1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM THỦ THUẬT TẠO HỨNG THÚ HỌC NGOẠI NGỮ CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG- CÁC KĨ THUẬT DẠY TỪ VỰNG

36 116 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 535,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và thông thường ở mỗi một bài học tiếng, việc giới thiệu ngữ liệu mới – trong đó có từ vựng, luyện tập sử dụng từ mới, làm rõ nghĩa và cách dùng của chúng luôn là yêu cầu thường xuyên và

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TRƯỜNG THCS SONG MAI



SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI: THỦ THUẬT TẠO HỨNG THÚ HỌC NGOẠI NGỮ CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG- CÁC KĨ THUẬT DẠY TỪ VỰNG

Người thực hiện : Nguyễn Thị Quỳnh Mai

Bắc Giang, tháng 4 năm 2018

Trang 2

MỤC LỤC

3.Các biện pháp giải quyết vấn đề Trang 7

3.1 Các phương thức giới thiệu từ vựng Trang 8

3.2 Cách lựa chọn từ vựng để giới thiệu Trang 19

3.3 Quy trình giới thiệu từ mới Trang 20

3.4.Tầm quan trọng của ôn tập từ vựng Trang 29

Trang 3

LỜI GIỚI THIỆU

Ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của con người Nó không chỉ là phương tiện giao tiếp mà còn là cách để diễn đạt chính bản thân

Để biết và hiểu rõ lối sống, truyền thống, phong tục tập quán của một đất nước không còn cách nào khác là học tiếng của họ Người ta thường nói “ Bạn sẽ không bao giờ hiểu được phong tục của một đất nước trừ khi bạn có thể nói được thứ tiếng của họ” Ngày nay ngôn ngữ ngày càng trở nên quan trọng hơn do sự mở rộng của thông tin và kĩ thuật Nó được sử dụng trong nhiều lĩnh vực như: kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học kĩ thuật, du lịch Bêncạnh tiếng mẹ đẻ người Việt Nam cần học thêm các thứ tiếng khác như tiếng Nhật, tiếng Trung, tiếng Nga, tiếng Pháp đặc biệt là tiếng Anh- ngôn ngữ chung toàn cầu Ngày nay tiếng Anh là ngôn ngữ phổ thông, nó được sử dụng làm ngôn ngữ giao tiếp quốc tế

Trong giai đoạn này tiếng Anh được dạy ở hầu hết các trường phổ thông Để học tiếng Anh được tốt trước tiên mỗi học sinh phải có một vốn từ tốt Điều này rất quan trọng đối với các em nhưng để thực hiện được nó thì không phải dễ dàng Bởi vậy “ thủ thuật tạo hứng thú học ngoại ngữ, các kỹ thuật dạy từ vựng” có tác động lớn đối với việc phát triển tư duy, mở rộng vốn

từ và phát triển các kỹ năng trong tiếng Anh

I.ĐẶT VẤN ĐỀ

Không có từ vựng chắc chắn không có ngôn ngữ Khối lượng từ vựng càng nhiều càng giúp cho việc hiểu và giao tiếp nhanh chóng và hiệu quả Trong bất cứ một khóa học tiếng Anh nào, việc học từ vựng cũng luôn được đặt ra như là một trong những mục đích chính Và thông thường ở mỗi một bài học tiếng, việc giới thiệu ngữ liệu mới – trong đó có từ vựng, luyện tập sử dụng từ mới, làm rõ nghĩa và cách dùng của chúng luôn là yêu cầu thường xuyên và bắt buộc, nó quyết định kết quả của cả quá trình học tiếng

Vẫn biết tiếng Anh là ngôn ngữ giao tiếp chung là cửa sổ mở ra thế giới

Trang 4

Anh là vô cùng khó đặc biệt là các em học sinh vùng nông thôn Bản thân tôi năm học 2017 2018 theo nhu cầu cấp thiết thiếu giáo viên ở một số trường trong đó có trường THCS Song Mai Với tinh thần của một đảng viên, một giáo viên lâu năm trong nghề tôi có xung phong về giảng dạy môn tiếng Anh tại trường THCS Song Mai Ngay từ những tiết đầu đứng lớp tôi đã gặp

không ít khó khăn, thấy sự giao tiếp và tương tác trong một giờ học giữa giáo viên và học sinh là rất ít Dù đã rất cố gắng nhưng hiệu quả của giờ học chưa cao chưa đúng với đặc trưng bộ môn theo phương pháp mới là phát triển cả bốn kỹ năng nghe – nói – đọc – viết Các em tiếp thu bài giảng một cách thụ động, nhút nhát không có kỹ năng giao tiếp, rất ngại ngùng thậm chí là sợ hãi khi được giáo viên gọi bày tỏ ý kiến cá nhân, đóng góp xây dựng bài Điều này khiến tôi rất băn khoăn trăn trở và cố gắng tìm hiểu nguyên nhân, lắng nghe tâm tư nguyện vọng của các em Từ đó tôi phát hiện ra rằng vốn từ của các em rất ít vì thế rất khó để hiểu những gì cô truyền đạt, khả năng giao tiếp theo cặp, thực hiện hoạt động nhóm và càng khó hơn khi muốn bày tỏ ý kiến

cá nhân của mình Môi trường của các em là địa bàn nông thôn, nên không có nhiều điều kiện tiếp xúc nhiều với các phương tiện truyền thông như báo đài chương trình phim truyện, nghe nhạc bằng tiếng Anh nên vốn từ càng hạn hẹp

Xuất phát từ thực tế đó nên tôi quyết định chọn đề tài “ Thủ thuật tạo hứng thú học ngoại ngữ cho học sinh phổ thông – các kỹ thuật dạy từ vựng” xuất phát từ thực tế giảng dạy tại khối lớp 8 và 9 chương trình hiện hành Hy vọng rằng trong đề tài này tôi có thể đưa ra một số ý kiến, kỹ năng dạy từ vựng, tầm quan trọng của việc dạy và hiểu từ như một chìa khóa giúp các em tiếp cận với bộ môn tiếng Anh một cách hiệu quả hơn

Nói chung có nhiều phương thức để giới thiệu từ vựng Người giáo viên có thể chỉ ra nghĩa của từ thông qua một thủ thuật nào đó hoặc có thể sử dụng ngữ liệu cũ, quen thuộc với học sinh để qua chúng giải thích nghĩa của

Trang 5

từ mới sắp học Ta cũng có thể dùng âm thanh, tiếng động để giải thích, làm

rõ nghĩa của những từ khó

Đối với giáo viên, những phương thức nói ở trên thường được sử dụng kèm với một loạt các thủ thuật cả trong ngôn ngữ lẫn ngoài ngôn ngữ Chúng được dùng để giới thiệu những từ dễ trong đó có cả danh từ, động từ, trạng từ,tính từ, và cũng được dùng để giới thiệu những từ khó hơn như những khái niệm trừu tượng hoặc các quá trình Nhưng cũng có từ không có nghĩa độc lập, đó là những từ ngữ pháp như quán từ, liên từ, trợ từ và một số giới từ Dovậy ta không thể dùng những phương thức và thủ thuật phổ biến này để làm

rõ nghĩa của chúng được Đối với chúng ta cần coi đó là một phần của việc giới thiệu ngữ pháp hơn là những gì cần làm như đối với những từ có nghĩa thực- thực từ

Chúng ta đều biết từ tồn tại ở hai dang: hình thái chữ viết và âm thanh

Có giáo viên quan niệm rằng muốn học tốt từ vựng , khâu nghe phải đi trước một bước, tiếp đó là nói và sau cùng là đọc Quan niệm này không còn được nhiều người tán đồng nữa Họ cho rằng việc học sẽ có hiệu quả hơn nếu hình thái từ được giới thiệu đồng thời với âm thanh của nó Và tùy thuộc vào đối tượng người học mà lựa chọn phương thức phù hợp, và cần nhớ rằng những

gì đúng với người lớn sẽ có thể không nhất thiết là đúng với trẻ em

II.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1.Cơ sở lý luận của vấn đề.

Trong bất kỳ một ngôn ngữ nào vai trờ của việc dạy từ vựng là rất quan trọng Có thể thấy một ngôn ngữ là một tập hợp của các từ vựng Không thể hiểu ngôn ngữ mà không hiểu biết từ vựng và thông qua các đơn vị từ vựng Nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc chỉ hiểu các đơn vị từ vựng riêng

lẻ, độc lập với nhau mà chỉ có thể nắm vững được ngôn ngữ thông qua các mối quan hệ biện chứng giữa các đơn vị từ vựng Như vậy việc học từ vựng

và rèn luyện kỹ năng sử dụng từ vựng là yếu tố hàng đầu trong việc truyền thụ

Trang 6

Như trên đã nói từ vựng là một đơn vị ngôn ngữ nên nó được thể hiện dướihai hình thức: lời nói và chữ viết Muốn sử dụng được ngôn ngữ đó, tức là phải nắm được hình thức biểu đạt của từ bằng cả lời nói và chữ viết Song do

có mối liên quan của từ vựng với các yếu tố khác trong ngôn ngữ: ngữ pháp, ngữ âm, ngữ điệu hoặc trong tình huống giao tiếp cụ thể ta thấy từ vựng là các “ viên gạch” còn ngữ pháp và các yếu tố ngôn ngữ khác được coi như là “ mạch vữa “ để xây lên thành một ngôi nhà ngôn ngữ

2.Thực trạng của vấn đề

Hiện nay việc dạy từ vựng của giáo viên vẫn còn rất nhiều vấn đề bất cập,trong một tiết dạy ngoại ngữ giáo viên dành quá nhiều cho việc dạy từ vựng nhất là với đối tượng học sinh ở nông thôn và với việc học sách giáo khoa mới, dẫn tới việc học sinh không có đủ thời gian để thực hành Bên cạnh đó

số lượng từ vựng quá nhiều hơn 10 từ trong một tiết học, các thủ thuật dạy từ vựng còn nhàm chán, chưa đa dạng phong phú, chưa thực sự hấp dẫn với học sinh, làm cho học sinh cảm thấy việc học là việc nhồi nhét kiến thức và rất chán nản

Các em học sinh chưa thực sự nắm được cách học từ vựng chinh vì thế trong suốt giờ học các em có xu thế đi tìm nghĩa của các từ vựng mà lơ là việchiểu nội dung của bài

Một số học sinh nhất là học sinh nam thường xuyên xao lãng việc học tập,

ít quan tâm đến việc học và đặc biệt không hình thành thói quen học từ mới.Các em ít có điều kiện giao tiếp bằng tiếng Anh và các em cũng ngại trao đổi giao tiếp bằng tiếng Anh ngoài giờ học

Trong quá trình soạn giảng giáo viên ngay cả bản thân tôi chưa đầu tư nhiều chưa xác định được từ nào là từ chủ động, từ nào là từ bị động chưa linh hoạt vận dụng các thủ thuật dạy từ vựng, đôi khi còn ảnh hưởng phương pháp dịch ngữ pháp ( grammar translation method), chưa chú trọng đến kết hợp bốn kĩ năng nghe- nói- đọc – viết Các em học sinh còn lệ thuộc vào việc

sử dụng cuốn sách “ Để học tôt tiếng Anh 6,7,8, 9” Mỗi khi đến lớp các em

Trang 7

hay mang theo và sử dụng để trả lời theo nội dung của bài một cách bị động,

và điều đó làm cho việc tiếp thu các bài giảng chỉ mang tính chất đối phó Một số em gia đình khó khăn phải phụ giúp gia đình lao động kiếm sống không có điều kiện mua tạp chí sách tham khảo, từ điển, băng đĩa và các tài liệu học tiếng Anh để tự học thêm ở nhà

3.Các biện pháp giải quyết vấn đề

Khi bắt đầu vào giảng bài mới giáo viên phải khéo léo tìm cách vào bài linh hoạt, tự nhiên nhất để lôi cuốn thu hút học sinh ngay từ đầu tiết học.Học sinh nên được dẫn dắt tập trung nhập tâm vào bài học bằng nhiều cáchkhác nhau Ví dụ như đưa ra các câu hỏi gợi ý đơn giản liên quan đến đề tài, buộc học sinh phải suy nghĩ, trả lời theo ý hiểu, từ đó dẫn dắt đưa các ngữ liệugần nhất đến chủ đề bài học

Giáo viên nên tin tưởng và trao quyền chủ động sáng tạo cho học sinh Nếu như trước đây thầy là trung tâm của tiết học, thì bây giờ học trò phải là người phải là đối tượng hoạt động nhiều hơn, qua đó hình thành được nhiều kĩnăng tự tin trong giao tiếp, thường xuyên sử dụng vốn từ mới của mình Do

đó giáo viên nên sáng tạo và sử dụng nhiều hoạt động trò chơi theo nhóm, theo cặp để học sinh tham gia xây dựng bài tốt hơn Tùy thuộc từng nội dung, từng chủ đề của bài học mà đòi hỏi các kĩ năng, thủ thuật sao cho phù hợp Giáo viên nên khai thác triệt để các hoạt động và vận dụng chúng một cách linh hoạt thích hợp cho từng bài chứ không gò bó vào khuôn khổ

Một số nguyên tắc để dạy từ mới

Khi chuẩn bị bài giảng giáo viên nên lựa chọn khoảng 5- 8 từ mới để dạy, các từ này học sinh sẽ xử dụng thường xuyên ở trên lớp tức là các từ này phải thuộc loại hoạt động ( active vocabulary) nhằm rèn luyện các kĩ năng cơ bản, đặc biệt là trong việc rèn luyện kĩ năng nói và viết

Các từ này sẽ xuất hiện nhiều trong văn bản, và trong cả giờ học

Các từ này học sinh sẽ được tiếp thu trong quá trình học ở hiện tại và

Trang 8

Không nên cho học sinh lặp lại các từ đó một cách quá nhiều lần trong mộtgiờ học vì việc lặp lại từ một cách máy móc nhiều lần sẽ làm cho các em cảm thấy nhàm chán và không có nhiều cảm hứng trong việc sử dụng từ đó trong ngữ cảnh của bài.

Steps for presenting new vocabulary

1 Use a suitable technique to elicit or show the meaning of the newvocabulary

2 Model the pronunciation clearly ( 3 times)

3 Ask students to repeat the word chorally and individually

4 Correct students’ s pronunciation

5 Write the words on the board and students’ s copy down on their notebooks

6 Check that students clearly understanding the meaning and

3.1 Các phương thức giới thiệu từ vựng

Qua nghiên cứu có nhiều phương thức giới thiệu ngữ liệu, chúng có thể dùng kết hợp với nhau và đồng thời có thể được dùng một cách độc lập mục đích để tạo ra một tiết học sôi nổi và có hiệu quả

Eliciting techniques for teaching vocabulary

Trang 9

Dùng trực giác (visuals) : Nghĩa của từ có thể được giới thiệu bằng

cách chỉ vào đồ vật hoặc giơ đồ vật lên để học sinh quan sát Phương thức nàyrất phổ biến với các lớp bắt đầu và tỏ ra rất có hiệu quả vì đã làm cho việc

hiểu nghĩa của từ trở nên chính xác và tiết kiệm thời gian Học sinh dùng trực giác để xác định được ngay cái cần tìm mà không cần phải thông qua một

khâu trung gian nào cả Hơn thế nữa đối với những lớp lớn tiềm năng của

phương thức này cũng rất lớn Và giáo viên không nên giới hạn phương thức

này đối với những đồ vật sẵn có trong phòng học Đưa thế giới sinh động bên ngoài lớp học đến với học sinh là một việc làm cần đến óc sáng tạo và hoàn

toàn có thể làm được

Ví dụ giới thiệu từ faded jeans ( tiếng Anh 9 Unit 9 Read) giáo viên có thể

dùng vật thực học sinh có thể trả lời ngay là quần bò mài.

True- False statements

Example

Translation

Trang 10

Dùng việc thật, việc thật( realia): nghĩa của từ có thể được hiểu thông

qua đồ dùng hoặc chức năng của những đồ dùng mà giáo viên mang từ thế giới bên ngoài vào lớp học Một vũng nước có thể tạo ra bằng cách đổ một ít nước xuống sàn nhà Một tai nạn, một vụ xô xe có thể diễn đạt bằng ô tô máy bay đồ chơi mang đến lớp học

Dùng tranh ảnh: Thủ thuật này thay thế những đồ vật không thể mang

tới lớp học, hoặc không có sẵn để làm đồ dùng dạy học Giáo viên có thể sưu tập những tranh ảnh từ họa báo, tạp chí, quảng cáo Tuy nhiên,để sử dụng

Trang 11

vào mục đích minh họa trong dạy học ta cần chọn những tranh ảnh đơn giản,

ít chi tiết, bố cục và mục đích rõ ràng Trong trường hợp có thể giáo viên vẽ phác họa lên bảng để vừa tiết kiệm thời gian vừa làm cho bài học thêm sinh động

Ví dụ: an ambulance ( tiếng Anh 8 Unit 9 Listen and Read)

Giáo viên cho học sinh xem tranh và hỏi “ what is this?” Học sinh trả lời: xe

cứu thương Giáo viên nói: xe cứu thương means an ambulance in English

(giới thiệu từ xe cứu thương) Giáo viên hỏi: trong tình huống nào thì cần đến một xe cứu thương Học sinh trả lời: khi có ca cấp cứu ( giới thiệu từ

emergency ) ( tiếng Anh 8 Unit 9 Listen and Read)

Tranh ảnh có thể dán vào các miếng bìa cứng để khi trình bày có thể treo lên bảng hoặc giơ lên để học sinh quan sát vừa tiện lợi vừa có thể sử dụng được lâu dài Giáo viên sưu tầm nhiều tranh ảnh đẹp đa sắc màu càng giúp cho có được những giải pháp minh họa chính xác mà dí dỏm, khích lệ

Dùng ngôn ngữ cử chỉ( mine): kịch câm là một ví dụ: không cần một

lời nào mà nghĩa của các động tác và của cả vở kịch được người xem hiểu chính xác Ngôn ngữ cử chỉ có thể biểu hiện trên nét mặt để biểu lộ tình cảm, cảm xúc như sung sướng, phấn khởi, hể hả, tức giận, mệt mỏi, đói khát Ngôn ngữ cử chỉ có thể biểu hiện bằng các động tác đơn giản cử động tay chân, quay vòng, nhanh, chậm, to, nhỏ hoặc có thể bắt chước mô phỏng như lảo đảo, trượt ngã, bối rối, kinh ngạc Nói tóm lại cử chỉ có thể nói lên hầu hết những gì giáo viên cần để minh họa nghĩa của từ vựng

Trang 12

Ví dụ 1: Tiếng Anh 8 Unit 9 Listen and Read

unconscious ( adj): bất tỉnh, ngất đi

Ví dụ 2: to turn off ( tiếng Anh 9 Unit 7 Language focus)

Teacher turns off the light.

T asks : “ what am I doing ?”

Ss: tắt điện

T: How can you say “ tắt” in English?

Now listen and repeat: “ turn off”

Ví dụ 3: unconscious (adj) ( tiếng Anh 8 Unit 9 Listen)

Giáo viên dùng động tác diễn tả kết hợp biểu hiện trên khuôn mặt và ngồi bất

động trên ghế ba giây Học sinh gọi ngay được tên tình trạng đó là bất tỉnh Giáo viên giải thích: it means unconscious in English.

Giải thích nghĩa: Đối với các lớp trình độ của học sinh chưa cao việc giải thích nghĩa từ mới bằng từ đã học có thể không hiệu quả Nhưng đối với học sinh ở các lớp có trình độ khá hơn việc giải thích là rất phù hợp Có thể dùng các hình thức sau:

Trang 13

từ trong chủ điểm khác như đồ dùng gia đình, rau cỏ, phương tiện giao

thông

Từ đồng nghĩa

Từ đồng nghĩa là những từ ít nhiều có nghĩa giống nhau Ví dụ: coach

là xe chở khách như xe bus nhưng chỉ loại xe chở khách đường dài Tương tự như vậy a shrub là a small bush ( một bụi cây nhỏ), damp có nghĩa tương tự như humid,

Teacher shows the picture and asks students.

T: what is this?

Ss: It’s a bus.

T: yes, that’s right.

How can we call a long – distance bus in English? – A coach.

Trang 14

Có thể trình bày nghĩa tương tự bằng kí hiệu toán học:

fierce = savage; unhappy = sad

shore = beach; residence = home

Từ nghịch nghĩa

Là những từ trái nghĩa, đối nghĩa Ví dụ: poor ( nghèo),rich ( giàu),dirty( bẩn), clean ( sạch) Ký hiệu có thể được dùng một cách rất tiện lợi để trình bày trên bảng:

Ví dụ: tiếng Anh 8 Unit 12 Listen

hot ≠ cold sunny ≠ rainy dry ≠ wet

Tạo ngữ cảnh ( situation/ explanation)

Nghĩa của từ có thể được suy luận trong ngữ cảnh Do vậy giáo viên cần và có thể tạo ngữ cảnh bằng cách sử dụng ngữ liệu đã hoc Qua đó giới

Trang 15

thiệu nghĩa của từ vựng cần học Có thể nói thêm rằng, thủ thuật tạo ngữ cảnh

để giới thiệu từ vựng mới là rất tốt đối với những từ mà nếu làm khác đi là rất khó hiểu

Ví dụ 1: tiếng Anh 8 Unit 15 Language focus 1

Ba’s mother has just been from the market She wanted him to do some housework while she was at the market Ba made notes in his dairy and

checked ( v) the work has done

Ba’s mother: Have you finished your homework yet?

Ba: Yes, I have already done it.

Ba’s mother: Have you tied the room yet?

Ba: I’m sorry, Mom I haven’t tidied the room yet.

Qua ngữ cảnh này học sinh vừa hiểu được nghĩa vừa nắm được cách

dùng một cách rất rõ ràng của từ already và yet

Ví dụ 2: My father hates potatoes, but he loves rice He likes carrots, beans and most other vegetables, but he refuses to eat potatoes He hates them.

Ở ví dụ này, nghĩa của hate được làm rõ thông qua ngữ cảnh: like đối lập với hate và thậm chí nó còn được hiểu chính xác là vì được suy luận từ refuse ( từ chối ) Giáo viên cũng cần đảm bảo đến mức tối đa các chi tiết của ngữ cảnh để học sinh hiểu được khái niệm ( yêu/ ghét) và sắc thái, cấp độ ( không thích, không ưa/ căm thù) Mặt khác, ngữ cảnh phải gợi mở các chi tiết bổ xung cho nhau Ngữ cảnh không xác định, thiếu chi tiết như ví dụ sau đây sẽ không giúp ích gì cả:

There is a lot of traffic in the cities.

Traffic is a nuisance Traffic is dangerous too.

Có thể tạo ngữ cảnh để sửa đổi tình trạng này như sau:

There are many cars, buses, taxies and motor-bikes in the city centre There are many vehicals passing through the streets The traffic is heavy in

Trang 16

Tuy nhiên không nên tạo ngữ cảnh dài dòng Vì để học sinh hiểu chính xác, giáo viên cần ghi những câu minh họa lên bảng để học sinh chép vào vở Những câu minh họa càng ngắn càng tốt.

To hate: students hate punishments.

Traffic: road traffic is light at night.

Kiến thức chung, kiến thức nền

Hiểu biết của học sinh về thế giới chúng ta đang sống là cơ sở và nguồnvốn quý giá và thuận lợi cho việc giới thiệu từ mới Ví dụ, khi học sinh đã biết

vị trí địa lý của các nước trên thế giới thì cách giới thiệu phương hướng có thểđược tiến hành như sau:

Vẽ phác họa một la bàn và giới thiệu vị trí địa lý một số nước đại diện

Japan is in the East, the United States of America is in the West

Australia is in the South and Britain is in the North Next to the US is Canada

to the North and Mexico to the South Not far from the US to the South – East

is Cuba

Tên của các thành phố, làng mạc giúp cho giáo viên giới thiệu những

địa điểm nổi bật như Market place ( chợ), Village pagoda ( chùa làng), Bus terminus ( bến xe buýt cuối cùng) và tất cả những gì truyền thống, phổ biến

gắn với hiểu biết và hứng thú của học sinh như hội làng, hội trường, sự kiện thể thao, âm nhạc, những anh hùng, mỹ nữ Tất cả là kho từ vựng phong phú

mà gần gũi, dễ hiểu

Biểu bảng, đồ thị

Nghĩa của một số từ có thể được làm rõ thông qua các biểu bảng, thước

tỷ lệ, đồ thị với các cực, trục tương phản Ví dụ, giữa hai cực horrible ( kinh khủng) và wonderful ( tuyệt vời) giáo viên có thể giới thiệu các từ nasty, unpleasant, và nice theo trình tự mức độ của hai trục nghĩa này Các từ chỉ nhiệt độ cũng có thể biểu diễn trên thước tỷ lệ: từ cold ( lạnh) đến hot ( nóng)

ta có lukewarm, tepid và warm.

Trang 17

Một ví dụ khác Hãy tưởng tượng giáo viên phải giới thiệu nghĩa của các từ rarely và frequently Ta hãy bắt đầu bằng hai từ nghịch nghĩa never và always Sau đó giáo viên đặt câu hỏi để gợi ý, lôi cuốn học sinh vào việc tìm các từ theo mức độ khác nhau nằm giữa hai cực này Kết quả trên bảng, giáo viên và học sinh có được thước tỷ lệ sau:

0 % 100%

never sometimes often generrally always

Kết hợp giáo viên có thể gợi ý, yêu cầu học sinh nói về những việc hay làm, đôi khi làm, thường làm, luôn luôn làm để luyện tập cách dùng các trạng

từ này trong các ngữ cảnh cụ thể

Giáo viên có thể gợi ý như sau:

I rarely lose my temper in class Sometimes I’m angry but I rarely lose

my temper( gạch chéo sau chữ never).Is there anything that you rarely do? What about flying? Do you ever travel by air?

Sau khi gợi ý để học sinh nói những việc mà ít khi các em làm, giáo viên chỉ vào khoảng trống giữa often và generally Gợi ý tiếp:

However, I frequently have a lot of marking to do, so I frequently stay late at school ( gạch chéo sau chữ generally) Are there activities that you frequently do?

Tương tự như vậy, giáo viên gợi ý để học sinh luyện tập dùng các trạng ngữ chỉ tần suất khác và yêu cầu học sinh ghi chép các câu mẫu để về nhà dựavào đó làm bài tập Bài tập có thể là viết lại những việc bạn em hay bản thân

em làm, dùng các trạng từ như usually, never cho phù hợp.

Dịch ra tiếng Việt (Translation)

Trang 18

Tiếng mẹ đẻ - tiếng Việt – có thể dược dùng để giải thích, làm rõ nghĩa

từ vựng trong giờ học tiếng khi không có biện pháp nào tốt hơn Chẳng hạn, phải giới thiệu một thuật ngữ ngữ pháp hay một câu nói theo nghi thức xã

giao như Have you by any chance ? thì dùng tiếng Việt là hiệu quả nhất Nghĩa tương đương của câu này là: Anh có may mắn ? Nhưng không phải

lúc nào người Việt cũng dùng chữ may mắn Do vậy phải hiểu đây là câu nói theo nghi thức xã giao, để khỏi làm phật ý người mình hỏi Dùng tiếng Việt

để giải thích các trường hợp ví dụ này sẽ vừa hiệu quả vừa đỡ mất thời gian trên lớp học

Dùng băng ghi âm

Nghĩa của từ cũng có thể được làm rõ khi giáo viên dùng băng ghi âm

để minh họa, tuy nó không phải là thủ thuật phổ biến Tuy nhiên giáo viên có thể tham khảo và áp dụng trong một số trường hợp cụ thể Ví dụ, một cuộc

tranh cãi ( argument), ngựa phi ( galloping), té nước ( splashing), máy bay ( a plane), đầu tầu hỏa ( a locomotive), có thể dễ dàng dùng băng ghi âm để

minh họa nghĩa Một câu chuyện kể được thực hiện hoàn toàn bằng băng ghi tiếng kêu, tiếng hót đại diện cho những nhân vật thì chắc hẳn là rất lý thú vàkích thích suy đoán nghĩa thông qua phương tiện ngoài ngôn ngữ của học sinh

sẽ rất hiệu quả Trở lại ví dụ về nghĩa từ traffic trên đây, chắc hẳn chúng ta sẽ thấy dễ dàng hơn khi minh họa khái niệm giao thông bằng âm thanh, tiếng động hơn là dày công nghĩ ra những giải thích dài dòng

Kết hợp giới thiệu nghĩa từ trong một ngữ cảnh

Ngày đăng: 24/03/2019, 00:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w