1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

bài tập học kỳ dân sự di sản dùng vào việc thờ cúng

21 159 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 127 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về căn cứ xác lập, hậu điền và kị điền khác nhau và cũng khác với di sảndùng vào việc thờ cúng mặc dù chúng đều được sử dụng vào một mục đích là thờcúng người đã chết, sự khác nhau đó ở

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

NỘI DUNG 2

I Cơ sở lý thuyết 2

1 Một số khái niệm 2

2 Khái quát về các quy định về di sản dùng vào việc thờ cúng trong thời kỳ trước năm 1945: 3

II Tính chất pháp lý của di sản dùng vào việc thờ cúng: 5

1 căn cứ xác lập di sản dùng vào việc thờ cúng 6

2 Loại tài sản và giá trị tài sản dùng vào việc thờ cúng 7

3 Về người quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng 11

4 Quyền và nghĩa vụ của người thực hiện thờ cúng theo di chúc và theo thỏa thuận của những người thừa kế 13

5 xử lý di sản dùng vào việc thờ cúng: 15

III Thực tiễn và giải pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề di sản thờ cúng 16

1 Các trường hợp tranh chấp về di sản dùng vào việc thờ cúng 16

2 Những bất cập trong pháp luật hiện hành và giải pháp hoàn thiện pháp luật về di sản dùng vào việc thờ cúng 17

KẾT LUẬN 20

MỞ ĐẦU

Quan hệ thừa kế là một trong những mối quan hệ hết sức phức tạp trong xã hội Việc tôn trọng ý chí của người để lại di sản là một vấn đề đáng lưu ý và đã được Pháp luật ghi nhận Trên thực tế, việc để lại di sản của người đã khuất không

Trang 2

đơn thuần chỉ là phân chia di sản thông thường, mà còn phát sinh các vấn đề về disản dành vào việc thờ cúng Nhằm đảm bảo thực hiện ý chí của người để lại di sảnmột cách chính xác và hợp lý nhất, Pháp luật Dân sự đã đưa ra các quy định cụ thể

về di sản dùng vào việc thờ cúng Vậy các quy định này xuất phát từ đâu, có ýnghĩa như thế nào đối với những người được để lại di sản? Để đi sâu và phân tích

vào vấn đề này, em xin được chọn đề tài: “Di sản dùng vào việc thờ cúng” để

phân tích một số vấn đề về di sản dùng vào việc thờ cúng theo quy định của phápluật

2005(BLDS) thì: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của

người chết trong tài sản chung với người khác.”

Di sản dùng vào việc thờ cúng là phần tài sản của người chết để lại, đượctrích từ khối di sản thừa kế, nhằm dịch chuyển cho người quản lý di sản dùng vàoviệc thờ cúng1

1 TS Trần Thị Huệ, Di sản thừa kế theo pháp luật Việt Nam những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2011 Tr 202

Trang 3

2 Khái quát về các quy định về di sản dùng vào việc thờ cúng trong thời kỳ

Bộ Quốc triều hình luật quy định 13 điều về vấn đề ruộng đất hương hảochứng tỏ các nhà làm luật thời kỳ này đã dành sự quan tâm sâu sắc đến vấn đề disản thờ cúng Luật Hương hỏa triều Lê thể hiện sâu sắc phong tục tập quán ngườiViệt, có nhiều điểm khác với pháp luật Trung Hoa

Ta thấy, thờ cúng tổ tiên là một phong tục truyền thống có từ lâu đời củangười Việt Nam và hiện nay vẫn rất được coi trọng Việc thờ cúng được thực hiệntrên cơ sở của các quan niệm mang tính đạo đức, văn hóa nhằm thể hiện sự biết ơncông sinh thành, dưỡng dục; con người phải có cội nguồn, tổ tông, con cháu phảitôn trọng những thế hệ cha ông kể cả khi họ còn sống cũng như khi đã khuất Trongthờ cúng, di sản thờ cúng có ý nghĩa hết sức quan trọng không chỉ về mặt vật chất

mà còn về mặt tinh thần Bởi vậy, đối với di sản dùng vào việc thờ cúng, gia đình

và dòng họ thường có những quy định hết sức chặt chẽ Không chỉ vậy, Nhà nướccũng có những quy định cụ thể để điều chỉnh

Trong thời kỳ trước Cách mạng Tháng Tám, di sản dùng vào việc thờ cúng

được coi là “phần động sản hay bất động sản trong gia tài dùng vào việc cúng giỗ

một người vợ hay chồng người ấy và cúng giỗ tổ tiên bên nội người ấy” theo quy

định tại Điều 394 Dân luật Bắc và Điều 400 Dân luật Trung Cũng theo điều 398Dân luật Bắc và điều 406 Dân luật Trung, thì di sản thờ cúng được chuyển giao chongười nối dõi hoặc được coi như nối dõi người đã chết để sử dụng thu hoa lợi dùngvào việc thờ cúng cho người để lại di sản dùng vào việc thờ cúng đó cũng như

Trang 4

những người theo quan hệ huyết tộc của người đã chết Phần di sản đó không thểquá 1/5 tài sản của người lập di sản Di sản ấy cũng được coi như trường tồn, dovậy không thể đem ra chia thừa kế Tuy nhiên, nó có thể không tồn tại mãi theo ýmuốn cá nhân, có thể mất mát do bị tiêu hủy hay bị triệt tiêu theo quy định củaPháp luật, hoặc người có di sản để thờ cúng bị tuyệt tự, di sản bị trưng dụng theoquyết định của hội đồng gia tộc, dòng họ

Bên cạnh những quy định đó, còn có những quy định về trường hợp thờ cúngđối với người không có con, cháu hoặc không có con trai Trong những trường hợp

đó, việc thờ cúng vẫn được thực hiện theo một trong hai hình thức xác lập, chuyểngiao ruộng đất dùng vào việc thờ cúng người đó sau khi qua đời, đó là hình thứchậu điền và kị điền

Về căn cứ xác lập, hậu điền và kị điền khác nhau và cũng khác với di sảndùng vào việc thờ cúng mặc dù chúng đều được sử dụng vào một mục đích là thờcúng người đã chết, sự khác nhau đó ở chỗ nếu người được hưởng di sản là contrai, cháu trai của người để lại di sản, người được chuyển giao tài sản để lại trongtrường hợp hậu điền và kị điền lại là dòng họ nội hoặc làng của người đã chết

Hậu điền là trường hợp khi còn sống, người không có con, cháu nối dõi đãhiến ruộng đất cho dòng họ hoặc cho làng để làm việc công ích với mục đích saukhi người này chết, dòng họ hoặc làng sẽ cúng giỗ cho người này Còn kị điền lại làtrường hợp mà người không có con trai thì con gái mua ruộng đất để hiến cho dòng

họ của bố hoặc cho làng nhằm mục đích để dòng họ bố hoặc làng cúng giỗ cho cha,

mẹ của người con gái đã hiến ruộng Dựa vào các tính chất cũng như căn cứ xác lậpnhư đã nêu trên, có thể thấy tài sản dùng vào việc thờ cúng ở hai hình thức hậu điền

và kị điền có nguồn gốc khác nhau, trong khi tài sản dùng vào việc thờ cúng dướihình thực hậu điền thuộc di sản của người đã chết, còn dưới hình thức kị điền thìkhông phải của người đã chết, mà là tài sản của người con gái do cha mẹ không cócon trai nên đã hiến tặng cho dòng họ bố hoặc cho làng Có thể thấy, các quy định

Trang 5

về di sản dùng vào việc thờ cúng của Pháp luật trước đây vẫn còn mang nặng tínhchất của nhà nước phong kiến thời kỳ cũ, đó là tư tưởng trọng nam khinh nữ.

II Tính chất pháp lý của di sản dùng vào việc thờ cúng:

Trong thời kỳ xã hội chủ nghĩa , Pháp luật đã có những quy định thừa nhậnviệc thờ cúng tổ tiên của công dân Ngoài ra, Pháp luật còn quy định rõ ràng vềviệc để lại di sản dùng vào việc thờ cúng và các phương thức giải quyết di sản đótrong các mối quan hệ khác Di sản dùng vào việc thờ cúng được quy định cụ thể

tại Điều 670 BLDS năm 2005: “1 Trong trường hợp người lập di chúc có để lại

một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa

kế và được giao cho một người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thoả thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng.

Trong trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng thì những người thừa kế cử một người quản lý di sản thờ cúng.

Trong trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di sản dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp di sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật.

2 Trong trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng.”

Qua những quy định trên đây ta có thể thấy:

Di sản thờ cúng là một phần của di sản thừa kế sau khi thanh toán xong các khoản

nợ liên quan đến di sản Di sản thờ cúng nằm trong khối liên hệ với di sản thừa kế,

là một phần của khối di sản do người chết để lại, nhưng phần di sản này khôngđược áp dụng chia theo di chúc hay chia theo pháp luật như di sản thường Di sảnthờ cúng không được chia thừa kế và không thuộc về người thừa kế nào Di sản thờ

Trang 6

cúng chỉ phải mang ra thanh toán các nghĩa vụ tài sản mà người chết để lại khi toàn

bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ về tài sản của người chết Trong khi đó,

di sản để chia thừa kế chỉ được xác định sau khi đã thanh toán xong các nghĩa vụtài sản và các chi phí liên quan đến di sản như tiền mai táng, tiền quản lý di sản Nếu nghĩa vụ tài sản của người chết để lại lớn hơn toàn bộ nghĩa vụ người chết đểlại, phần còn thiếu sẽ lấy từ di sản thờ cúng Di sản thờ cúng là phần còn lại sau khitrừ đi phần còn thiếu đó Nếu toàn bộ di sản của người chết để lại không đủ đểthanh toán nghĩa vụ thì không lập được di sản thờ cúng

1 căn cứ xác lập di sản dùng vào việc thờ cúng

Di sản dùng vào việc thờ cúng do người lập di chúc định đoạt phần di sảndùng vào việc thờ cúng và chỉ rõ phần tài sản nào được dùng vào việc thờ cúng thìphần di sản đó là phần di sản dùng vào việc thờ cúng Phần di sản này có thể làkhoản tiền cụ thể , có thể là quyền tài sản, có thể là những vật, giấy tờ có giá trịkhác Về di sản dùng vào việc thờ cúng, không nên hiểu là chỉ những loại tài sảnngười chết để lại theo di chúc Về di sản dùng vào việc thờ cúng, không chỉ lànhững tài sản do người lập di chúc xác định mà còn là các loai tài sản khác dùngvào việc thờ cúng Điều 670 BLDS quy định về căn cứ xác lập di sản dùng vào việcthờ cúng trong trường hợp cụ thể liên quan đến việc cá nhân người để lại di sảns đóvới tư cách chủ sở hữu tài sản định đoạt tài sản của mình theo quy định của phápluật Như vậy, di sản dùng vào việc thờ cúng của gia đình, dòng họ còn do nhiềungười lập di chúc để lại nhưng xác định loại di sản này trong từng quan hệ độc lập,việc người để lại di sản dùng vào việc thờ cúng định đoạt theo di chúc Ngoài căn

cứ xác lập di sản dùng vào việc thờ cúng do người lập di chúc định đoạt trong dichúc, di sản dùng vào việc thờ cúng còn do con, cháu tự sắm sửa trong một năm,nhiều năm để dùng vào việc thờ cúng, thậm chí di sản dùng vào việc thờ cúng còn

do các con, cháu trong dòng họ hiến tặng cho nhà thờ họ hoặc di sản dùng vào việc

Trang 7

thờ cúng do các thế hệ trước để lại một cách tự nhiên mà không có bất kỳ lời dặn

dò hay văn bản xác địng đó là di sản dùng vào việc thờ cúng Có thể khẳng định, disản dùng vào việc thờ cúng một người, hay các thành viên đã chết của gia đình,dòng họ được xác lập từ nhiều căn cứ khác nhau nhưng pháp luật quy định căn cứxác lập di sản dùng vào việc thờ cúng do một người để lại theo di chúc và căn cứnày có ý nghĩa pháp lý trog việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến di sảndùng vào việc thờ cúng do người lập di chúc để lại Những loại tài sản khác là disản dùng vào việc thờ cúng được hình thành từ những căn cứ khác nhau, vẫn là disản dùng vào việc thờ cúng thuộc về một gia đình, trưởng họ dùng vào việc thờcúng và loại tài sản này pháp luật không đề cập

2 Loại tài sản và giá trị tài sản dùng vào việc thờ cúng

a các loại tài sản dùng vào việc thờ cúng:

Pháp luật không quy định loại tài sản nào được dùng vào việc thờ cúng mà Điều

670 BLDS quy định người lập di chúc có để lại một phần di sản vào việc thờ cúng.Như vậy, tài sản theo quy định tài Điều 163 BLDS năm 2005 đều là đối tượng dùngvào việc thờ cúng Ở đây, có hai từ ngữ một được dùng trong điều luật và mộtthường dùng trong cuộc sống được hiểu rất khác nhau: di sản dùng vào việc thờcúng và di sản dùng để thờ cúng

Di sản dùng vào việc thờ cúng được hiểu là tài sản được dùng vào mục đíchthờ cúng Tài sản này không nên hiểu theo nghĩa cơ học của chính nó mà phải hiểubản chất tài sản, có chứa đựng bản chất giá trị tài sản dùng vào việc thờ cúng Nhưvậy, di sản dùng vào việc thờ cúng trước hết là tài sản, tài sản này xét về giá trịphục vụ mục đích thờ cúng Loại tài sản dùng vào việc thờ cúng không đồng nhất

cơ cấu lý, hóa, sinh nhưng đồng nhất về mặt tài sản với mục đích thờ cúng

Di sản để thờ cúng: nếu hiểu theo nghĩa vật chất của tài sản thì không phảivật nào cũng được dùng để thờ cúng, rượu, nước, hương nhang, nến, câu đối, chân

Trang 8

dung của người đã chết, bàn thờ… còn những tài sản tồn tại dưới dạng vật chấtcụthể khác không thể đặt lên bàn thờ để cúng ví dụ như xe hơi, xe moto, quyền sửdụng đất, quyền đòi nợ, quyền sở hữu trí tuệ… Như vậy, di sản dùng vào việc thờcúng là tài sản, do vậy xe hơi, xe máy, con trâu, máy cày, quyền sử dụng đất, quyềntài sản là thành phần của di sản dùng vào việc thờ cúng nhưng không phải là di sảnđược dùng trực tiếp để thờ cúng mà phải quy đổi giá trị để mua sắm lễ vật dùng đểthờ cúng theo tôn giáo, phong tục tập qu, quyền tài sản là thành phần của di sảndùng vào việc thờ cúng nhưng không phải là di sản được dùng trực tiếp để thờ cúng

mà phải quy đổi giá trị để mua sắm lễ vật dùng để thờ cúng theo tôn giáo, phongtục tập quán

Các di sản dùng vào việc thờ cúng có một số đặc trưng cơ bản sau:

- Thứ nhất, di sản dùng vào việc thờ cúng không thể được chuyển nhượng:

Nếu căn cứ vào điều luật thì sẽ không thấy có quy định rằng di sản thờ cúng khôngthể chuyển nhượng Tuy nhiên, có thể thấy rằng, là một khối tài sản không có chủ

sở hữu theo nghĩa thông thường sẽ không thể bán, chuyển nhượng được bởi vìkhông có người nào có năng lực làm được việc đó Hay nói cách khác, hợp đồngmua bán di sản thờ cúng là vô hiệu toàn bộ

Trước đây, tục lệ thừa nhận rằng trong những trường hợp cần thiết, đại hộiđồng gia đình cũng có thể cho phép chuyển nhượng, cầm cố một phần di sản dùngvào việc thờ cúng Mặt khác, luật viết cận đại lấy lại quy tắc tục lệ và nói thêm rằngkhi truyền đến đời thứ sáu thì tính chất không thể chuyển nhượng được của di sảndùng vào việc thờ cúng sẽ tự động biến mất

Tuy nhiên, hiện nay pháp luật thực định chưa có giải pháp cụ thể cho vấn đề

này BLDS năm 2005 chỉ quy định rằng: “ nếu người quản lý di sản thờ cúng

không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thỏa thuận của những người thừa

kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản chung vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng”.(khoản 1 Điều 670) Như vậy theo pháp luật hiện

Trang 9

hành thì di sản thờ cúng chỉ có thể được mua bán chuyển nhượng nếu nó không cònđược dùng vào việc thờ cúng và do đó lại rơi vào khối di sản thường.

- Thứ hai, di sản dùng vào việc thờ cúng không thể bị kê biên:Khoản 2 Điều

670 BLDS quy định rằng “Trong trường hợp toàn bộ di sản của người chết không

đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng.” Từ đó ta thấy ý muốn của nhà làm luật ở đây là bảo

vệ quyền lợi hợp pháp cho những người là chủ nợ của người đã chết, tránh nhiềutrường hợp một người vì không muốn thanh toán các khoản nợ nên lập di chúc đểlại toàn bộ di sản vào việc thờ cúng

Tuy nhiên, một khi được lập trong phạm vi cho phép, các tài sản dùng vàoviệc thờ cúng không thể bị kê biên theo yêu cầu của các chủ nợ của người chết haychủ nợ của các chi phí mai táng và các chi phí khác phát sinh gắn liền với cái chếtcủa người đó Tất nhiên quy tắc này không được áp dụng trước khi thời điểm mởthừa kế, vì khi đó di chúc chưa có hiệu lực, cũng không áp dụng cho các tài sảndùng vào việc thờ cúng đồng thời là vật đảm bảo nghĩa vụ dân sự trước ngày mởthừa kế Di sản dùng vào việc thờ cúng cũng không thể bị kê biên theo yêu cầu của

cá chủ nợ của người thừa kế hoặc của người quản lý di sản vì họ không phải là chủ

sở hữu của những tài sản đó

b Về giá trị kinh tế của di sản dùng vào việc thờ cúng:

Nội dung Điều 670 BLDS không quy định cụ thể giá trị kinh tế của di sản dùng vàoviệc thờ cúng chiếm tỷ lệ nhất định nào trong tổng giá trị khối di sản của người chết

để lại, do vậy có nhiều cách hiểu về tỷ lệ của di sản dùng vào việc thờ cúng trogtổng giá trị khối di sản do người chết để lại Tuy nhiên dựa vào những căn cứ phápluật quy định quyền tự định đoạt của chủ sở hữu tài sản ta có thể hiểu rằng, với tưcách chủ sở hữu tài sản, người lập di chúc có quyền định đoạt di chúc của mình chongười thừa kế, để lại di sản cho việc thờ cúng theo luật định Như vậy, người lập di

Trang 10

chúc có quyền định đoạt một phần hoặc toàn bộ tài sản của mình sau khi chết đểdùng vào việc thờ cúng Quyền tự định đoạt của người lập di chúc định đoạt tài sảndùng vào việc thờ cúng chỉ bị hạn chế trong hai trường hợp:

Trường hợp thứ nhất: nếu sự định đoạt đó vi phạm quyền thừa kế không phụ

thuộc vào nội dung của di chúc theo quy định tại Điều 669 BLDS năm 2005 Nếungười lập di chúc định đoạt phần lớn hoặc toàn bộ di sản dùng vào việc thờ cúng

mà xâm phạm đến quyền được hưởng 2/3 của một suất thừa kế được chia theo phápluật của cha, mẹ, vợ, chồng, các con dưới 18 tuổi và con trên 18 tuổi mà mất khảnăng lao động thì trước hết tính phần thừa kế cho những người này theo quy địnhtại Điều 669 BLDS, phần còn lại sẽ là di sản được dùng vào việc thờ cúng

Trường hợp thứ hai: quyền của người lập di chúc định đoạt tài sản dùng vào

việc thờ cúng bị hạn chế trong trường hợp toàn bộ tài sản của người đó không đủ đểthanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sảndùng vào việc thờ cúng.(khoản 2 Điều 670BLDS năm 2005)

Lý giải cho cách hiểu như trên ta thấy, pháp luật không chỉ điều chỉnh những quan

hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của luật mà còn có ý nghĩa phản ánh bản chấtcủa quan hệ xã hội do nó điều chỉnh Như vậy, “một phần di sản dùng vào việc thờcúng” không nên hiểu theo cách chia nhỏ tổng giá trị di sản của người chết để lạithành nhiều phần bằng nhau để có căn cứ xác định một phần theo cách chia nhỏ tàisản Hiểu như vậy không thỏa đáng vì đã máy móc hiểu bản chất của vấn đề di sảndùng vào việc thờ cúng và quyền tự do định đoạt ý chí của người để lại di sản dùngvào việc thờ cúng Phần di sản dùng vào việc thờ cúng được hiểu là phạm vi giá trị

di sản đó và di sản đó chỉ được dùng với mục đích duy nhất là dùng vào việc thờcúng Quyền định đoạt của người lập di chúc định đoạt mục đích sử dụng của disản này chỉ bị hạn chế trong hai trường hợp kể trên Ngoài ra, quyền định đoạt củangười lập di chúc định đoạt phần tài sản dùng vào việc thờ cúng không bị ràngbuộc vào bất kỳ quy định nào khác, trừ trường hợp di sản đó bị tiêu hủy do có sự

Ngày đăng: 25/03/2019, 09:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w