1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài nhóm hình sự 2 (8đ) để kiếm tiền tiêu xài nên nguyễn văn a đã dùng bột mỳ ép thành bánh hêrôin có trọng lượng 350 gam rồi đem bán cho b với giá

15 246 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 40,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với hành vi “dùng bột mỳ ép thành bánh hêrôin có trọng lượng 350 gam rồi đem bán cho B với giá 200 triệu đồng và nói đó là hêrôin của người bạn nhờ bán hộ”, A phạm tội lừa đảo chiếm

Trang 1

BIÊN BẢN XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ THAM GIA

VÀ KẾT QUẢ THAM GIA LÀM BÀI TẬP NHÓM

Ngày :………Địa điểm:……….………

Nhóm số:………Lớp:…….… Khóa:…

Tổng số sinh viên của nhóm:………sinh viên + Có mặt:…………sinh viên + Vắng mặt:………sinh viên Có lí do:………… Không có lí do:…… …

Nội dung:……… … ……

Tên bài tập:……….……

Môn học:……… … ………

Xác định mức độ tham gia và kết quả tham gia của từng sinh viên trong việc thực hiện bài tập nhóm số…….Kết quả như sau: STT Mã SV Họ và Tên Đánh giá của SV SV ký tên Đánh giá của GV A B C Điểm (số) Điểm (chữ) GV Ký tên 1 2

3

4 5 6

7

8 9

1 0

1 1

12 Hà Nội, ngày tháng năm 2012 TRƯỞNG NHÓM - Kết quả bài viết: + Giáo viên chấm thứ nhất:………

+ Giáo viên chấm thứ hai:………

- Kết quả điểm thuyết trình:……….

Giáo viên cho thuyết trình:

- Điểm kết luận cuối cùng:…………

Giáo viên đánh giá cuối cùng:…………

Trang 2

MỤC LỤC

ĐỀ BÀI 0 BÀI LÀM 1

1 Hãy định tội danh cho A, B và C 1

2 Nếu chị H biết A làm giả ma túy để bán thì chị H có phải chịu trách nhiệm hình sự không? 4

3 B và C có được coi là đồng phạm không? Vì sao? 6

4 Hãy xác định giai đoạn thực hiện tội phạm cho từng trường hợp phạm tội trong vụ án trên 7 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11

Trang 3

CHÚ THÍCH TỪ VIẾT TẮT

BLHS

CTTP

TNHS

Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009

Cấu thành tội phạm Trách nhiệm hình sự

Trang 4

ĐỀ BÀI

Để kiếm tiền tiêu xài nên Nguyễn Văn A đã dùng bột mỳ ép thành bánh hêrôin có trọng lượng 350 gam rồi đem bán cho B với giá 200 triệu đồng và nói đó là hêrôin của người bạn nhờ bán hộ Ngày hôm sau, B mang bánh hêrôin đó đi bán thì phát hiện đó là ma tuý giả nên đã gọi cho bạn là C đến,

kể lại toàn bộ sự việc và rủ C đến nhà A để đòi lại tiền Khi đến nhà A, chỉ có chị H là bạn gái của A đang ngồi chơi trong nhà nên cả hai xông vào đánh chị

H và lấy đi 01 chiếc xe máy là tài sản của chị H (Chiếc xe có giá trị 15 triệu đồng) B và C ra đến cửa thì bị lực lượng công an bắt giữ

Hỏi:

1 Hãy định tội danh cho A, B và C? (3 điểm)

2 Nếu chị H biết A làm giả ma túy để bán thì chị H có phải chịu trách

nhiệm hình sự không? (1 điểm)

3 B và C có được coi là đồng phạm không? Vì sao? (1 điểm)

4 Hãy xác định giai đoạn thực hiện tội phạm cho từng trường hợp

phạm tội trong vụ án trên (2 điểm)

Trang 5

BÀI LÀM

1 Hãy định tội danh cho A, B và C

a Đối với hành vi “dùng bột mỳ ép thành bánh hêrôin có trọng lượng

350 gam rồi đem bán cho B với giá 200 triệu đồng và nói đó là hêrôin của người bạn nhờ bán hộ”, A phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy

định tại Điều 139 BLHS

Về khách thể : Hành vi của A đã xâm phạm đến quan hệ sở hữu – một trong những khách thể quan trọng được luật hình sự bảo vệ

Về mặt khách quan : A đã có hành vi chiếm đoạt tài sản trị giá 200 triệu đồng của B bằng thủ đoạn gian dối “dùng bột mỳ ép thành bánh hêrôin”, A đã cố

ý đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm làm B tin đó là bánh hêrôin Trên thực tế người mua là B không thể biết được số bột mỳ đó không phải là hêrôin, bởi cả 2 đều có dạng bột, màu trắng, và không thể phân biệt được bằng mắt thường Dẫn đến hậu quả: A bị chiếm đoạt 200 triệu đồng Ta có thể dễ dàng thấy được quan hệ nhân quả giữa hành vi dùng gian dối của A khi bán hêrôin giả cho B và hậu quả B bị thiệt hại 200 triệu đồng do hành vi gian dối đó gây nên

 Về chủ thể : Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ yêu cầu là chủ thể thường, chỉ cần đạt độ tuổi chịu TNHS theo quy định của pháp luật và có năng lực hành vi đầy đủ đều có thể là chủ thể của tội phạm này Do đề bài không dề cập nên ta coi A đã thỏa mãn điều kiện về chủ thể

 Về mặt chủ quan : Lỗi của A là lỗi cố ý trực tiếp A hoàn toàn biết rõ mình có hành vi lừa dối và mong muốn hành vi lừa dối đó có kết quả để có thể chiếm đọa được tài sản của B Điều đó được thể hiện ở việc A đã lựa chọn bột

mì, vật liệu có giá thành rẻ, lại có cấu tạo bên ngoài giống với hêrôin nhất để thực hiện hành vi lừa đảo của mình chứ không phải chọn bừa vật liệu khác đem lừa B, như thế sẽ làm giảm khả năng thành công trong việc lừa cho B tin rằng đây là hêrôin hay chọn loại hêrôin rẻ hơn, hoặc chọn loại chất gây nghiện khác tương tự để lừa đảo B vì như thế sẽ làm số tiền A lãi được giảm đi, hơn nữa A còn tiếp tục lừa dối B khi nói đây là hêrôin mà “người bạn nhờ bán hộ”, qua đó nếu bị B phát hiện A có thể chối đẩy không nhận trách nhiệm về mình Và A hoàn toàn mong muốn hậu quả xảy ra là B mua hêrôin giả và mình có được 200 triệu từ hành vi lừa đảo “để kiếm tiền tiêu xài”

Như vậy, hành vi của A đã thoả mãn mọi dấu hiệu CTTP tội lừa đảo

chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 BLHS

Trang 6

Trên thực tế có ý kiến cho rằng hành vi của A cấu thành tội mua bán trái pháp chất ma tuý vì hành vi bán hêrôin giả cho B, điều này là không hợp lý Bởi

lẽ lỗi A cố ý phạm phải, mong muốn đạt được trong tình huống này chỉ là dùng thủ đoạn lừa dối để B tin rằng đó là hêrôin thật và mua nó nhằm mục đích kiếm tiền tiêu xài chứ A không hề hướng đến việc thực hiện hành vi mua bán ma tuý Hơn nữa theo Thông tư liên tịch

17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP 24/12/2007 cũng quy định “Trường hợp một người biết là chất ma túy giả nhưng làm cho người khác tưởng là chất ma túy thật nên mua bán, trao đổi… thì người đó không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm về ma túy mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 BLHS, nếu thỏa mãn các dấu hiệu khác nữa trong cấu thành tội phạm của tội này.” Do đó hành vi của A không thể là tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái

phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy theo Điều 194

Cũng lại có ý kiến khác cho rằng A phạm tội sản xuất hàng giả Điều này cũng hoàn toàn không có cơ sở bởi lẽ theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 140/

HĐBT ngày 25/4/1991 của hội đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ) thì “hàng giả theo Nghị định này, là những sản phẩm, hàng hoá được sản xuất ra trái pháp luật có hình dáng giống như những sản phẩm, hàng hoá được Nhà nước cho phép sản xuất, nhập khẩu và tiêu thụ trên thị trường; hoặc những sản phẩm, hàng hoá không có giá trị sử dụng đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó” Mà ta không thể coi ma túy là một loại hàng hóa bởi

nó bị cấm lưu thông (không thể trao đổi, mua bán được), nhà nước độc quyền và thống nhất quản lí (theo Nghị định số 67/2001/NĐ-CP) Vì vậy, việc làm giả hêrôin của A không thể là sản xuất hàng giả

b Đối với hành vi mua ma tuý từ A và bán lại cho người khác, B phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý tại Điều 194 BLHS

 Về khách thể : B đã xâm phạm chế độ quản lí các chất ma tuy có hành vi mua bán chất ma tuý của Nhà nước Đối tượng ở đây là bánh hêrôin có trọng lượng 350 gam (mà B không biết là giả) - một loại ma túy theo nghị định 67/2001/NĐ-CP

 Về mặt khách quan : B đã có hành vi mua hêrôin từ A (B không biết là herôin giả) để bán lại cho ng khác chứ không phải để sử dụng

 Về chủ thể : Tội mua bán trái phép chất ma tuý chỉ yêu cầu là chủ thể thường, chỉ cần đạt độ tuổi chịu trách nhiện hình sự theo quy định của pháp luật

và có năng lực hành vi đầy đủ đều có thể là chủ thể của tội phạm này Do đề bài không dề cập nên ta coi B đã thỏa mãn điều kiện về chủ thể

Trang 7

Về mặt chủ quan : Lỗi của B là lỗi cố ý trực tiếp B hoàn toàn nhận thức

dc hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước được hậu quả của hành

vi đó và mong muốn hậu quả đó xảy ra Mục đích của việc B mua herôin là để bán kiếm lời

Trên thực tế, đối tượng mà B hướng đến là chất hêrôin, tuy nhiên thứ B mua được là bột mỳ do hành vi lừa đảo của A B đã có sự sai lầm về đối tượng, tuy nhiên điều này không ảnh hưởng gì đến trách nhiệm hình sự của B, vì mục đích của B khi thực hiện hành vi trên là gây nguy hiểm cho xã hội, sự sai lầm là

do khách quan đem lại Hơn nữa Thông tư liên tịch

17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP 24/12/2007 cũng quy định “Trong mọi trường hợp, khi thu giữ được các chất nghi là chất ma túy hoặc tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy thì đều phải trưng cầu giám định để xác định loại, hàm lượng, trọng lượng chất ma túy, tiền chất Nếu chất được giám định không phải là chất ma túy hoặc không phải là tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy, nhưng người thực hiện hành vi ý thức rằng chất đó là chất ma túy hoặc chất đó là tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy, thì tùy hành vi phạm tội cụ thể mà truy cứu trách nhiệm hình sự người đó theo tội danh quy định tại khoản 1 của điều luật tương ứng đối với các tội phạm về ma túy” Do đó hành vi của B vẫn cấu thành tội mua bán trái phép chất ma tuý theo

Điều 194 BLHS

c Đối với hành vi “xông vào đánh chị H và lấy đi 01 chiếc xe máy là tài

sản của chị H (Chiếc xe có giá trị 15 triệu đồng)” B và C phạm tội cướp tài

sản được quy định tại Điều 133.

 Về khách thể : Hành vi đánh chị H để chiếm đoạt tài sản - ở đây là chiếc

xe máy của chị H - của B và C đã đồng thời xâm phạm hai quan hệ xã hội mà pháp luật hình sự bảo vệ là quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản Bằng hành vi phạm tội của mình, B và C trước tiên xâm phạm quan hệ nhân thân – đánh chị H – để rồi sau đó thực hiện hành vi xâm phạm quan hệ tài sản – lấy đi chiếc xe máy trị giá 15 triệu đồng của chị H

 Về mặt khách quan : Theo quy định của điều luật, ta thấy B và C đã có

hành vi dùng vũ lực với H, cụ thể ở đây là “cả hai xông vào đánh chị H” nhằm

đè bẹp khả năng chống cự của H, khiến H không thể chống lại mình được nữa,

để sau đó có thể thực hiện hành vi lấy chiếc xe máy của H, hành vi này được mô

tả trong CTTP tội cướp tài sản “Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản” Và hậu quả là H bị

Trang 8

mất chiếc xe máy trị giá 15 triệu đồng Ta có thể dễ dàng thấy mỗi liên hệ giữa hành vi đánh H chiếm đoạt chiếc xe máy và hậu quả H mất đi chiếc xe máy này

 Về chủ thể : Tội cướp tài sản không yêu cầu chủ thể đặc biệt, do đó, chỉ cần B và C đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình

sự là thoả mãn dấu hiệu này

 Về mặt chủ quan : Lỗi của B và C là lỗi cố ý trực tiếp Về mặt lý trí, B

và C nhận thức rõ hành vi đó của mình, thấy trước hậu quả của hành vi đó B và

C biết được phải đánh H trước khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản mới khiến H không thể ngăn chặn được hành vi chiếm đoạt tài sản của mình, B và C nhận thức rõ tính chất nguy hiểm của hành vi đánh H sẽ khiến H bị thương, tổn

hại về sức khoẻ cũng như tính chất nguy hiểm của hành vi lấy “lấy đi 01 chiếc

xe máy là tài sản của chị H” là H sẽ mất đi quyền sở hữu đối với chiếc xe máy

đó Về mặt ý chí, B và C mong muốn hậu quả xảy ra Để có tiền, B và C có thể thực hiện nhiều biện pháp khác không trái pháp luật nhưng cả hai vẫn chọn hình thức cướp tài sản của H để có được tài sản B và C hoàn toàn tự do về mặt ý chí, không bị ai ép buộc, chi phối nhưng vẫn không lựa chọn cách thức xử sự phù hợp với quy định của xã hội mà lựa chọn cách thức xử sự trái với pháp luật

Như vậy hành vi của B và C đã thoả mãn hết các dấu hiệu của cấu thành tội phạm của tội cướp tài sản theo Điều 133 Bộ luật Hình sự

Tóm lại, A phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều

139, B phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý tại Điều 194 và tội cướp tài sản theo Điều 133, C phạm tội cướp tài sản theo Điều 133 Bộ luật Hình sự

2 Nếu chị H biết A làm giả ma túy để bán thì chị H có phải chịu trách nhiệm hình sự không?

Nếu chị H biết A làm giả ma tuy để bán thì chị H có phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 314 BLHS

“Điều 314 Tội không tố giác tội phạm

1 Người nào biết rõ một trong các tội phạm được quy định tại Điều 313 của Bộ luật này đang được chuẩn bị, đang hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2 Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về việc không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng theo quy định tại khoản 1 Điều này.

Trang 9

3 Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt.”

 Về khách thể: H đã có hành vi gián tiếp gây nguy hiểm cho xã hội khi không tố giác hành vi phạm tội của A, như vậy đã khiến A không bị pháp luật ngăn chặn, trừng trị về hành vi phạm tội của mình và có thể tiếp tục gây nguy hiểm cho xã hội

 Về mặt khách quan: H đã có hành vi được mô tả trong CTTP tội

không tố giác tội phạm “người nào biết rõ một trong các tội phạm được quy định tại Điều 313 của Bộ luật này đang được chuẩn bị, đang hoặc đã được thực hiện mà không tố giác” H đã có hành vi không tố giác, trình báo hành vi phạm

tội mà A đã thực hiện với với cơ quan chức năng có thẩm quyền để kịp thời ngăn chặn hoặc kịp thời điều tra phát hiện tội phạm, gây khó khăn cho việc điều tra,

xử lý phạm tội Hành vi phạm tội của H được thực hiện dưới dạng không hành động phạm tội

 Về chủ thể : Vì tình huống không nói rõ tuổi của H là bao nhiêu nên cũng như năng lực hành vi của H tại thời điểm phạm tội do đó chúng ta thừa nhận H là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định

Tuy rằng H là người yêu của A, có quan hệ gắn bó mật thiết với A, nhưng

tại Khoản 2 Điều 314 BLHS quy định “Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự trong trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội giết người” H là người yêu của A không thuộc mối quan hệ

được pháp luật bảo vệ nên vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự

 Về mặt chủ quan: H thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý H phải biết và phải ý thức được rằng việc biết A làm ma túy giả để bán được coi là hành vi gây nguy hại cho xã hội, xâm phạm đến trật tự xã hội (A phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 BLHS)

Hành vi của H như trên đã đủ các dấu hiệu cấu thành tội không tố giác tội phạm theo Điều 314 BLHS

Có ý kiến cho rằng H phạm tội che dấu tội phạm theo Khoản 1 Điều 313 Tuy nhiên, đối với hành vi che dấu tội phạm, người phạm tội tuy không hứa hẹn trước, nhưng sau khi biết tội phạm được thực hiện, đã chủ động, tích cực che giấu người phạm tội, các dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội, tức là đã bằng hành động tích cực đã che dấu một trong những tội phạm đã được liệt kê tại Khoản 1 Điều 313

Trang 10

Nhận thấy rằng, H không có những hành vi chủ động, tích cực nhằm che dấu người phạm tội, cũng như có ý thức để mặc cho hành vi phạm tội của A tiếp tục được diễn ra (tức là không hành động phạm tội) Vì vậy, không thể định tội cho

H là che dấu tội phạm được

Tóm lại, H phạm tội không tố giác tội phạm theo Điều 314 BLHS

3 B và C có được coi là đồng phạm không? Vì sao?

B và C là đồng phạm đối với hành vi cướp tài sản của chị H

“Điều 20 Đồng phạm

1 Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

2 Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức đều là những người đồng phạm.

Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.

Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

3 Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm”

Từ định nghĩa trên chúng ta có thể xác định một cách khái quát những dấu hiệu pháp lý của đồng phạm nói chung và dấu hiệu đồng phạm trong tình huông nói riêng như sau:

- Về khách quan, đồng phạm đòi hỏi hai dấu hiệu:

+ Có từ 2 người trở lên và những người này có đủ điều kiện của chủ thể của tội phạm;

+ Những người này phải cùng thực hiện tội phạm (cố ý)

- Về mặt chủ quan, đồng phạm đòi hỏi ba dấu hiệu:

+ Lỗi cố ý

+ Động cơ phạm tội (nếu CTTP tương ứng quy định dấu hiệu động cơ);

+ Mục đích phạm tội (nếu CTTP tương ứng quy định dấu hiệu mục đích)

Đối với tình huống đề bài đã cho, ta có những dấu hiệu sau:

 Về mặt khách quan:

Ngày đăng: 25/03/2019, 09:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w