định quyền thừa kếcủa người khác
Quyền thừa kế hiểu theo nghĩa hẹp là quyền dân sự cụ thể của người được thừa kếtheo di chúc hoặc theo pháp luật Người thừa kế có quyền hưởng di sản, quyền từ chốinhận di sản, quyền khởi kiện hay không khởi kiện để yêu cầu bảo vệ quyền hưởng disản của mình trong thời hiệu khởi kiện về thừa kế
Ngoài hai cách hiểu trên, quyền thừa kế còn được hiểu là một quan hệ pháp luậtdân sự giữa những người có quyền hưởng di sản với nhau và giữa những người thừa kếvới người không có quyền hưởng di sản Quan hệ thừa kế là một loại quan hệ pháp luật
về di sản Quan hệ này là hệ quả của quan hệ sở hữu và đồng thời cũng là căn cứ xáclập quyền sở hữu của người được thừa kế nhận di sản Tính chất hai chiều của quan hệthừa kế đã tạo điều kiện cho sự hình thành các quan hệ về tài sản khác của các chủ thểtham gia vào quan hệ thừa kế
Quyền thừa kế được hiểu là một bộ phận của chế định thừa kế, do vậy, nó chứađựng những yếu tố, tính chất, đặc điểm của một chế định pháp luật Chế định thừa kếbảo hộ quyền của cá nhân đối với tài sản thuộc quyền sởn hữu của họ trong việc để lạitài sản sau khi họ chết cho những người còn sống có quyền hưởng thừa kế theo hìnhthức nhất định (theo di chúc hoặc theo pháp luật) Quyền thừa kế gắn liền với quyền sở
hữu tài sản của cá nhân, vì vậy Điều 58 Hiến pháp 1992 quy định: “Nhà nước bảo hộ
quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân” Các hình thức dịch chuyển di
sản của một người đã chết cho những người còn sống theo di chúc hoặc theo pháp luật
Trang 4là những cơ sở xác lập quyền sở hữu đối với di sản của người được hưởng thừa kế hợppháp.
2.Khái niệm thừa kế theo pháp luật và thừa kế thế vị.
2.1 Khái niệm thừa kế theo pháp luật
Pháp luật thừa kế Việt Nam từ trước đến nay cũng như pháp luật thừa kế của cácnước trên thế giới đều quy định cá nhân có quyền để lại di sản của mình sau khi chếtcho những người thân thích theo một trong hau hình thức: thừa kế theo di chúc hoặcthừa kế theo pháp luật Pháp luật tôn trọng quyền sở hữu của công dân nên đã quy định
cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt khối tài sản của mình cho những người khácvới ý chí hoàn toàn tự nguyện Bên cạnh đó, trong những trường hợp mà việc địnhđoạt khối tài sản của người chết không thể thực hiện được bằng di chúc thì việc phânchia di sản đó sẽ được thực hiện theo các quy định của pháp luật
Điều 674 BLDS 2005 quy định: “Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng
thừa kế, điều kiện và trình tự hàng thừa kế do pháp luật quy định” Như vậy, khác với
thừa kế theo di chúc là những người thừa kế được chỉ định một cách cụ thể trong dichúc do người để lại di sản lập theo ý chí tự nguyện của họ, trong hình thức thừa kếtheo pháp luật, người thừa kế là những người do pháp luật quy định gồm những ngườithân thuộc và có mối quan hệ gần gũi nhất đối với người để lại di sản Phạm vi nhữngngười thừa kê theo pháp luật rất rộng và được quy định thành những hàng thừa kế nhấtđịnh Việc hưởng di sản của người để lại di sản sẽ tuân theo một số nguyên tắc cụ thể:hàng thừa kế trước loại trừ hàng thừa kế sau và sẽ không bao giờ có trường hợp haingười ở hai hàng thừa kế khác nhau cũng được nhận di sản thừa kế theo hình thức thừa
kế theo pháp luật; những người thừa kế cùng hàng sẽ được hưởng kỉ phần bằng nhau
a Diện thừa kế
Diện thừa kế theo quy định của pháp luật là phạm vi những người được pháp luậtxác định có thể được hưởng di sản của người chết theo quy định của pháp luật Diệnthừa kế qua các chế độ xã hội đều có một đặc điểm chung, đó là chủ yếu do quan hệhôn nhân và gia đình chi phối, mặt khác, nó cũng tùy thuộc vào quan hệ sản xuất củatừng giai đoạn phát triển xã hội và dựa trên những quy định pháp luật của chính chế độ
xã hội đó mà phạm vi những người thuộc diện thừa kến theo pháp luật để xác đinhphạm vi những người được hưởng thừa kế dựa trên ba mối quan hệ: quan hệ hôn nhân,quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng
b Hàng thừa kế
Không phải cá nhân nào trong diện thừa kế cũng được hưởng di sản thừa kế mà
họ chỉ có thể được hưởng nếu thỏa mãn các điều kiện do pháp luật quy định Điều kiện
do pháp luật quy định hoàn toàn không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người thừa
Trang 5kế Trên cơ sở xác định diện thừa kế, pháp luật quy định những người có thể đượchưởng di sản thừa kế của người chết được xếp theo thứ tự các hàng thừa kế theonguyên tắc ưu tiên và những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằngnhau.
- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con
đẻ, con nuôi của người chết
- Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chịruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bànội, ông ngoại, bà ngoại
- Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột,cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bácruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, di ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụnội, cụ ngoại
Khi chia thừa kế theo hàng thừa kế, những người thừa kế cùng hàng được hưởngphần bằng nhau, những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu khôngcòn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyềnhưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản Khi tất cả các hàng thừa kế đều không cònngười thừa kế thì di sản thuộc về Nhà nước
2.2 Khái niệm chung về thừa kế thế vị.
Để giải quyết thỏa đáng quyền thừa kế thế vị của các cháu nội, ngoại hoặc chắtnội, ngoại trong trường hợp cha mẹ của cháu hoặc chắt chết trước hoặc cùng một thờiđiểm với ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, BLDS 2005 đã thừa kế các quy định cũđồng thời bổ sung quy định mới về thừa kế thế vị cụ thể , Điều 677 BLDS 2005 quy
định về thừa kế thế vị như sau: “Trong trường hợp con của người để lại di sản chết
trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng đã chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống”
Quy định trên không những phù hợp về mặt thực tế mà còn phù hợp với bản chấtcủa thừa kế thế vị Tuy nhiên, quy định này mới chỉ liệt kê các trường hợp thừa kế thế
vị mà chưa định nghĩa thế nào là thừa kế thế vị Theo từ điển giải thích thuật ngữ luậthọc của Trường Đại học Luật Hà Nội do Nhà XB CAND xuất bản năm 1999 định
nghĩa “Thừa kế thế vị là thừa kế bằng việc thay thế vị trí để hưởng thừa kế” Mặt khác,
theo tinh thần của Điều luật trên thừa kế thế vị chỉ đặt ra khi người được thế vị (conhoặc cháu) chết trước hoặc chết cùng một thời điểm với người để lại di sản (ông, bàhoặc cụ) Vì thế, có thể hiểu, thừa kế thế vị là việc cháu hoặc chắt được hưởng di sản
Trang 6của ông, bà, hoặc cụ với tư cách thay thế vị trí của người cha hoặc người mẹ để nhậnphần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu hoặc chắt đáng lẽ được hưởng nếu còn sống.Pháp luật quy định về thừa kế thế vị là nhằm bảo vệ quyền lợi của các cháu, cácchắt của người để lại di sản một cách trực tiếp nhất Tuy nhiên, bản chất của thừa kếthế vị là không phải mọi trường hợp người cha, người mẹ không thể nhận di sản củaông, bà hoặc cụ thì người con có thể thay vị trí của người cha, người mẹ ấy để nhận.Việc áp dung thừa kế thế vị sẽ bị loại trừ nếu người được thế vị là con hoặc cháu củangười để lại di sản chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản đó nhưngkhông có quyền hưởng di sản do đã vi phạm Khoản 1 Điều 643 trước khi chết Trên cơ
sở đó, Điều 677 BLDS năm 2005 đã quy định các trường hợp thừa kế thế vị để hưởng
di sản thừa kế chính đáng của cháu, chắt được đảm bảo
3.Các quy định của pháp luật dân sự về thừa kế thế vị qua các thời kỳ.
Việt Nam trở thành nước thuộc địa nửa phong kiến năm 1858 – khi thực dân Pháp
nổ phát súng đầu tiên xâm lược nước ta Trong lĩnh vực dân sự, pháp luật của nước tathời kỳ này được xây dựng theo khuôn mẫu của luật Cộng hòa Pháp, có cả biến chophù hợp với bối cảnh kinh tế và xã hội lúc bấy giờ đang bị chia làm 3 kỳ: Bắc kỳ,Trung kỳ, Nam kỳ Tại ba kỳ có ba bộ luật: An Nam pháp quy giản yếu( năm 1883),Dân luật Bắc kỳ (năm 1931), Hoàng Việt Trung Kỳ bộ luật( năm 1936, 1938, 1939).Theo quy định của Dân luật Bắc Kỳ và Dân luật Trung Kỳ, quyền thừa kế trướchết thuộc về các con của người để lại di sản của ông, bà Lần đầu tiên trong pháp luậtdân sự Việt Nam đã quy định về thừa kế thế vị, theo quy định tại các điều từ Điều 337đến Điều 343 Dân luật Bắc Kỳ và từ Điều 332 đến Điều 338 Hoàng Việt Trung Kỳ bộ
luật đều quy định: “Các con của người để lại di sản, con trai, con gái được chia đều
nhau Nếu có người con nào chết trước thì con cháu của người ấy thế vị” Có thể nói,
đây là điểm mốc đánh dấu sự xuất hiện quy định về thừa kế thế vị trong pháp luật dân
sự quy định về thừa kế
Sau thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945, đất nước ta bước vào kỷnguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội, trước yêu cầu cấp bách củaviệc xóa bỏ các tàn tích của chế độ phong kiến trong lĩnh vực dân sự Sắc lệnh số97/SL, ngày 22/5/1950 được ban hành sửa đổi một số quy lệ và chế định trong luật dân
sự Về thừa kế thế vị, Sắc lệnh còn quy định cho người đang là con nuôi của ngườikhác lại chết trước cha, mẹ để thì các con của người đó được thừa kế thế vị Mặc dùSắc lệnh số 97/SL đã quy định một số nguyên tắc về thừa kế nhưng trong trường hợpnào được thừa kế theo pháp luật thì vẫn chưa đề cập
Nhằm khắc phục tình trạng còn thiếu văn bản pháp luật về thừa kế, dựa trên thựctiễn xét xử, Bộ Tư Pháp đã ban hành Thông tư số 1742-NBC ngày 18/9/1956, trong đódiện thừa kế có mở rộng hơn nhiều Tuy chưa có quy định cụ thể về hàng thừa kế,
Trang 7nhưng tại Điều 4, Điều 5 của Thông tư thì thứ tự thừa kế theo pháp luật bước đầu đượcxác định.
- Thứ tự thứ nhất gồm có: vợ hoặc chồng và các con của người chết (lànhững người được hưởng di sản trước những người thân thuộc khác của người
Hiến pháp năm 1959 được ban hành đã chính thức ghi nhận quyền thừa kế tài sản
tư hữu của công dân (Điều 14) nhưng lúc này vẫn chưa có pháp luật dân sự hoàn thiện
Để đáp ứng nhu cầu thực tiễn xét xử, ngày 27/8/2968 Thông tư số 594/TT-NCLP củaTòa án nhân dân tối cao hướng dẫn giải quyết tranh chấp về thừa kế được ban hànhtrong đó quy định về thừa kế thế vị như sau: “Trong hàng thừa kế thứ nhất, nếu ngườicon lại chết trước người để lại di sản thì con cháu của người này được thay mặt bố, mẹmình đã chết trước” Cũng theo Thông tư 594/TT-NCLP, con nuôi và bố mẹ nuôi đượcthừa kế theo pháp luật của nhau ở hàng thừa kế thứ nhất, nhưng người đang làm connuôi của người khác lại không có quyền thừa kế theo pháp luật của bố mẹ đẻ và củanhững người cùng huyết thống khác Theo đó, con của người đang là con nuôi củangười khác không được thừa kế thế vị hưởng di sản của ông bà nội, ông bà ngoại trongtrường hợp cha mẹ đẻ của họ chết trước ông bà Ngược lại, nếu con nuôi chết trướccha mẹ nuôi thì con của người con nuôi đó được thừa kế thế vị hưởng di sản của ông,
bà nhận nuôi cha hoặc mẹ họ
Thông tư số 81/TT-TANDTC ngày 24/7/1981 của Tòa án nhân dân tối caohướng dẫn đường lối giải quyết các tranh chấp về thừa kế di sản có quy định đầy đủhơn những trường hợp thừa kế theo pháp luật và lần đầu tiên thừa kế thế vị của connuôi được đề cập đến trong Thông tư này: “Người con nào (kể cả con nuôi) chết trướcngười để thừa kế thì các con của người đó (tức là cháu của người để thừa kế) sẽ hưởngphần thừa kế của bố, mẹ mình (thừa kế thế vị)” So với các văn bản trước thì Thông tư
số 81/TT-TANDTC có quy định về thừa kế thế vị có sự khác biệt cơ bản chỉ là quyđịnh cháu được thừa kế thế vị
Pháp lệnh thừa kế được ban hành ngày 30/8/1990 là văn bản pháp luật điều chỉnhriêng về lĩnh vực thừa kế ở nước ta Quyền thừa kế thế vị được ghi nhận trong mộtđiều luật riêng và được củng cố, bổ sung phù hộ với điều kiện thực tế hơn nhưng vănbản quy định về thừa kế thế vị trước đó Điều 26 Pháp lệnh thừa kế quy định: “Trongtrường hợp con của người để lại di sản chết trước người để lại di sản, thì cháu đượchưởng phần di sản mà cha, mẹ cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết
Trang 8trước người để lại di sản , thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắtđược hưởng nếu còn sống”.
Để phù hợp với sự đổi mới mọi mặt của đất nước và đáp ứng như cầu của toàn xãhội trong thời kỳ đổi mới và phát triển các thành phần kinh tế Hiến pháp 1992 đã đượcban hành Trên cơ sở Hiến pháp 1992, những nguyên tắc về thừa kế di sản và nhữngquy định về quyền thừa kế của công dân đã được pháp điển hóa một cách cụ thể trongBLDS đầu tiên của nước ta được ban hành năm 1995 Chế định thừa kế trong BLDS
1995 đã kế thừa hầu hết các quy định của Pháp lệnh thừa kế, tuy nhiên trong từng điềukhoản cụ thể đã có sự chỉnh lý và bổ sung nhằm đưa các quy định của pháp luật vềthừa kế vào cuộc sống một cách hữu hiệu hơn Theo đó, vấn đề về thừa kế thế vị đượcquy định tại Điều 680 BLDS 1995
Qua 10 năm thi hành BLDS 1995, thực tiễn xét xử cho thấy những quy định phápluật về thừa kế đã đi vào cuộc sống Tuy nhiên trong suốt quá trình 10 năm đó, có rấtnhiều các văn bản pháp luật có liên quan được ban hành, như Luật Hôn nhân và giađình 2000, Luật Đất đai năm 2003…dẫn đên những bất cập nhất định, đó là nhữngquan hệ liên quan đến tài sản, quyền sử dụng đất và những quan hệ khác so liên quanđến thừa kế Vì vậy, BLDS 2005 ra đời đã bổ sung chỉnh sửa một số quy định củaBLDS 1995 cho phù hộ với thực tế và có tính áp dụng trong đời sống cao hơn Quyđịnh về thừa kế thế vị cũng được sửa đổi bổ sung cho phù hợp, theo đó pháp luật bổsung trường hợp cha hoặc mẹ của cháu hoặc chắt “chết cùng một thời điểm” với người
để lại di sản chứ không chỉ quy định trường hợp “chết trước” mới có quyền hưởngthừa kế thế vị như quy định của BLDS năm 1995 Một số vấn đề pháp lý xung quanhquan hệ thừa kế thế vị sẽ được đề cập và phân tích rõ sau đây
II.Một số vấn đề về thừa kế thế vị theo quy định của BLDS 2005.
1.Điều kiện hưởng thừa kế thế vị.
Trước hết, muốn được hưởng thừa kế thế vị thì người thừa kế thế vị phải đảm bảonhững điều kiện của người thừa kế theo pháp luật đó là: cháu phải còn sống vào thờiđiểm ông, bà chết mới là người thừa kế thế vị tài sản của ông, bà Chắt phải sống vàothời điểm cụ chết mới là người thừa kế thế vị tài sản của cụ Cũng trong điều kiện này,nhưng ở một hoàn cảnh đặc biệt hơn là cháu sinh ra sau khi ông, bà chết nhưng đãthành thai trước khi ông, bà cũng là người thừa kế thế vị tài sản của cụ
Điều 677 BLDS 2005 quy định: “Trong trường hợp con của người để lại di sản
chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần
di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng đã chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống” Theo quy định trên, cháu
Trang 9hoặc chắt được thừa kế thế vị của ông, bà nội, ngoại hoặc cụ nội, ngoại với những điềukiện:
- Cha hoặc mẹ của cháu hoặc chắt chết trước hoặc cùng một thời điểm với ông bànội, ông bà ngoại hoặc các cụ nội, cụ ngoại;
- Cháu hoặc chắt chỉ được thừa kế thế vị hưởng di sản của ông, bà hoặc của các
cụ phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu hoặc chắt được hưởng nếu còn sống
Điểm khác biệt giữa quy định về thừa kế thế vị của BLDS 1995 và BLDS 2005là: nếu như trước đây BLDS 1995 chỉ quy định điều kiện cha hoặc mẹ chết trước ông,
bà hoặc cụ chứ không quy định điều kiện “chết cùng thời điểm” như BLDS 2005 Sựthay đổi này là hoàn toàn hợp lý bởi trong thực tế có nhiều trường hợp ông và bố chếtcùng 1 thời điểm trong một tai nạn mà không xác định được ai là người chết trước, ai
là người chết sau Do đó, sự thay đổi này còn có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đảmbảo quyền hưởng thừa kế của cháu và chẳ trong việc hưởng di sản của ông, bà và cụ
2.Các trường hợp được hưởng thừa kế thế vị.
2.1 Thừa kế thế vị trong trường hợp thông thường.
a Cháu thế vị cha hoặc mẹ để hưởng di sản của ông, bà.
Cháu sẽ được thay thế vị trí của cha hoặc mẹ để hưởng di sản của ông, bà trongcác trường hợp cụ thể sau:
- Trong trường hợp cha đẻ chết trước hoặc cùng một thời điểm với ông nội hoặc
bà nội thì con được thay thế vị trí của cha để hưởng phần di sản mà cha mình đượchưởng nếu còn sống
- Trong trường hợp mẹ đẻ chết trước hoặc cùng thời điểm với ông ngoại, hoặc bàngoại thì con được thay thế vị trí của mẹ để hưởng phần di sản mà mẹ mình đượchưởng nếu còn sống
Các trường hợp đều có một điểm chung là giữa người để lại di sản, người đượcthế vị và người thế vị đều có quan hệ huyết thống trực hệ
b Chắt thế vị cha hoặc mẹ của chắt để hưởng di sản của cụ.
Chắt sẽ được thay thế vị trí của cha hoặc mẹ của chắt để hưởng di sản của cụtrong các trường hợp cụ thể sau:
Trường hợp ông nội, bà nội chết trước người để lại di sản là cụ, cha cũng chếttrước người để lại di sản nhưng chết sau ông nội, bà nội thì chắt được hưởng phần disản mà cha mình được hưởng nếu còn sống vào thời điểm người để lại di san chết
Trang 10Trường hợp ông ngoại, bà ngoại chết trước người để lại di sản là cụ, mẹ cũng chếttrước người để lại di sản nhưng chết sau ông ngoại, bà ngoại thì chắt được hưởng phần
di sản mà mẹ mình được hưởng nếu còn sống vào thời điểm người để lại di sản chết.Trường hợp ông, bà, cha, mẹ đều chết cùng thời điểm với người để lại di sản thìchắt được hưởng phần di sản mà cha, mẹ mình được hưởng nếu còn sống vào thờiđiểm mở thừa kế
Trường hợp ông, bà chết trước người để lại di sản, cha mẹ chết sau ông, bànhưng chết cùng thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản màcha, mẹ chắt được hưởng nếu còn sống vào thời điểm mở thừa kế
Trong trường hợp ông, bà không được quyền hưởng di sản của cụ và cha, mẹ chếttrước cụ thì chắt cũng được thế vị cha, mẹ đẻ để hưởng thùa kế đối với di sản của cụ(nếu cụ không còn người thừa kế di sản ở hàng thứ nhất)
Việc nhận con nuôi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận theo thủ tụcluật định sẽ làm phát sinh quan hệ pháp luật cha mẹ và con giữa người nhận nuôi connuôi và người được nhận làm con nuôi Quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôicon nuôi và người được nhận làm con nuôi là quan hệ cha mẹ và con đặc biệt, vì quan
hệ này không phát sinh trên cơ sở tự nhiên và gắn với huyết thống giữa hai bên
2.2 Thừa kế thế vị trong trường hợp có nhân tố con nuôi.
Do đó, mối quan hệ này cần có những quy phạm pháp luật điều chỉnh kịp thời vàđúng đắn
Điều 24 Luật Nuôi con nuôi 2010 quy định: “1.Kể từ ngày giao nhận con nuôi,
giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con, giữa con nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi cũng có các quyền, nghĩa
vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật dân sự
và các quy định khác của pháp luật có liên quan”
Quy định này không những quy định mối quan hệ giữa con nuôi và cha mẹ nuôi
mà còn quy định mối quan hệ giữa con nuôi với gia đình cha mẹ nuôi, trong đó baogồm nhiều mối quan hệ khác nhau như: quan hệ giữa con nuôi với cha đẻ, mẹ đẻ củangười nhận nuôi con nuôi với những người anh, chị, em ruột của người nhận nuôi…Trong mối quan hệ với những thành viên này của gia đình cha mẹ nuôi, người connuôi có được coi như con đẻ của người nhận nuôi hay không, có đầy đủ các quyền vànghĩa vụ như con đẻ của người nhận nuôi hay không, quy định điều luật chưa đượcsáng tỏ Xuất phát từ cách quy định không rõ ràng này mà trên thực tế xuất hiện một sốquan điểm cơ bản trái ngược nhau
Trang 11- Quan điểm thứ nhất cho rằng: giữa con nuôi với các thành viên khác trong giađình cha mẹ nuôi chỉ tồn tại mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình với nhau,được điều chỉnh với quy định tại Điều 49 Luật HN&GĐ 2000 – theo đó con nuôi chỉ
có mối quan hệ với các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi khi con nuôi sốngchung với những thành viên này, còn khi không sống chung thì giữa họ cũng khôngtồn tại quyền và nghĩa vụ gì cả Do đó, quy định tại Điều 47,48,58,59 Luật HN&GĐ
2000 cũng không được áp dụng để điều chỉnh mối quan hệ giữa họ với nhau Về quan
hệ thừa kế, giữa con nuôi với các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi như cha
mẹ đẻ, các con đẻ, anh chị em ruột của cha nuôi, mẹ nuôi sẽ không có quyền thừa kếtheo luật của nhau theo quy định tại Điều 676 BLDS năm 2005 Tương tự, con nuôicũng không được hưởng thừa kế thế vị theo Điều 677 BLDS năm 2005 đối với tài sảncủa cha đẻ, mẹ đẻ của người nhận nuôi chết trước hoặc chết cùng thời điểm với cha mẹ
nuôi con nuôi là “Con nuôi không chỉ có đầy đủ quyền và nghĩa vụ pháp lí đối với cha
mẹ nuô mà còn với ông, bà nội ngoại anh, chị em trong gia đình cha mẹ nuôi”, vì vậy
để tạo môi trường tốt cho trẻ em được nhận làm con nuôi, để con nuôi có thể hòa nhậpvới gia đình cha mẹ nuôi thì con nuôi không chỉ có mối quan hệ với bản thân ngườinhận nuôi mà còn cần thiết lập mối quan hệ gắn bó về quyền và nghĩa vụ giữa connuôi với các thành viên khác trong gia đình người nhận nuôi Theo đó, quyền thừa kếcủa người được nhận nuôi được bảo đảm như đối với con đẻ trong gia đình người nhậnnuôi con nuôi – nghĩa là người con nuôi và những người khác trong gia đình ngườinhận nuôi như cha đẻ, mẹ đẻ của người nhận nuôi, con đẻ của người nhận nuôi, anhchị em ruột của người nhận nuôi là những người thừa kế theo pháp luật với nhau vàquan hệ thừa kế thế vị theo quy định tại Điều 677 cũng sẽ phát sinh khi đáp ứng đủ cácđiều kiện luật định
Vấn đề thứ hai cần được nhắc tới chính là quan hệ giữa con đã cho làm con nuôivới cha mẹ đẻ Khoản 4 Điều 24 Luật Nuôi con nuôi quy định, về nguyên tắc, quyền
và nghĩa vụ của cha mẹ được chuyển từ cha mẹ đẻ sang cho cha mẹ nuôi kể từ ngàyviệc nuôi con nuôi được pháp luật công nhận – cha mẹ đẻ không còn quyền của cha
mẹ đối với con đã cho làm con nuôi Từ quy định này có thể thấy, việc nuôi con nuôiđược xác lập theo hai hình thức nuôi con nuôi đầy đủ và nuôi con nuôi đơn giản –trong đó hình thức nuôi con nuôi đầy đủ là hình thức mà khi quan hệ nhận nuôi connuôi phát sinh theo căn cứ luật đinh thì đồng thời với việc đó là việc chấm dứt hoàntoàn các quyền và nghĩa vụ giữa người con được nhận làm con nuôi này sẽ gắn vớimột hệ quả pháp lý khác nhau