1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài tập học kì hôn nhân gia đình đề 11 (8 điểm) phân tích quyền bình đẳng của vợ chồng đối với tài sản chung hợp nhất

12 163 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 97,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguồn gốc hình thành khối tài sản chung hợp nhất Theo quy định tại Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000, tài sản chung của vợ chồng bao gồm: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng

Trang 1

MỤC LỤC

NỘI DUNG

I KHÁI QUÁT CHUNG……… 1

1 Tài sản chung hợp nhất của vợ chồng

2 Nguồn gốc hình thành khối tài sản chung hợp nhất

3 Quyền bình đẳng của vợ chồng đối với tài sản chung hợp nhất

II PHÂN TÍCH QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA VỢ CHỒNG ĐỐI VỚI TÀI SẢN CHUNG HỢP NHẤT……… 2

1 Vợ chồng có quyền bình đẳng trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung……… 2

1.1 Quyền bình đẳng trong việc xác lập, thực hiện và chấm dứt các giao dịch dân sự

liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình 1.2 Quyền bình đẳng của vợ chồng trong việc thực nghĩa vụ chung của vợ chồng 1.3 Quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt của vợ, chồng đối với tài sản chung hợp nhất

2 Quyền bình đẳng vợ, chồng trong việc chia tài sản chung hợp nhất………5 2.1 Điều kiện để chia tài sản chung của vợ chồng

2.2 Quyền bình đẳng của vợ chồng trong việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân

2.3 Quyền bình đẳng của vợ chồng trong việc chia tài sản chung khi chấm dứt hôn nhân

KẾT LUẬN……… 10 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trong quan hệ vợ chồng, bên cạnh đời sống tình cảm, tình yêu thương lẫn nhau không thể không quan tâm tới đời sống vật chất Quan hệ tài sản giữa vợ chồng là một vấn đề hết sức quan trọng, nó là một trong những tiền đề giúp cho

vợ chồng xây dựng cuộc sống hạnh phúc, đáp ứng những nhu cầu về vật chất

Trang 2

tinh thần cho gia đình Với đề tài: “Phân tích quyền bình đẳng của vợ chồng đối với tài sản chung hợp nhất” xin được làm rõ một vấn đề trong quan hệ tài

sản của vợ chồng

NỘI DUNG

I KHÁI QUÁT CHUNG

1 Tài sản chung hợp nhất của vợ chồng

Theo quy định tại Điều 219 của Bộ luật dân sự năm 2005 và điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000, tài sản chung của vợ chồng là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia

Sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ thể không được xác định đối với tài sản chung

Căn cứ để xác lập tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng dựa trên

cơ sở hôn nhân Kể từ khi kết hôn, trong suốt thời kỳ hôn nhân, toàn bộ những tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra đều thuộc khối tài sản chung của vợ chồng

2 Nguồn gốc hình thành khối tài sản chung hợp nhất

Theo quy định tại Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000, tài sản chung của vợ chồng bao gồm:

“Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của

vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của

vợ chồng Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận.

Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất”

Như vậy, kể từ sau khi kết hôn, những tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập

hợp pháp của vợ chồng và những tài sản khác do vợ chồng thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định đều thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng mà không phụ thuộc vào công sức đóng góp hay có lao động trực tiếp hay không Và cơ sở pháp lý để xác định những tài sản phải đăng kí quyền sở hữu là tài sản chung

Trang 3

của vợ chồng chính là giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản có ghi tên của cả

vợ và chồng

3 Quyền bình đẳng của vợ chồng đối với tài sản chung hợp nhất

Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, pháp luật của Nhà nước đã ghi nhận quyền bình đẳng giữa nam và nữ Hiến pháp và Luật HN&GĐ năm

2000 của Nhà nước ta đã quy định về chế độ tài sản của vợ chồng, trong đó nguyên tắc vợ chồng bình đẳng luôn được khẳng định là một trong các nguyên tắc cơ bản

Ở đây, quyền bình đẳng của vợ chồng đối với tài sản chung được thể hiện ở :

- Vợ, chồng có quyền bình đẳng trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản chung hợp nhất (Điều 28)

- Vợ chồng có quyền bình đẳng trong việc chia tài sản chung (Điều 29, 31,95).

II PHÂN TÍCH QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA VỢ CHỒNG ĐỐI VỚI TÀI SẢN CHUNG HỢP NHẤT

1 Vợ chồng có quyền bình đẳng trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung (Điều 28 Luật HN&GĐ năm 2000)

Quyền bình đẳng thể hiện trong những nội dung cụ thể sau:

1.1 Vợ chồng có quyền bình đẳng trong việc xác lập, thực hiện và chấm dứt các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình.

Việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình, việc dùng tài sản chung để đầu tư kinh doanh phải được vợ chồng bàn bạc, thỏa thuận, trừ tài sản chung đã được chia để đầu tư kinh doanh riêng theo quy định tại khoản

1 Điều 29 của Luật này (khoản 3 Điều 28 Luật hôn nhân và gia đình).

Như vậy theo quy định này, quyền bình đẳng được thể hiện ở chỗ phải có sự bàn bạc, thảo luận giữa vợ chồng (đối với những giao dịch dân sự liên quan đến tài sản có giá trị lớn) Còn nếu chỉ là những giao dịch có giá trị không lớn hoặc

để phục vụ nhu cầu thiết yếu hằng ngày thì chỉ cần một bên thực hiện hoặc đương nhiên coi là có sự đồng ý của bên kia ( như việc vợ, chồng dùng tiền bạc,

Trang 4

tài sản chung đảm bảo các nhu cầu về ăn, ở, làm việc,…thì giao dịch này luôn được coi là đã có sự thỏa thuận đương nhiên của vợ, chồng) Và trong trường

hợp này thì vợ hoặc chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch dân

sự hợp pháp do một trong hai người thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình (Điều 25 Luật HN&GĐ năm 2000)

Sự thỏa thuận, bàn bạc của vợ chồng cho thấy sự tôn trọng lẫn nhau trong quan hệ nhân thân cũng như sự bình đẳng, thống nhất trong quan hệ tài sản chung Nhưng nếu hai bên không đạt được thỏa thuận thì giao dịch dân sự bị coi

là vô hiệu, không có giá trị pháp lý Quy định của điều luật một lần nữa khẳng định quyền tự chủ của vợ, chồng trong việc thực hiện các giao dịch dân sự trước hết là nhằm đảm bảo nhu cầu thiết yếu hàng ngày của gia đình kế đó là bảo vệ lợi ích của gia đình, đồng thời cũng khẳng định trách nhiệm của bên kia đối với các hành vi dân sự hợp pháp do vợ hoặc chồng mình thực hiện vì lợi ích chính đáng của gia đình

Ví dụ: Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng thì hợp đồng phải được xác lập bằng văn bản, có chữ ký của cả vợ chồng Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định tài sản đó phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng.

1.2 Quyền bình đẳng của vợ chồng trong việc thực nghĩa vụ chung của

vợ chồng

Tại Khoản 2 Điều 28 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định: Tài sản chung của vợ

chồng được “chỉ dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện các nghĩa vụ

chung của vợ chồng” Đó là nghĩa vụ phát sinh khi một bên hoặc cả hai bên vợ

chồng thực hiên hành vi vì lợi ích của gia đình hoặc nghĩa vụ phát sinh theo thỏa thuận của vợ chồng Trên cơ sở chế độ tài sản chung vợ chồng theo Luật HN&GĐ, quyền bình đẳng trong thực hiện nghĩa vụ chung được xác định:

- Căn cứ vào sự thỏa thuận của vợ chồng và nghĩa vụ liên đới trong việc làm phát sinh các nghĩa vụ tài sản thì có những nghĩa vụ chung sau: Nghĩa vụ phát sinh có liên quan đến những công việc do hai vợ chồng cùng tiến hành, bao gồm

cả những khoản nợ phát sinh do một bên thực hiện công việc không vì lợi ích

Trang 5

gia đình, nhưng được bên kia đồng ý dùng tài sản chung để thực hiện; những khoản nợ phát sinh do một bên thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình

- Căn cứ vào phạm vi, nguồn gốc tài sản chung của vợ chồng quy định tại Khoản 1 Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000, nghĩa vụ phát sinh khi vợ chồng thực hiện hành vi tạo lập, quản lý, sử dụng và định đoạt tài sản chung là nghĩa

vụ chung bao gồm: Nghĩa vụ phát sinh trong quá trình vợ hoặc chồng tạo ra tài sản trong gia đình; nghĩa vụ phát sinh khi vợ hoặc chồng lao động để tạo thu nhập hoặc tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh trong thời kì hôn nhân; nghĩa vụ phát sinh khi một bên vợ hoặc chồng tiến hành khai thác hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng của mình trong thời kì hôn nhân (trừ trường hợp quy định tại Điều 30)

1.3 Quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt của vợ, chồng đối với tài sản

chung hợp nhất

Tại khoản 1 Điều 28 quy định: Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.

Vấn đề bình đẳng trong quyền sở hữu đối với tài sản chung được thể hiện cụ

thể ở ba quyền năng: chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 219 Bộ luật Dân sự

Quyền chiếm hữu là yếu tố đầu tiên của quyền sở hữu, là quyền năng của chủ

sở hữu tự mình nắm giữ, quản lý tài sản của mình, là quyền kiểm soát, làm chủ, chi phối tài sản đó theo ý chí của mình Vợ chồng có quyền ngang nhau trong việc chiếm giữ tài sản chung Nhưng điều đó có nghĩa cả hai bên phải là người trực tiếp nắm giữ, tài sản mà cho dù chỉ một bên nắm giữ tài sản (do người kia

đi công tác xa hoặc do một trong hai người cất giữ) thì cả hai bên đều có quyền định đoạt, sử dụng đối với khối tài sản chung đó Quyền sử dụng là “quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi lợi tức từ tài sản”, quyền định đoạt là “quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó”

Tài sản chung (theo quy định tại Điều 27) đó không nhất thiết phải do cả hai

vợ chồng cùng tạo ra một cách trực tiếp mà có thể do một bên vợ hoặc chồng tạo

ra và cũng không phụ thuộc vào công sức đóng góp của mỗi bên Điều này xuất

Trang 6

phát từ tính chất đặc biệt của quan hệ vợ chồng, được gắn kết bởi mối quan hệ tình cảm gia đình, vợ chồng cùng chung sức chung lòng để tạo dựng khối tài sản chung, cùng có trách nhiệm và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dạy con cái Vợ chồng tuy hai mà một, vì vậy, công sức tạo dựng tài sản của người chồng đã hàm chứa

cả công sức của người vợ và ngược lại Thực tế, do điều kiện sức khoẻ, nghề nghiệp, công việc của mỗi bên khác nhau, thu nhập có sự chênh lệch, dẫn đến công sức đóng góp thực tế cho việc tạo dựng tài sản chung của vợ chồng khác nhau, thậm chí một bên vợ chồng không có thu nhập, không có khả năng lao động để tạo thu nhập hoặc chỉ làm công việc nội trợ gia đình Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là bên có thu nhập thấp hơn lại không có quyền sở hữu bình đẳng hoặc phụ thuộc vào bên có thu nhập cao hơn Luật HN&GĐ luôn xác định nguyên tắc: trong thời kỳ hôn nhân, tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của hai

vợ chồng, vợ chồng có quyền bình đẳng về giá trị tài sản được chia trong khối tài sản chung

Theo khoản 2 Điều 28: Tài sản chung của vợ, chồng được chi dùng để đảm bảo nhu cầu chung của gia đình, thực hiện những nghĩa vụ chung của vợ chồng.

Nó cho thấy vợ chồng có quyền sử dụng tài sản chung để tham gia các giao dịch dân sự đảm bảo nhu cầu thiết yếu trong sinh hoạt của gia đình (như mua bán lương thực, thực phẩm, vật dụng tiêu dùng thiết yếu, du lịch, giải trí văn hóa, văn nghệ, ) quy định này cũng thể hiện rất rõ quyền năng định đoạt tài sản chung của vợ chồng

2 Quyền bình đẳng của vợ, chồng trong việc chia tài sản chung hợp nhất 2.1 Điều kiện để chia tài sản chung của vợ chồng

Luật HN&GĐ năm 2000 quy định các trường hợp chia tài sản chung của vợ

chồng Đó là: chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; chia tài sản chung của vợ chồng khi vợ chồng ly hôn và chia tài sản chung của vợ chồng khi vợ, chồng chết trước hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết

Điều kiện để người vợ, chồng được chia tài sản với tư cách là chia tài sản chung vợ chồng theo quy định của pháp Luật HN&GĐ năm 2000là hôn nhân giữa họ được pháp luật công nhận Hiện nay, pháp luật nước ta công nhận hôn nhân hợp pháp và hôn nhân thực tế

Trang 7

- Hôn nhân hợp pháp: là hôn nhân có Giấy chứng nhận đăng kí kết hôn, việc kết hôn phải đáp ứng được các điều kiện kết hôn và các thủ tục kết hôn theo đúng quy định của pháp Luật HN&GĐ năm 2000hiện hành

- Hôn nhân thực tế (theo Khoản 3 của Nghị quyết số 35/2000/QH10 của Quốc hội về thi hành Luật HN&GĐ năm 2000): là những trường hợp nam nữ sống chung như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 – ngày Luật HN&GĐ năm 2000năm 1986 có hiệu lực, mà không có Giấy đăng kí kết hôn Các trường hợp nam nữ sống chung như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến trước ngày 01/01/2000 thì bắt buộc phải đăng kí kết hôn chậm nhất là hai năm kể từ ngày Luật HN&GĐ năm 2000 có hiệu lực, tức là chậm nhất đến ngày 01/01/2003 Sau đó mà không đăng kí kết hôn thì họ không được pháp luật công nhận là vợ chồng Các trường hợp nam nữ sống chung như vợ chồng khác mà không có giấy đăng kí kết hôn thì hoàn toàn không được pháp luật thừa nhận là hôn nhân Tóm lại, vợ, chồng nếu muốn được chia tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng thì phải đảm bảo được điều kiện ở trên, tức là hôn nhân của họ phải được

pháp luật công nhận

2.2 Quyền bình đẳng của vợ chồng trong việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân (Điều 29 Luật HN&GĐ năm 20002000)

Đây là một quy định mới so với Luật HN&GĐ năm 1959 Để đáp ứng nhu cầu thực tế tức là có trường hợp vợ chồng không muốn ly hôn mà chỉ yêu cầu chia tài sản chung để ở riêng hoặc vì lí do nào đó mà vợ, chồng lại muốn chia tài sản chung trong khi vẫn chung sống với nhau, Luật HN&GĐ năm 2000 đã quy định việc chia tài sản chung khi hôn nhân đang tồn tại giúp cho các tòa án có cơ

sở pháp lý để xét xử khi có yêu cầu của vợ chồng Khoản 1, Điều 29 quy định:

“Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ, chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung; việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu tòa án giải quyết.”

Quy định này thể hiện rõ quyền bình đẳng của vợ chồng đối với quyền định

đoạt tài sản chung, tạo điều kiện thuận lợi trong việc chia tài sản chung để mỗi

bên vợ, chồng tham gia các giao dịch dân sự hợp pháp Theo quy định trên thì

Trang 8

chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân tồn tại được tiến hành trong ba trường hợp sau:

- Trường hợp vợ, chồng tiến hành đầu tư kinh doanh riêng: nếu một trong hai

vợ chồng muốn đầu tư kinh doanh riêng thì có thể chia tài sản chung của vợ chồng, tạo điều kiện cho vợ, chồng có tài sản riêng làm vốn đầu tư kinh doanh

Có thể nói đây là quy định này có ý nghĩa hết sức quan trọng, vừa cho phép chủ thể được tự chủ, tự quyết trong việc thực hiện tự do kinh doanh cá nhân, vừa đảm bảo được sự ổn định trong đời sống gia đình

- Trường hợp vợ, chồng phải thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng: nếu vợ, chồng phải thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng mà họ không có tài sản riêng hoặc tài sản riêng không đủ để thực hiện nghĩa vụ dân sự thì vợ chồng có thể chia tài sản chung để giúp người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ của mình

- Trường hợp có lý do chính đáng khác: việc xác định có lý do chính đáng để chia tài sản chung của vợ chồng khi còn hôn nhân tồn tại là xuất phát từ lợi ích của gia đình, lợi ích của vợ chồng hoặc của người thứ ba Vì vậy, lí do chính đáng khác để chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân còn tồn tại tùy từng trường hợp có khác nhau

Tuy nhiên, “việc chia tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh việc thực hiên nghĩa vụ dân sự sẽ không được pháp luật công nhận” (Khoản 2 Điều 29 Luật HN&GĐ năm 2000)

- Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn

nhân được quy định tại Điều của Luật HN&GĐ năm 2000

Theo quy định này thì hậu quả xin được trình như sau:

- Về tài sản: + Tài sản còn lại chưa chia là tài sản chung

+ Tài sản đã chia và hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đó là tài

sản riêng

- Về nhân thân: + Không chấm dứt quan hệ vợ chồng

+ Không phải là gián tiếp quy định về ly thân (hiện nay Luật HN&GĐ Việt Nam không quy định chế định ly thân)

Hiện nay ở nước ta, việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân chưa thực sự phổ biến, bên cạnh những mặt hạn chế thì vấn đề này cũng chứa đựng khá nhiều ưu điểm:

Trang 9

- Tôn trọng quyền tự do định đoạt, tự do thỏa thuận tài sản của các chủ thể trong quan hệ hôn nhân Theo đó, các bên có quyền tự định đoạt đối với các tài sản của mình trong trường hợp không muốn ràng buộc khối tài sản đó với quan

hệ hôn nhân

- Giúp chủ thể trong quan hệ hôn nhân bảo vệ được khối tài sản của mình trong trường hợp chủ thể còn lại của quan hệ hôn nhân có những hành vi gây tổn hại đến khối tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân hoặc giữa hai bên phát sinh những mâu thuẫn nghiêm trọng về tài sản – nhưng các chủ thể không muốn ly hôn

- Mặt khác, các quy định này bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của bên thứ ba Đây là trường hợp bên thứ ba có tranh chấp về tài sản với một trong hai bên chủ thể trong quan hệ hôn nhân Khi đó, chủ thể trong quan hệ hôn nhân có quyền sử dụng tài sản được chia trong thời kỳ hôn nhân để giải quyết nghĩa vụ dân sự của mình

2.2 Quyền bình đẳng của vợ chồng trong việc chia tài sản chung khi

chấm dứt hôn nhân

Quyền bình đẳng của vợ chồng khi chia tài sản gồm hai trường hợp chấm dứt

hôn nhân:

- Trường hợp 1: Quyền bình đẳng của vợ chồng trong việc chia tài sản khi ly hôn được quy định cụ thể thành các nguyên tắc trong chia tài sản khi

ly hôn ( Khoản 2 Điều 95 Luật HN&GĐ năm 2000) Theo quy định của điểm

a, Khoản 2 Điều 95 thì : Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi” Nhưng Tòa án chỉ quyết định chia đôi tài sản chung khi xét thấy công sức

tạo lập, phát triển của vợ, chồng là như nhau, mà cũng có thể quyết định chia phần nhiều hơn hoặc ít hơn cho một trong hai người khi xem xét đến công sức đóng góp thực tề, hoàn cảnh cụ thể mỗi bên ( cũng tại điểm a nêu trên)

- “Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình” (điểm b) Nguyên tắc này nhằm xóa bỏ triệt

để quan niệm chế độ hôn nhân và gia đình dưới chế độ phong kiến, coi rẻ quyền lợi của vợ và con Cần hiểu rằng, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con

Trang 10

chưa thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình phải trên cơ sở pháp luật, tránh tùy tiện

- “Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề

nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập”(điểm c) Khi

chia tài sản chung phải đảm bảo được công dụng, giá trị của tài sản, phù hợp với công việc, nghề nghiệp, phát huy được công dụng tài sản của vợ, chồng trong sản xuất, kinh doanh; tránh việc chia tài sản mà làm mất đi công dụng, giá trị của tài sản, gây tổn hại lợi ích chính đáng trong sản xuất và nghề nghiệp của mỗi bên

- “Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị;

bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch”(điểm d) Quy

định này cũng là để đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ, chồng, tạo sự ổn định cuộc sống , ổn định nghề nghiệp, phù hợp với chuyên môn; bảo đảm công dụng, phát huy vai trò của tài sản trong sản xuất kinh doanh của vợ chồng Nếu bên nhận tài sản bằng hiện vật lại có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch từ tài sản đã nhân Việc chia tài sản chung, việc thanh toán nghĩa vụ chung liên quan tới tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn đều do vợ chồng thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết Quy định này nhằm tạo ra sự công bằng giữa vợ với chồng, tránh tình trạng khoái thác, trốn tránh nghĩa vụ chung khi ly hôn, bảo vệ quyền lợi của người thứ ba mà vợ, chồng còn nghĩa vụ trong thời gian hôn nhân

- Trường hợp 2: Việc chia tài sản chung của vợ chồng khi vợ hoặc chồng chết gắn liền với quyền thừa kế theo quy định của pháp luật

Vấn đề này được quy định ở Điều 31 Luật HN&GĐ năm 2000 Vợ, chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau theo quy định của pháp luật về thừa kế, do tài sản chung của vợ chồng là tài sản chung hợp nhất, phần sở hữu của mỗi người không được xác định rạch ròi, nên khi một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là

đã chết thì người còn sống hoàn toàn có quyền quản lý khối tài sản chung trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những

Ngày đăng: 25/03/2019, 09:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w