1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tài liệu soạn giảng dlđp Quảng Trị(đầy đủ)

42 490 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tài Liệu Soạn Giảng Dlđp Quảng Trị(đầy Đủ)
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên
Chuyên ngành Địa lý
Thể loại Tài liệu
Năm xuất bản 2007
Thành phố Quảng Trị
Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 331,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thời gian qua, cũng như các tỉnh trong vùng khu vực miền Trung được Nhà nước quan tâm đầu tư cùng một số chính sách ưu đãi khác, tiềm lực kinh tế của Quảng Trị có những bước phát triển m

Trang 1

Quảng Trị là tỉnh nằm trong vùng Bắc Trung Bộ, có diện tích tự nhiên 4.744,32 km2 Dân số trung bình năm 2007 có 630.784 người, chiếm 1,44% về diện tích và 0,76% về dân số cả nước, mật độ dân số 133 người/km2 Toàn tỉnh có

10 đơn vị hành chính, bao gồm 2 thị xã là Đông Hà, Quảng Trị và 8 huyện là Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ, Triệu Phong, Hải Lăng, Hướng Hóa, Đăkrông và huyện đảo Cồn Cỏ Thị xã Đông Hà là trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Trị

I Các Đặc điểm tự nhiên

1 Vị trí địa lý-kinh tế

Tỉnh Quảng Trị nằm trên tọa độ địa lý từ 16018 đến 17010 vĩ độ Bắc, 1060 32 đến 107034 kinh độ Đông

- Phía Bắc giáp huyện Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình

- Phía Nam giáp huyện Phong Điền và A Lưới tỉnh Thừa Thiên Huế

- Phía Đông giáp biển Đông

- Phía Tây giáp tỉnh Savanakhet và Salavan nước CHDCND Lào

- Quảng Trị có lợi thế về địa lý-kinh tế, là đầu mối giao thông, nằm ở trung điểm đất nước, ở vị trí quan trọng- điểm đầu trên tuyến đường huyết mạch chính của Hành lang Đông-Tây nối với Lào - Thái Lan - Mianmar qua cửa khẩu quốc tế Lao Bảo đến các cảng biển miền Trung như Cửa Việt, Chân Mây, Đà Nẵng, Vũng Áng v.v Đây là điều kiện rất thuận lợi để Quảng Trị mở rộng hợp tác kinh tế trong khu vực, giao thương hàng hóa, vận tải quốc tế, phát triển thương mại, dịch vụ và

du lịch

- Quảng Trị có điều kiện giao thông khá thuận lợi cả về đường bộ, đường sắt

và đường thuỷ Qua địa phận Quảng Trị có các tuyến giao thông huyết mạch như quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh (nhánh Đông và nhánh Tây), tuyến đường sắt Bắc-Nam chạy dọc qua tỉnh và quốc lộ 9 gắn với đường xuyên Á cho phép Quảng Trị có thể giao lưu kinh tế với các tỉnh trong vùng và cả nước Cảng Cửa Việt là một trong những cảng biển có thể phục vụ cho vận chuyển hàng hóa trong vùng và trung chuyển hàng hóa qua đường Xuyên Á Cách không xa trung tâm tỉnh lỵ Đông Hà có sân bay Phú Bài-Thừa Thiên Huế (khoảng 80 km) và sân bay quốc tế

Đà Nẵng (150 km) v.v

Thời gian qua, cũng như các tỉnh trong vùng khu vực miền Trung được Nhà nước quan tâm đầu tư cùng một số chính sách ưu đãi khác, tiềm lực kinh tế của Quảng Trị có những bước phát triển mới: Khu kinh tế thương mại đặc biệt Lao Bảo phát triển có nhiều khởi sắc; các khu công nghiệp Nam Đông Hà, khu CN Quán Ngang; các cụm tuyến du lịch Hiền Lương, Cửa Tùng, Khe Sanh, Lao Bảo v.v được đầu tư về hạ tầng, thu hút đầu tư, đang từng bước phát huy hiệu quả; cơ

sở hạ tầng như giao thông nông thôn, mạng lưới điện, cấp thoát nước, bưu chính viễn thông không ngừng được mở rộng; các lĩnh vực xã hội như công tác xóa đói giảm nghèo; trên lĩnh vực y tế, giáo dục-đào tạo, văn hóa-thể thao được chú trọng phát triển

Trang 2

Những lợi thế về vị trí địa lý-kinh tế và tiềm lực kinh tế đã đạt được đang tạo cho Quảng Trị một nền tảng rất cơ bản để có thể tăng cường mở rộng giao lưu, hợp tác kinh tế trong nước và tăng cường liên kết, hội nhập với các nước trong khu vực và quốc tế, đẩy nhanh hơn nữa phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh trong thời gian tới.

2 Đặc điểm tự nhiên

2.1 Địa hình

Do cấu tạo của dãy Trường Sơn, địa hình Quảng Trị thấp dần về phía Đông, Đông Nam và chia thành 4 dạng địa hình: vùng núi cao phân bố ở phía Tây từ đỉnh dãy Trường Sơn đến miền đồi bát úp; vùng trung du và đồng bằng nhỏ hẹp chạy dài dọc theo tỉnh; kế đến là vùng cát nội đồng và ven biển Do địa hình phía Tây núi cao, chiều ngang nhỏ hẹp nên hệ thống sông suối đều ngắn và dốc

- Địa hình núi cao Phân bố ở phía Tây từ dãy Trường Sơn đến miền đồi bát

úp, chiếm diện tích lớn nhất, có độ cao từ 250-2000 m, độ dốc 20-300 Địa hình phân cắt mạnh, độ dốc lớn, quá trình xâm thực và rửa trôi mạnh Các khối núi điển hình là Động Voi Mẹp, Động Sa Mui, Động Châu, Động Vàng Địa hình vùng núi

có thể phát triển trồng rừng, trồng cây lâu năm và chăn nuôi đại gia súc Tuy nhiên phần lớn địa hình bị chia cắt mạnh, sông suối, đèo dốc nên đi lại khó khăn, làm hạn chế trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng như giao thông, mạng lưới điện v.v cũng như tổ chức đời sống xã hội và sản xuất Tuy nhiên có tiềm năng thủy điện khá phong phú

- Địa hình gò đồi, núi thấp Là phần chuyển tiếp từ địa hình núi cao đến địa

hình đồng bằng, chạy dài dọc theo tỉnh Có độ cao từ 50-250m, một vài nơi có độ cao trên 500 m Địa hình gò đồi, núi thấp (vùng gò đồi trung du) tạo nên các dải thoải, lượn sóng, độ phân cắt từ sâu đến trung bình Khối bazan Gio Linh-Cam Lộ

có độ cao xấp xỉ 100-250 m dạng bán bình nguyên, lượn sóng thoải, vỏ phong hóa dày, khối bazan Vĩnh Linh nằm sát ven biển, có độ cao tuyệt đối từ 50-100m Địa hình gò đồi, núi thấp thích hợp cho trồng cây công nghiệp lâu năm như cao su, hồ tiêu, cây ăn quả lâu năm v.v

- Địa hình đồng bằng Là những vùng đất được bồi đắp phù sa từ hệ thống

các sông, địa hình tương đối bằng phẳng, có độ cao tuyệt đối từ 25-30 m Bao gồm đồng bằng Triệu Phong được bồi tụ từ phù sa sông Thạch Hãn khá màu mỡ; đồng bằng Hải Lăng, đồng bằng sông Bến Hải tương đối phì nhiêu Đây là vùng trọng điểm sản xuất lương thực, nhất là sản xuất lúa ở các huyện Hải Lăng, Triệu Phong, Gio Linh, Vĩnh Linh

- Địa hình ven biển Chủ yếu là các cồn cát, đụn cát phân bố dọc ven biển

Địa hình tương đối bằng phẳng, thuận lợi cho việc phân bố dân cư Một số khu vực

có địa hình phân hóa thành các bồn trũng cục bộ dễ bị ngập úng khi có mưa lớn hoặc một số khu vực chỉ là các cồn cát khô hạn, sản xuất chưa thuận lợi, làm cho đời sống dân cư thiếu ổn định

Nhìn chung với địa hình đa dạng, phân hoá thành các tiểu khu vực, nhiều vùng sinh thái khác nhau tạo cho Quảng Trị có thể phát triển toàn diện các ngành kinh tế, đặc biệt là tạo nên các vùng tiểu khí hậu rất thuận lợi cho đa dạng hóa các loại cây trồng vật nuôi trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp

Trang 3

2.2 Khí hậu

Quảng Trị nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có nền nhiệt độ cao, chế độ ánh sáng và mưa, ẩm dồi dào, tổng tích ôn cao v.v là những thuận lợi cơ bản cho phát triển các loại cây trồng nông, lâm nghiệp Tuy nhiên, Quảng Trị được coi là vùng có khí hậu khá khắc nghiệt, chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam khô nóng thổi mạnh từ tháng 3 đến tháng 9 thường gây nên hạn hán Từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau chịu ảnh hưởng của gió mùa đông Bắc kèm theo mưa nên dễ gây nên lũ lụt

- Nhiệt độ Nhiệt độ trung bình năm từ 240-250C ở vùng đồng bằng, 220-230C

ở độ cao trên 500 m Mùa lạnh có 3 tháng (12 và 1, 2 năm sau), nhiệt độ xuống thấp, tháng lạnh nhất nhiệt độ xuống dưới 220C ở đồng bằng, dưới 200C ở độ cao trên 500 m Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 8 nhiệt độ cao trung bình 28 0 C, tháng nóng nhất thường là tháng 6, 7, nhiệt độ tối cao có thể lên tới 400-420C

Số giờ nắng trung bình 5-6 giờ/ngày Biên độ giữa các tháng trong năm chênh lệch 7 0-90C Chế độ nhiệt của Quảng Trị rất thuận lợi cho phát triển thâm canh tăng vụ trong sản xuất nông nghiệp

- Chế độ mưa Lượng mưa trung bình hàng năm của Quảng Trị khoảng

2200-2500 mm; số ngày mưa trong năm dao động từ 154-190 ngày Chế độ mưa ở Quảng Trị biến động rất mạnh theo các mùa và cả các năm Trên 70% lượng mưa tập trung vào các tháng 9, 10, 11 Có năm lượng mưa trong 1 tháng mùa mưa chiếm xấp xỉ 65% lượng mưa trung bình nhiều năm Mùa khô thường từ tháng 12 đến tháng 7 năm sau, khô nhất vào tháng 7 Đây là thời kỳ có gió Tây Nam thịnh hành Tính biến động của chế độ mưa ảnh hưởng nhiều tới sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, tới thi công các công trình xây dựng v.v Mùa mưa, lượng mưa lớn tập trung trong thời gian ngắn thường gây nên lũ lụt; mùa hè, thời gian mưa ít kéo dài thường gây nên thiếu nước, khô hạn

- Độ ẩm Quảng Trị có độ ẩm tương đối trung bình năm khoảng 83-88%

Giữa hai miền Đông và Tây Trường Sơn, chế độ ẩm cũng phân hóa theo thời gian Tháng có độ ẩm thấp nhất là tháng 4, độ ẩm thấp nhất có khi xuống đến 22%; trong những tháng mùa mưa, độ ẩm tương đối trung bình thường trên 85%, có khi lên đến 88-90%

- Nắng Quảng Trị có số giờ nắng khá cao và có sự phân hóa theo thời gian

và không gian rõ rệt: miền Đông có tổng số giờ nắng lên tới 1910 giờ, miền Tây chỉ đạt 1840 giờ Các tháng có số giờ nắng cao thường vào tháng 5, 6, 7, 8, đạt trên

200 giờ Nắng nhiều là điều kiện rất thuận lợi cho sự quang hợp , tăng năng suất sinh học cho cây trồng Tuy nhiên, nắng nhiều và kéo dài, nhiệt độ cao dẫn đến hạn hán ảnh hưởng tới sản xuất và đời sống dân cư

- Gió Tỉnh Quảng Trị chịu ảnh hưởng của hai hướng gió chính là gió mùa

Tây Nam và gió mùa Đông Bắc Đặc biệt gió Tây khô nóng ở Quảng Trị là hiện tượng rất điển hình, được đánh giá là dữ dội nhất ở nước ta Trung bình mỗi năm

có khoảng 45 ngày Trong các đợt gió Tây Nam khô nóng, nhiệt độ có thể lên tới

400-420C Gió Tây Nam khô nóng làm ảnh hưởng không nhỏ tới các hoạt động kinh tế-xã hội, đặc biệt là sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp

Trang 4

- Bão và áp thấp nhiệt đới Quảng Trị nằm trong khu vực chịu nhiều ảnh

hưởng của bão Mùa bão thường tập trung vào các tháng 9 và 10 Bão có cường suất gió mạnh kèm theo mưa lớn tạo ra lũ quét ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống dân cư

Nhìn chung điều kiện tự nhiên của Quảng Trị có những thuận lợi khá cơ bản: do sự phân hóa đa dạng của độ cao địa hình tạo nên các vùng tiểu khí hậu thích hợp cho sự phát triển một nền nông nghiệp đa dạng với các loại cây trồng vật nuôi có nguồn gốc nhiệt đới, á nhiệt và cận ôn đới, có giá trị kinh tế cao Điều này mang lại lợi thế cạnh tranh trong phát triển nông nghiệp hàng hóa Tiểu vùng khí hậu đỉnh Trường Sơn với tính ôn hoà là tài nguyên quý mang lại sức hấp dẫn cho

sự phát triển các hoạt động dịch vụ, du lịch, tạo không gian mát mẻ cho tham quan, nghỉ dưỡng, đặc biệt là trong mùa hè nóng gay gắt của vùng Bắc Trung Bộ Đây là điểm độc đáo của khí hậu Quảng Trị

Tuy nhiên, bên cạnh những yếu tố thuận lợi cơ bản, điều kiện khí hậu, thời tiết của Quảng Trị cũng như ở các tỉnh miền Trung mang tính chất khắc nghiệt: thường xảy ra hạn hán về mùa khô và lũ lụt vào mùa mưa Do đó việc khắc phục thiên tai, xây dựng các công trình thuỷ lợi, trồng rừng đầu nguồn để giữ nước chống lũ lụt để ổn định sản xuất và đời sống có ý nghĩa to lớn cần được quan tâm chú trọng

2.3 Thuỷ văn.

Quảng Trị có hệ thống sông ngòi khá dày đặc, mật độ trung bình 0,8-1 km/km2 Do đặc điểm địa hình bề ngang hẹp, có dãy Trường Sơn núi cao ở phía Tây nên các sông của Quảng Trị có đặc điểm chung là ngắn và dốc Toàn tỉnh có

12 con sông lớn nhỏ, tạo thành 3 hệ thống sông chính là sông Bến Hải, sông Thạch Hãn và sông Ô Lâu (Mỹ Chánh)

- Hệ thống sông Bến Hải Bắt nguồn từ khu vực động Châu có độ cao 1257

m, có chiều dài 65 km Lưu lượng trung bình năm 43,4 m3/s Các phụ lưu ở thượng nguồn gồm có sông Sa Lung, sông Rào Thanh Diện tích lưu vực rộng khoảng 809

km2 Sông đổ ra biển ở Cửa Tùng

- Hệ thống sông Thạch Hãn Có chiều dài 155 km, diện tích lưu vực lớn nhất

2660 km2 Nhánh sông chính là Thạch Hãn bắt nguồn từ từ các dãy núi lớn Động

Sa Mui, Động Voi Mẹp (nhánh Rào Quán)và động Ba Lê, động Dang (nhánh Đăkrông) Sông Thạch Hãn đổ ra biển ở Cửa Việt

- Hệ thống sông Ô Lâu (sông Mỹ Chánh) Được hợp bởi hai nhánh sông

chính là Ô Lâu ở phía Nam và sông Mỹ Chánh ở phía Bắc Diện tích lưu vực của hai nhánh sông khoảng 900 km2, chiều dài 65 km Sông đổ ra phá Tam Giang thuộc địa phận tỉnh Thừa Thiên Huế

Ngoài ra, ở phía Tây giáp biên giới Việt- Lào có một số sông nhánh chảy theo hướng Tây thuộc hệ thống sông Mê Kông Các nhánh điển hình là sông XêPon đoạn cửa khẩu Lao Bảo-A Đớt, sông Sê Păng Hiêng đoạn đồn biên phòng

Cù Bai, Hướng Lập (Hướng Hóa)

Trang 5

Hệ thống suối Phân bố dày đặc ở vùng thượng nguồn Các thung lũng suối

phần lớn rất hẹp, độ dốc lớn tạo ra nhiều thác cao hàng trăm mét và phân bậc phức tạp

Nhìn chung, hệ thống sông suối của Quảng Trị phân bố đều khắp, điều kiện thủy văn thuận lợi cung cấp nguồn nước dồi dào phục vụ cho sản xuất và đời sống, đồng thời có tiềm năng thủy điện cho phép xây dựng một số nhà máy thuỷ điện với công suất vừa và nhỏ

II tài nguyên thiên nhiên

1 Tài nguyên đất

Theo số liệu thống kê tỉnh Quảng Trị năm 2007, tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh có 474.431,69 ha Các loại đất chia theo mục đích sử dụng bao gồm:

1.1 Đất nông nghiệp Có diện tích là 2295.264,15 ha, chiếm 62,24% tổng

diện tích đất tự nhiên, trong đó đất sản xuất nông nghiệp 78.9739 ha Bình quân đất sản xuất nông nghiệp/người là 1.253 m2

- Đất sản xuất nông nghiệp Phần lớn đất sản xuất nông nghiệp là đất trồng

cây hàng năm với diện tích 50.646,36 ha, chiếm 64,13% đất sản xuất nông nghiệp (trong đó đất lúa 29.822,34 ha, đất cây hàng năm khác 20.624,71 ha, đất cỏ dùng vào chăn nuôi 199,31 ha) Đất trồng cây lâu năm có 28.326,68 ha, chiếm 35,87% diện tích đất sản xuất nông nghiệp, chủ yếu trồng cao su, cà phê, hồ tiêu, cây ăn quả v.v

- Đất lâm nghiệp có rừng Diện tích là 213.564,55 ha, trong đó đất rừng sản

xuất 92.908,81 ha, rừng phòng hộ 65.312,36 ha, rừng đặc dụng 55.343,38 ha Độ che phủ rừng toàn tỉnh năm 2007 đạt 43,6%

- Đất nuôi trồng thuỷ sản Diện tích 2.521,77 ha, chiếm 0,85% diện tích đất

nông nghiệp, được sử dụng để nuôi trồng thủy sản nước mặn, lợ, ngọt

- Ngoài ra còn có đất có điều kiện sản xuất muối, diện tích nhỏ 8,8 ha và đất

nông nghiệp khác 195,99 ha

1.2 Đất phi nông nghiệp Diện tích trên địa bàn toàn tỉnh có 40.587,12 ha,

bao gồm các loại đất ở, đất chuyên dùng và đất đất tôn giáo tín ngưỡng, đất nghĩa trang nghĩa địa v.v

- Đất ở Diện tích 6.941,12 ha, chiếm 17,1% diện tích đất phi nông nghiệp,

trong đó đất ở tại đô thị 1.434,62 ha, đất ở tại nông thôn 5.506,5 ha

- Đất chuyên dùng Diện tích 14.115,31 ha, chiếm 38,78% diện tích đất phi

nông nghiệp, bao gồm chủ yếu các loại đất: đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp 347,38 ha; đất an ninh quốc phòng 1.744,15 ha; đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp 615,58 ha (đất khu công nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, hoạt động khoáng sản, sản xuất VLXD); đất có mục đích công cộng 11.408,2 ha (giao thông, thuỷ lợi v.v.)

- Đất tôn giáo, tín ngưỡng Diện tích 363,89 ha, chủ yếu là đất đình, miếu,

am, từ đường v.v

- Đất nghĩa trang nghĩa địa Diện tích 3.915 ha.

- Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng Diện tích 15.145,76 ha.

Trang 6

1.3 Đất chưa sử dụng Diện tích đất chưa sử dụng trên toàn tỉnh còn

138.580,42 ha, chiếm 29,21% tổng diện tích tự nhiên, trong đó chủ yếu là:

- Đất bằng chưa sử dụng, diện tích 13.112,31 ha, có thể khai thác đưa vào sử dụng cho mục đích sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp khác

- Đất đồi núi chưa sử dụng, diện tích còn khá lớn 124.691,46 ha Đây là tiềm năng lớn cho phép khai hoang mở rộng qui mô phát triển nông, lâm nghiệp và đưa vào sử dụng trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội

- Diện tích núi đá không có rừng cây 776,65 ha

Tuy diện tích đất chưa sử dụng còn nhiều nhưng phần lớn là đất cồn cát, đất chua mặn, đất đồi núi chia cắt mạnh, có tầng dày mỏng, nhiều diện tích bị kết vón

đá ong, phân bố rải rác, không tập trung và có những vùng còn bom mìn chưa được

rà phá Do đó để cải tạo, khai thác đưa vào sử dụng được trong các ngành kinh tế cần có đầu tư vốn, kỹ thuật, thuỷ lợi, rà phá bom mìn v.v

2 Tài nguyên rừng và thảm thực vật

Toàn tỉnh Quảng Trị có 330.126,1 ha diện tích đất lâm nghiệp (bao gồm đất

có rừng và đất chưa có rừng) Đất lâm nghiệp có rừng năm 2007 là 213.564,55 ha với tổng trữ lượng gỗ khoảng 11 triệu m3 Theo kết quả điều tra mới nhất thì hiện tại rừng Quảng Trị có khoảng 1053 loại thực vật thuộc 528 chi, 130 họ, trong đó có

175 loài cây gỗ Động vật rừng cũng khá phong phú và đa dạng Hiện tại có khoảng 67 loài thú, 193 loài chim và 64 loài lưỡng cư bò sát (thuộc 17 họ, 3 bộ) đang sinh sống tại rừng Quảng Trị Do chiến tranh tàn phá nặng nề và do khai thác rừng bừa bãi để phát nương làm rẫy trong nhiều năm nên hệ sinh thái rừng tự nhiên

bị suy thoái, trữ lượng rừng tự nhiên bị giảm sút, chất lượng rừng thấp kém Đặc biệt một số vùng rừng bị chất độc hóa học hủy hoại, khó có thể khôi phục lại Cần

có biện pháp hữu hiệu nhằm tăng cường quản lý, bảo vệ và phục hồi rừng tự nhiên

Rừng trồng các loại có diện tích 77.596 ha, trong đó rừng đặc dụng 190 ha, rừng sản xuất 61.390 ha, rừng phòng hộ 16.016 ha Diện tích rừng thông nhựa khoảng 25.000 ha Nhìn chung rừng trồng chất lượng tốt, tăng trưởng ở mức độ trung bình Rừng trồng sản xuất chủ yếu bao gồm các loại keo lá tràm, keo tai tượng, keo lai v.v được trồng tập trung và có yếu tố thâm canh nên hiệu quả kinh

tế khá cao Đã chú trọng du nhập đưa các cây lâm nghiệp mới vào trồng rừng sản xuất Một số cây bản địa như sến, muồng đen, sao đen v.v đã được đưa vào trồng rừng phòng hộ v.v

3 Tài nguyên biển

Quảng Trị có bờ biển dài 75 km với 2 cửa lạch quan trọng là Cửa Việt và Cửa Tùng Vùng lãnh hải đặc quyền kinh tế rộng trên 8.400 km2, ngư trường đánh bắt rộng lớn, khá giàu hải sản có giá trị kinh tế cao như tôm hùm, mực nang, cua, hải sâm, tảo và một số loài cá, san hô quý hiếm Trữ lượng hải sản vùng biển tỉnh Quảng Trị có khoảng 60.000 tấn Khả năng khai thác hàng năm khoảng 17.000 tấn Diện tích vùng bãi bồi ven sông trên 4.000 ha, đặc biệt vùng ven biển có khoảng 1.000 ha mặt nước và một số diện tích đất bị nhiễm mặn, đất cát có khả năng chuyển đổi để phát triển nuôi trồng thuỷ hải sản các loại

Trang 7

Ngoài khơi cách đất liền 28 hải lý có huyện đảo Cồn Cỏ có vị trí quan trọng

về kinh tế và quốc phòng, hiện đang xây dựng cảng cá và khu dịch vụ hậu cần nghề cá của tỉnh và các tỉnh trong vùng Ven biển có một số vũng kín gió, thuận lợi cho phát triển cảng, xây dựng các nhà máy đòng tàu, sửa chữa tàu biển và xây dựng các khu neo đậu tàu thuyền như khu vực Cửa Việt, Cửa Tùng Dọc bờ biển Quảng Trị có nhiều bãi tắm, cảnh quan đẹp, có các di tích lịch sử cách mạng có thể đưa vào khai thác du lịch như bãi tắm Cửa Việt, Cửa Tùng, Mỹ Thuỷ, Triệu Lăng, địa đạo Vịnh Mốc v.v

Cách không xa bờ biển Quảng Trị khoảng 100-120 km có nguồn khí mêtan chất lượng cao với trữ lượng từ 60-100 tỷ m3 Khu vực mỏ nằm gần đảo Cồn Cỏ, nếu khai thác nguồn khí này đưa vào đất liền thì tỉnh Quảng Trị là địa điểm gần nhất

Với tiềm năng tài nguyên biển, đảo đa dạng, Quảng Trị có điều kiện đẩy mạnh phát triển tổng hợp kinh tế biển như đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản; dịch vụ hậu cần nghề cá; cảng hàng hóa và vận tải biển; du lịch biển, sinh thái biển Trên cơ sở phát triển hài hòa các ngành kinh tế biển trong sự gắn kết chặt chẽ với định hướng phát triển chung của vùng và cả nước, gắn kết với phát triển Hành lang kinh tế Đông-Tây nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng biển đảo

4 Tài nguyên nước

Trên địa bàn tỉnh có các nhánh đầu nguồn của 3 hệ thống sông chính đổ ra biển là sông Bến Hải, Thạch Hãn và sông Ô Lâu Sự phân bố đều khắp của các sông này là nguồn nước mặt chính cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt Các con sông này đều có lưu lượng nước lớn về mùa mưa Trong những năm mưa ít thì các sông nhánh và khe suối nhỏ thường bị cạn kiệt gây nên hạn hán

Nước ngầm trong các tầng trầm tích và phong hóa phát triển các địa hình núi thấp ven sông Đây là nguồn cung cấp nước khá quan trọng cho sản xuất và sinh hoạt Nước trong tầng đất đỏ phong hóa từ đá bazan có chất lượng tốt theo các chỉ tiêu hóa học v.v Nguồn nước này rất có giá trị đối với nhân dân vùng miền núi Hình thức khai thác hiện nay chủ yếu là các giếng đào theo qui mô hộ gia đình với lưu lượng thấp

2.5 Tài nguyên khoáng sản

Tài nguyên khoáng sản của tỉnh Quảng Trị rất phong phú và đa dạng, đặc biệt là khoáng sản làm nguyên liệu sản xuất xi măng và khoáng sản làm vật liệu xây dựng Có thể nói đây là thế lợi thế lớn để Quảng Trị có thể phát triển mạnh công nghiệp sản xuất xi măng

Theo tài liệu hiện có, trên địa bàn tỉnh Quảng Trị có 130 mỏ và điểm khoáng sản, trong đó có 86 điểm, mỏ vật liệu xây dựng và nguyên liệu sản xuất xi măng với các loại chủ yếu như đá vôi, đá sét và các chất phụ gia (như đá bazan, quặng sắt), sét gạch ngói, cát cuội sỏi, cát thủy tinh, cao lanh v.v Các khoáng sản khác như vàng, ti tan, than bùn cũng chiếm tỷ trọng lớn về giá trị trong ngành khai thác khoáng sản của tỉnh

Trang 8

- Đá vôi xi măng Có tổng trữ lượng trên 3 tỷ tấn, tập trung chủ yếu ở các mỏ

có quy mô lớn và ý nghĩa kinh tế cao như đá vôi Tân Lâm, Cam Thành (Cam Lộ),

đá vôi Tà Rùng, Hướng Lập (Hướng Hóa); sét xi măng tập trung ở Cam Tuyền, Tà Rùng, phụ gia xi măng ở Cùa, Tây Gio Linh v.v

- Đá xây dựng, ốp lát Toàn tỉnh có 10 điểm, mỏ đá xây dựng, trữ lượng

khoảng 500 triệu m3; phân bố chủ yếu dọc quốc lộ 9 và đường Hồ Chí Minh trở về phía Tây, có điều kiện giao thông khá thuận lợi Đá ốp lát có 4 điểm là đá granit Chân Vân, đá hoa Khánh Ngài, granodiorit Đăkrông và gabro Cồn Tiên

- Sét gạch ngói Hiện có 18 điểm, mỏ, có trữ lượng khoảng gần 82 triệu m3, phân bố ở nhiều nơi nhưng tập trung chủ yếu ở Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ, Triệu Phong, Hải Lăng

- Cát, cuội, sỏi xây dựng Có 16 mỏ và điểm, trữ lượng dự báo khoảng 3,9

triệu m3, tập trung ở phần thượng nguồn các sông, nằm ở những vùng có giao thông thuận lợi cho việc khai thác

- Cát thủy tinh Dự báo trữ lượng 125 triệu m3, chất lượng tốt, phân bố chủ yếu ở Gio Linh, Triệu Phong, Hải Lăng nhưng tập trung ở khu vực Cửa Việt, cho phép xây dựng nhà máy chế biến silicát, sản xuất thủy tinh và kính xây dựng

- Cao lanh Đã phát hiện được 3 điểm cao lanh là Tà Long, A Pey (Đăkrông)

và La Vang (Hải Lăng) chất lượng khá tốt, đang tiếp tục thăm dò, thử nghiệm để đưa vào khai thác

- Than bùn Phân bố tập trung Hải Lăng và Gio Linh với tổng trữ lượng gần

400 ngàn tấn cho phép khai thác làm nguyên liệu cho sản xuất phân vi sinh với khối lượng lớn

- Ti tan Phân bố dọc ven biển nhưng tập trung chủ yếu ở Vĩnh Linh, Gio

Linh, Hải Lăng, có trữ lượng khoảng 400.000 tấn, thể khai thác với khối lượng khoảng 10-20 nghìn tấn/năm để xuất khẩu

- Các mỏ nước khoáng Phân bố ở Cam Lộ, Đakrông cho phép phát triển

công nghiệp sản xuất nước khoáng, tổ chức dịch vụ nghỉ dưỡng, chữa bệnh

Ngoài ra còn có pirít phân bố ở Vĩnh Linh, Hướng Hóa; vàng Đăkrông (ở Tà Long, A Vao) với trữ lượng khoảng 54 tấn từng bước được thăm dò khảo sát để đưa vào khai thác trong giai đoạn tới

6 Tài nguyên du lịch

Trang 9

Quảng Trị có nhiều tiềm năng du lịch tự nhiên và nhân văn khá phong phú, phân bố rộng khắp trên các địa bàn trong tỉnh và gần các trục giao thông chính nên rất thuận lợi cho khai thác Đặc biệt Quảng Trị có hệ thống di tích chiến tranh cách mạng gắn liền với cuộc kháng chiến cứu nước vĩ đại của dân tộc, trong đó có những địa danh nổi tiếng thế giới như Thành cổ Quảng Trị, địa đạo Vịnh Mốc, di tích Hiền Lương, Cồn Tiên, Dốc Miếu, đường mòn Hồ Chí Minh, Khe Sanh, làng Vây, nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn v.v Quảng Trị còn là bảo tàng sinh động nhất

về di tích chiến tranh cách mạng, đó là cơ sở để tạo sản phẩm du lịch hoài niệm về chiến trường xưa độc đáo Quảng Trị có bờ biển dài với những cảnh quan đẹp, còn nguyên sơ với những bãi tắm nổi tiếng như Cửa Tùng, Cửa Việt, Mỹ Thủy, Cồn

Cỏ để phát triển du lịch sinh thái biển Quảng Trị có vị trí đầu cầu trên Hành lang Đông-Tây, điểm kết nối giữa sản phẩm du lịch Đông-Tây, du lịch Con đường

di sản miền Trung và Con đường huyền thoại Ngoài ra, Quảng Trị còn có những cánh rừng nguyên sinh, suối nước nóng ở Đăkrông, khu vực hồ Rào Quán-Khe Sanh, Hướng Hoá v.v cho phép phát triển du lịch lâm sinh thái; có tiềm năng phát triển du lịch nghiên cứu văn hóa dân tộc như Lễ hội dân tộc Vân Kiều, Pa Cô, lễ hội truyền thống cách mạng; du lịch nghiên cứu tâm linh như lễ kiệu La Vang v.v Tiềm năng du lịch tự nhiên và nhân văn cho phép Quảng Trị đẩy mạnh phát triển

du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh trong giai đoạn tới

III Đặc điểm dân số và nguồn nhân lực

1 Dân số Năm 2007 dân số trung bình của tỉnh là 630.784 người Toàn tỉnh

có 134.347 hộ gia đình, bình quân 4,7 nhân khẩu/hộ Dân số thành thị chiếm 24,6%, còn lại chủ yếu là dân số sống ở nông thôn, chiếm 75,4%, Tỉ lệ tăng dân số

tự nhiên giảm còn 1,048% và có xu hướng giảm dần, dân số cơ học tăng không đáng kể Bình quân mỗi năm dân số trung bình toàn tỉnh tăng thêm khoảng 5.000-6.000 người

Trong cơ cấu dân số phân theo giới tính, nữ chiếm 50,55%, nam chiếm 49,45%; phân theo độ tuổi, từ 0-59 tuổi chiếm khoảng 90,9%, chỉ tiêu này cho thấy đây là cơ cấu dân số trẻ; riêng dân số dưới 15 tuổi chiếm 37,9%, đây là lực lượng lao động dự trữ dồi dào của tỉnh

Mật độ dân số toàn tỉnh là 133 người/km2, thuộc loại thấp so với các tỉnh, thành khác trong cả nước Dân cư phân bố không đều giữa các vùng lãnh thổ trong tỉnh, tập trung đông ở các thị xã, các huyện đồng bằng và ven biển (thị xã Quảng Trị 2.734 người/km2, thị xã Đông Hà 1.140 người/km2), trong khi đó huyện Đakrông chỉ có 29 người/km2, Hướng Hoá 62 người/km2 Sự phân bố dân cư không đồng đều giữa các vùng lãnh thổ gây ảnh hưởng không nhỏ tới việc xây dựng các công trình hạ tầng về giao thông, điện, nước, thủy lợi, trường học, trạm y

tế v.v phục vụ sản xuất và dân sinh ở những vùng có địa hình núi cao, chia cắt, thưa dân

Trang 10

2 Nguồn nhân lực Theo báo cáo thống kê năm 2007, toàn tỉnh có 349.139

người trong độ tuổi lao động, chiếm khoảng 55,3% dân số, bình quân mỗi năm tăng thêm khoảng 4.000-5.000 người Đội ngũ lao động được đào tạo, có chuyên môn kỹ thuật của tỉnh còn hạn chế Số người đạt trình độ từ sơ cấp, có chứng chỉ nghề trở lên chiếm 29,3% (trong đó cao đẳng, đại học trở lên chiếm 6,4%; trung học chuyên nghiệp 6,2%; công nhân kỹ thuật có bằng 1,3%, công nhân kỹ thuật không bằng 12,5%, sơ cấp/chứng chỉ nghề 2,9%) Còn lại phần lớn là lao động không có chuyên môn kỹ thuật chiếm 70,7% Trong cơ cấu lao động theo ngành, phần lớn lao động trên địa bàn tỉnh làm việc trong các ngành nông, lâm, thủy hải sản, chiếm tỷ lệ tương đối cao, khoảng 60-62%; lao động tham gia trong các lĩnh vực công nghiệp-xây dựng và dịch vụ có xu hướng chiếm tỉ trọng ngày càng tăng trong cơ cấu lao động xã hội

3 Truyền thống văn hóa Nhân dân Quảng Trị có truyền thống cần cù, chịu

khó, hiếu học; luôn sáng tạo trong lao động sản xuất và có tình tương thân, tương

ái, giúp nhau trong đời sống, nhất là khi thiên tai, dịch bệnh, trong xóa đói, giảm nghèo Trải qua những giai đoạn khốc liệt của các cuộc chiến tranh, người dân Quảng Trị vẫn bất khuất, kiên trung vượt qua gian khó vươn lên Quảng Trị còn là vùng đất lịch sử nổi tiếng, có truyền thống yêu nước, cách mạng, sản sinh những người con kiệt xuất cho đất nước, tiêu biểu là Tổng bí thư Lê Duẩn Qua các thời

kỳ phát triển, Quảng Trị đã có nhiều danh nhân đạt được những danh hiệu cao quý v.v

Cộng đồng các dân tộc tỉnh Quảng Trị gồm 3 dân tộc chính: Kinh, Vân Kiều, Pa Cô Tỉ lệ dân tộc thiểu số chiếm khoảng 9% tổng dân số Mỗi dân tộc đều

có lịch sử lâu đời và có truyền thống văn hóa phong phú, đặc sắc, đặc biệt là văn hóa dân gian Đồng bào các dân tộc thiểu số Vân Kiều và Pa Cô sinh sống chủ yếu

ở các huyện miền núi phía Tây của tỉnh như Hướng Hóa, Đăkrông Các dân tộc anh em trên đất Quảng Trị đã đoàn kết, kiên cường đấu tranh trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, có những đóng góp to lớn cho thắng lợi của dân tộc và ngày nay đang chung sức đồng lòng, giúp đỡ lẫn nhau trong lao động sản xuất, xây dựng quê hương đất nước

Nhìn chung, dân số và nguồn nhân lực của tỉnh Quảng Trị dồi dào; có nền văn hóa đa dạng và giàu truyền thống quý báu Tuy nhiên vấn đề dân cư và lao động của tỉnh vẫn còn những hạn chế, bất cập như dân cư phân bố không đều trên các địa bàn lãnh thổ, trình độ dân trí còn thấp nhất là vùng sâu, vùng xa, trình độ chuyên môn, kỹ thuật còn hạn chế, thiếu đội ngũ lao động có chất lượng cao, chuyên gia giỏi, có kỹ năng tay nghề v.v Do đó vấn đề nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, phát huy yếu tố nội lực con người là nhiệm vụ cấp bách trước mắt cũng như chiến lược lâu dài của tỉnh nhằm đáp ứng kịp yêu cầu phát triển kinh tế -xã hội và hội nhập quốc tế

Phần thứ hai đánh giá quá trình phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Quảng Trị giai đoạn 1998-2007

Trang 11

I- đánh giá chung về thành tựu phát triển kinh tế

Những năm qua, cùng với xu thế chung đổi mới và mở cửa của cả nước, sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Quảng Trị đã đạt được những thành tựu đáng

kể trên mọi lĩnh vực: qui mô nền kinh tế không ngừng được mở rộng, cơ cấu kinh

tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ, cơ sở hạ tầng được cải thiện đáng kể, các lĩnh vực văn hóa xã hội và đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân từng bước được nâng cao Nền kinh tế tỉnh đang từng bước phát huy các thế mạnh về phát triển thương mại, dịch vụ, du lịch; công nghiệp chế biến nông sản, thuỷ điện, khai khoáng; trồng cây công nghiệp dài ngày; trồng rừng nguyên liệu; khai thác và nuôi trồng thủy sản; mở rộng giao lưu kinh tế với trong nước và nước ngoài v.v Tiềm lực kinh tế được củng cố và phát triển, đang tạo những nền tảng cơ bản cho giai đoạn phát triển tiếp theo

1 Tăng trưởng kinh tế (tính theo GDP- giá SS 1994)

- Thời kỳ 1996-2000 Tăng trưởng kinh tế chung toàn nền kinh tế đạt bình

quân 8,6%/năm, trong đó công nghiệp- xây dựng tăng 17,3%/năm, khu vực nông nghiệp tăng 8,6%/năm, dịch vụ tăng 6,2% Năm 2000, tổng GDP toàn tỉnh (giá SS 1994) đạt 1.195,7 tỉ đồng, GDP bình quân đầu người (giá hiện hành) năm 2000 đạt 2,857 triệu đồng

Qui mô và nhịp độ tăng trưởng kinh tế

Thực hiện

Mục tiêu RSQH

Trang 12

* Tính bình quân cho các thời kỳ 1996-2000; 2001-2005 và 2007/2006

- Thời kỳ 2001-2005 Tăng trưởng kinh tế chung đạt bình quân 8,7%, trong

đó công nghiệp- xây dựng tăng 21,7%, khu vực nông nghiệp tăng 4,7%, dịch vụ tăng 6,8% Năm 2005, tổng GDP toàn tỉnh (giá SS 1994) đạt 1.812 tỉ đồng, tăng 1,5 lần so 2000 GDP bình quân đầu người (giá hiện hành) năm 2005 đạt 5,165 triệu đồng, tăng 1,8 lần so năm 2000

- Năm 2007, tăng trưởng kinh tế chung đạt 11,2% so năm 2006, trong đó công nghiệp-xây dựng tăng 21,5%, nông lâm ngư nghiệp 4,8%, dịch vụ tăng 9,3% GDP bình quân đầu người đạt 7,647 triệu đồng

So với mục tiêu xác định trong Rà soát chỉnh quy hoạch thời kỳ 2001-2010

và kế hoạch 2001-2005 thì tỉnh đã đạt và vượt một số mục tiêu đề ra như tốc độ tăng trưởng công nghiệp nhanh, đạt 21,5%/năm (mục tiêu 12-13%), thu nhập GDP/người đạt 5,165 triệu đồng (QH 5,097 triệu) v.v Một số chỉ tiêu phát triển chưa đạt mục tiêu đề ra như tăng trưởng thời kỳ 2001-2005 đạt 8,7% (QH đề ra 9%), khu vực dịch vụ tăng chậm đạt 9,0% (QH 11,5%) Tuy nhiên đến năm 2007, một số chỉ tiêu trong một số ngành và lĩnh vực đã đạt và vượt kế hoạch như tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 22 vạn tấn; sản lượng thủy sản 20,7 nghìn tấn; tỉ lệ tăng dân số đạt 1,05%; tạo việc làm mới hàng năm 8.000 người; giảm tỉ lệ hộ nghèo xuống còn 19,8% theo chuẩn mới quốc gia; tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn 22,5% v.v Đây là những kết quả đáng khích lệ

Nhìn chung tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh trong những năm qua đạt mức khá cao, duy trì tương đối ổn định qua các thời kỳ Ngành công nghiệp-xây dựng tăng trưởng nhanh, đặc biệt những năm gần đây Kinh tế nông nghiệp vẫn duy trì được tăng trưởng khá ổn định (4,4-4,5%) Khu vực dịch vụ tăng khá, nhưng chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh

* Đánh giá chất lượng tăng trưởng các ngành kinh tế chủ yếu

Thời gian qua, tăng trưởng kinh tế của tỉnh tương đối ổn định qua các thời

kỳ (8,5% - 8,7%), năm 2007 tăng 11,2% Các ngành kinh tế đã chú trọng phát triển theo chiều sâu, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm

Trong sản xuất nông nghiệp đã hình thành các vùng sản xuất tập trung, chuyên canh hàng hóa như vùng lúa chất lượng cao, vùng cà phê, cao su, chăn nuôi trang trại; trồng rừng nguyên liệu đạt được những kết quả đáng kể, góp phần tăng

tỷ lệ che phủ rừng toàn tỉnh lên 43,6% (2007) Các giống cây trồng, vật nuôi mới,

kỹ thuật tiên tiến được khuyến khích áp dụng; năng suất, sản lượng nhiều loại cây trồng, vật nuôi không ngừng đạt đỉnh cao mới; đã xuất hiện nhiều mô hình sản xuất hiệu quả và được khuyến khích nhân rộng Các chương trình, dự án phát triển hạ tầng nông nghiệp, nông thôn đã góp phần tích cực vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế

và thay đổi bộ mặt nông thôn

Trang 13

Ngành công nghiệp đạt tốc độ tăng nhanh, một số khu công nghiệp được hình thành, đã thu hút nhiều dự án đầu tư phát triển, đặc biệt là đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có xu hướng tăng như các dự án của Công ty TNHH Cao su Camel Việt Nam, Công ty TNHH Chaichareon Việt Thái, Công ty TNHH Phương Nam, Công ty TNHH Sản xuất phụ tùng Liên Minh Á Châu Đã chú trọng đầu tư các dây chuyền công nghệ tiến tiến, hiện đại trong công nghiệp chế biến gỗ, cao su,

cà phê, khai thác đá, khoáng sản v.v Công nghiệp đang từng bước vươn lên tạo động lực phát triển cho nền kinh tế

Khu vực dịch vụ có bước phát triển tích cực, đặc biệt là du lịch đang trở thành ngành kinh tế quan trọng Nhiều dự án lớn phát triển du lịch được triển khai xây dựng như đường Hồ Chí Minh huyền thoại, đường Cửa Tùng-địa đạo Vịnh Mốc, trằm Trà Lộc, hạ tầng khu du lịch Cửa Việt Một số điểm du lịch được đưa vào khai thác bước đầu gây được sự chú ý của du khách như Hội chợ thương mại khu vực, Lễ hội, các tour du lịch chiến trường xưa v.v

Tuy nền kinh tế Quảng Trị duy trì được mức tăng trưởng ổn định nhưng nhìn chung vẫn đạt ở mức thấp so với tiềm năng và thấp hơn so với nhiều tỉnh trong khu vực miền Trung (cao hơn Hà tĩnh, Thanh Hóa và Ninh Thuận) Qui mô nền kinh tế còn nhỏ bé, thu nhập bình quân đầu người thấp Tăng trưởng kinh tế chủ yếu vẫn dựa vào các nhân tố phát triển theo chiều rộng, tập trung phát triển những sản phẩm truyền thống, công nghệ thấp, sử dụng nhiều lao động, chất lượng hạn chế, khả năng cạnh tranh kém Tài nguyên tự nhiên và nguồn lao động chưa được khai thác triệt để Các nguồn lực trong dân còn nhiều tiềm năng chưa được phát huy v.v

2 Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

- Về cơ cấu các ngành kinh tế Từng bước được chuyển dịch theo hướng tăng

dần tỷ trọng các ngành phi nông nghiệp và giảm tương đối các ngành nông nghiệp Ngành công nghiệp ngày càng đóng vai trò quan trọng, tăng tỉ trọng trong cơ cấu kinh tế Tỷ trọng công nghiệp-xây dựng tăng từ 9,0% năm 1995 lên 25,6% năm

2005, năm 2007 tăng lên 31,0%; nông, lâm, ngư nghiệp giảm từ 47,4% năm 1995 xuống 36,0% năm 2005, năm 2007 giảm xuống còn 32,0%; khu vực dịch vụ giảm

từ 43,6% năm 1995 xuống còn 38,4% năm 2005 và năm 2007 giảm xuống còn 37,0%

So với mục tiêu Rà soát quy hoạch và kế hoạch 2001-2005 thì quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế về cơ bản đạt được mục tiêu đề ra, đặc biệt tỷ trọng ngành công nghiệp -xây dựng tăng nhanh, chiếm 25,6% năm 2005 (QH 18,7%); tỷ trọng khu vực nông nghiệp giảm mạnh (thấp hơn so QH đề ra); khu vực dịch vụ mới đạt chưa đạt mục tiêu 38,4% (QH 43%) Nhìn chung cơ cấu kinh tế Quảng Trị

có bước chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng khu vực phi nông nghiệp, khu vực nông nghiệp giảm dần

Trang 14

- Cơ cấu nội bộ từng ngành: Trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, tỷ

trọng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp giảm từ 83,1% năm 2000 xuống còn 79,5% năm 2007, trong khi đó ngành thủy sản có xu hướng tăng từ 10,9% lên 15,7%; Trong sản xuất ngành công nghiệp, mặc dù giá trị sản xuất công nghiệp chế biến nông, lâm sản vẫn chiếm tỉ trọng lớn, nhưng các ngành công nghiệp năng lượng, khai khoáng mỏ có chiều hướng tăng tỉ trọng trong những năm gần đây Khối dịch vụ nói chung tăng chậm, tỉ trọng có xu hướng giảm, riêng doanh thu du lịch có tốc độ nhanh, đóng góp đáng kể cho GDP khối các ngành dịch vụ

- Cơ cấu thành phần kinh tế Có sự chuyển đổi theo hướng đa dạng hóa các thành phần; kinh tế ngoài quốc doanh chiếm tỉ trọng ngày càng lớn (73%), kinh tế

có vốn đầu tư nước ngoài có chiều hướng ngày càng tăng, tuy nhiên qui mô đầu tư nước ngoài còn nhỏ bé (1,2%) Đây là hạn chế lớn của tỉnh trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

(Theo GDP, giá hiện hành, đơn vị tính: %

Thực hiện

Mục tiêu RSQH

I Cơ cáu kinh tế ngành 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0

- Công nghiệp, xây dựng 9,0 15,1 25,6 18,7 31.0

- Nông, lâm, thuỷ sản 47,4 44,9 36,0 41,0 32.1

Trang 15

- Cơ cấu lao động Quá trình phát triển kinh tế đã tác động đến phân công lại

lao động xã hội và chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tích cực: tăng tỷ trọng lao động công nghiệp-xây dựng từ 8,8% năm 2000 lên 14,4% năm 2007; tỷ trọng lao động dịch vụ có xu hướng tăng nhanh, từ 21,4% lên 27,4%; tỉ trọng lao động nông, lâm có xu hướng giảm nhưng chưa mạnh nhưng vẫn chiếm tỷ trọng lớn (58,2% năm 2007)

3 Thu, chi ngân sách

- Thu ngân sách: Trong 5 năm 2001-2005, tổng thu ngân sách trên địa bàn

đạt 1.880 tỉ đồng, tăng bình quân 7,0%/năm Năm 2007 tổng thu ngân sách trên địa bàn (không kể trợ cấp từ Trung ương) đạt 556 tỉ đồng, trong đó thu nội địa 399 tỷ đồng, chiếm 71,8%; thu thuế xuất-nhập khẩu 157 tỷ đồng, chiếm 28,2%, vượt 8,75% so kế hoạch Trong thu ngân sách nội địa, thu từ kinh tế trung ương trên địa bàn chiếm 18,3%, từ kinh tế địa phương chiếm 81,7%; từ kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài còn rất nhỏ bé Thu trợ cấp ngân sách từ trung ương hàng năm rất lớn, năm 2007 là 1830 tỉ đồng Bình quân trong 5 năm nguồn trợ cấp từ Trung ương chiếm trên 70% tổng chi ngân sách của tỉnh

- Chi ngân sách: Tổng chi ngân sách trên địa bàn thời kỳ 2001 - 2005 đạt

16.801 tỷ đồng, tăng bình quân 7%/năm Năm 2007 tổng chi ngân sách đạt 2056 tỉ đồng, trong đó chủ yếu là chi thường xuyên, chiếm 42,4%, chi cho đầu tư phát triển còn thấp, chiếm 17,1%, song có xu hướng tăng lên Chi cho sự nghiệp giáo dục được quan tâm Tỉnh đã tích cực thực hiện tốt Luật Ngân sách; bố trí hợp lý các khoản chi, cơ cấu chi cơ bản đảm bảo đáp ứng các nhu cầu chi thường xuyên

và góp phần tích cực cho đầu tư phát triển, xóa đói giảm nghèo, thực hiện các chương trình, dự án, chính sách của tỉnh

- Hoạt động tài chính: Có những chuyển biến tích cực theo hướng đổi mới

công tác xây dựng dự toán ngân sách Đẩy mạnh phân cấp ngân sách cho huyện, thị xã và cấp xã, tạo sự chủ động cho cấp cơ sở khai thác nguồn thu từ nội lực nền kinh tế thông qua các chính sách thúc đẩy các thành phần kinh tế phát triển

Tuy nhiên tình hình thu chi ngân sách và hoạt động tài chính vẫn còn nhiều khó khăn, thu-chi ngân sách mất cân đối ảnh hưởng rất lớn đến tích luỹ nội bộ nền kinh tế và đầu tư phát triển Tỷ lệ huy động ngân sách từ GDP còn thấp, năm 2007 đạt 11,5%

4 Đầu tư phát triển

Tổng đầu tư xã hội thời kỳ 2001-2005 đạt 5.600 tỷ đồng, tăng gấp 2,9 lần so với thời kỳ 1996-2000, trong đó vốn đầu tư trong nước chiếm 83%, vốn nước ngoài chiếm 17% Năm 2007, tổng vốn đầu tư xã hội đạt 2.938 tỷ đồng, trong đó vốn khu vực kinh tế Nhà nước đầu tư 1.751 tỷ đồng, chiếm 59,6% (vốn ngân sách nhà nước chiếm 33,5%, vốn tự có của các doanh nghiệp nhà nước 5,0%, vốn vay 9,8%, v.v.) Vốn khu vực kinh tế ngoài Nhà nước chiếm 31,7% (vốn doanh nghiệp 13%, vốn dân cư 18,7%) Vốn khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 8,7%

Trang 16

Tỉnh đã tích cực xúc tiến, quảng bá đầu tư kêu gọi các nhà đầu tư từ các nước Thái Lan, Trung Quốc, Lào, từ các thành phố lớn, các doanh nghiệp trong nước vào các khu công nghiệp tập trung Nam Đông Hà và Khu KTTMĐB Lao Bảo Đến nay đã thu hút trên 60 dự án của các nhà đầu tư trong và ngoài tỉnh đăng

ký đầu tư với tổng số vốn đăng ký trên 3.000 tỉ đồng, trong đó đã thu hút được một

số dự án 100% vốn đầu tư nước ngoài với số vốn 37,5 triệu USD Tổng nguồn vốn ODA đã được cam kết đầu tư từ 2001-2005 là 65 triệu USD Tỉnh đã tranh thủ thu hút nguồn vốn NGO, đã có trên 30 tổ chức phi chính phủ và tổ chức quốc tế hỗ trợ với số vốn 32,5 triệu USD để thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo, khắc phục hậu quả chiến tranh, phòng tránh giảm nhẹ thiên tai v.v

Nhìn chung hoạt động đầu tư đã góp phần tăng năng lực sản xuất, tăng cường cơ sở hạ tầng, cải thiện các lĩnh vực xã hội Tuy nhiên do môi trường đầu tư của tỉnh chưa hấp dẫn nên chưa thu hút mạnh nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài như một số các địa phương khác trong nước

6 Tình hình xuất- nhập khẩu.

Thời gian qua, xuất nhập khẩu trên địa bàn tỉnh còn rất hạn chế Kim ngạch xuất khẩu nhỏ bé, năm 2005 đạt 12,3 triệu USD, năm 2007 đạt 26 triệu USD Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là nông, thuỷ sản như cà phê, cao su, lạc nhân, hạt tiêu, mực, tôm đông lạnh, khối lượng ít, khả năng cạnh tranh yếu, chưa tạo được các mặt hàng mới Thị trường chưa được mở rộng, chưa tạo được thương hiệu v.v Kim ngạch nhập khẩu năm 2005 đạt 33 triệu USD, năm 2007 tăng lên 43 triệu USD, chủ yếu nhập hàng hóa tiêu dùng và nguyên, nhiên, vật tư phục vụ sản xuất, nhập các thiết bị máy móc còn hạn chế

7 Vị trí tỉnh Quảng Trị trong cả nước và vùng Bắc Trung Bộ.

Quảng Trị là tỉnh nằm ở vị trí trung điểm của đất nước, có nhiều thuận lợi về

vị trí địa lý-kinh tế, có nhiều tuyến đường quan trọng chạy qua như quốc lộ 1A, đường sắt Bắc-Nam, đặc biệt là quốc lộ 9 (Hành lang Đông-Tây); có tiềm năng đất bazan lớn so với các tỉnh vùng, có tiềm năng phát triển thủy điện nhỏ, thương mại, dịch vụ, du lịch v.v Thời gian qua, kinh tế Quảng Trị có bước tăng trưởng khá, đạt 8,7%/năm thời kỳ 2001-2005, cao hơn mức bình quân chung cả nước (7,5%), riêng năm 2007 đạt 11,2%

So sánh tỉnh Quảng Trị trong vùng Bắc Trung Bộ và các tỉnh lân cận

Trang 17

Số liệu so sánh năm 2005(1) Số liệu

Chỉ tiêu

Đơn vị tính

Quảng Trị

Huế

TT-Q

Bình

Hà Tĩnh

vùng Bắc TB

Thứ tự trong vùng 2)

Quảng Trị năm 2007

ĐB

Tỉ đ 483 1.078 481 478 5.520 4 555,5

5 Vốn đầu tư xã hội Tỷ đ 1.634 3496 3.063 2.274 10.467 6 2338

6 Giá trị xuất khẩu USDTr 12.7 57.0 28.7 40.3 154 6 267.Tỉ lệ hộ nghèo (TC

Trang 18

Số liệu so sánh năm 2005(1) Số liệu

Chỉ tiêu

Đơn vị tính

Quảng Trị

Huế

TT-Q

Bình

Hà Tĩnh

vùng Bắc TB

Thứ tự trong vùng 2)

Quảng Trị năm 2007

- Sản lượng thủy hải

sản

Ngh.tấ

n 16,8 28,5 31,1

32,0 246,6 6 19.941

Trang 19

(1) Báo cáo thực hiện kê hoạch của các tỉnh; (2) Xếp thứ hạng từ cao xuống thấp

Một số ngành, lĩnh vực trên địa bàn tỉnh mang ý nghĩa quốc gia được định hướng phát triển mạnh như khai thác Hành lang Đông-Tây, Khu KTTMĐB Lao Bảo Quảng Trị đã có những đóng góp trong một số lĩnh vực hoạt động thương mại, du lịch, văn hóa; mở rộng giao lưu hợp tác với Lào và các nước trong Khu vực v.v Một số sản phẩm nông nghiệp có tên cùng với danh sách các tỉnh như cà phê chiếm 0,8% diện tích, 0,84% sản lượng; cao su chiếm 2,4% về diện tích và 1,54% về sản lượng so cả nước

Tuy nhiên so với mức bình quân chung cả nước, Quảng Trị có một số ngành

và lĩnh vực đạt mức phát triển thấp: GDP/người chỉ đạt bằng 60% mức bình quân

cả nước; chuyển dịch cơ cấu chậm; kim ngạch xuất khẩu nhỏ bé; tỉ lệ hộ nghèo còn cao 28,5% (cả nước 19,5%) v.v

So với vùng Bắc Trung Bộ, tăng trưởng kinh tế của Quảng Trị mới đạt ở mức trung bình so với một số tỉnh trong vùng Cơ cấu kinh tế của tỉnh chuyển dịch chậm, tỷ trọng công nghiệp-xây dựng vẫn còn thấp (thứ 5), khu vực dịch vụ chiếm

tỷ trọng khá hơn, đứng thứ 2 (sau Thừa Thiên Huế) Thu nhập GDP/người của tỉnh đứng thứ 4 trong vùng(cao hơn Hà Tĩnh, Thanh Hóa) Quảng Trị có một số sản phẩm nông sản có lợi thế so sánh trong vùng như sản lượng cà phê, cao su (đứng thứ nhất), chiếm phần lớn sản lượng toàn vùng, đặc biệt cà phê là cây trồng có thế mạnh tuyệt đối, hầu hết các tỉnh trong vùng Bắc Trung Bộ không có (Thừa Thiên Huế có một số ít diện tích)

Một số chỉ tiêu phát triển xã hội của tỉnh đạt nhiều tiến bộ: tỷ lệ hộ nghèo, giải quyết nước sạch nông thôn, tỷ lệ phổ cập trung học cơ sở đứng thứ 3 trong vùng; tỷ lệ lao động được đào tạo đứng thứ 4 Một số chỉ tiêu về xuất khẩu, thu hút vốn đầu tư phát triển, thu ngân sách của tỉnh đạt mức thấp so với các tỉnh khác trong vùng, đặc biệt là kim ngạch xuất khẩu còn rất nhỏ bé

II Thực trạng phát triển các ngành và lĩnh vực

1 Phát triển nông, lâm, ngư nghiệp và kinh tế nông thôn

Tăng trưởng giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp thời kỳ 2001-2005 đạt 7,9%/năm, trong đó nông nghiệp đạt 6,0%, lâm nghiệp đạt 8,3%; thủy sản tăng trưởng khá đạt 19,1%/năm Năm 2007 tổng giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp (giá CĐ 1994) đạt 1.495 tỷ đồng, tăng 5,65% so năm 2006, nông nghịêp tăng 4,63%, thuỷ sản tăng 9,6%, lâm nghiệp tăng 3,4%

Trong cơ cấu nông, lâm, ngư nghiệp, nông nghiệp vẫn chiếm tỉ trọng lớn, khoảng 78-79%; ngành thuỷ sản có xu hướng tăng từ 13,9% năm 2000 lên 15,7% năm 2007

1.1 Nông nghiệp

Trang 20

a) Trồng trọt Là ngành sản xuất then chốt của nông nghiệp, giá trị sản xuất

thời kỳ 2001-2005 tăng bình quân 6,2%/năm Năm 2007, giá trị sản xuất ngành trồng trọt (giá CĐ 1994) đạt 1.133 tỉ đồng, chiếm 70,5% trong cơ cấu nông nghiệp Trồng trọt phát triển theo hướng vừa đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi, vừa thâm canh tăng năng suất Năm 2007, tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 220 nghìn tấn, trong đó sản lượng thóc đạt 213,4 nghìn tấn, lương thực có hạt bình quân đầu người đạt 349 kg/người Diện tích cây công nghiệp dài ngày đều có xu hướng tăng: cao su 13.240 ha, sản lượng 11.943 tấn; cà phê 4.162 ha, sản lượng 6.132 tấn; hồ tiêu 2.135 ha, sản lượng 1743 tấn v.v

Một số vùng sản xuất chuyên canh tập trung đã và đang hình thành và phát triển ngày càng rõ nét như vùng lúa tập trung ở các huyện Triệu Phong, Hải Lăng, Vĩnh Linh khoảng 9.000 ha; vùng sắn nguyên liệu ở Hướng Hóa và các huyện trong tỉnh với diện tích 8.500 ha; vùng cao su trồng tập trung, cao su tiểu điền và vùng hồ tiêu tập trung ở các huyện Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ; cà phê ở huyện Hướng Hóa; vùng rau đậu thực phẩm trên vùng cát ven biển

Đã có nhiều mô hình kinh tế trang trại, kinh tế hộ gia đình hoạt động có hiệu quả Việc dồn điền đổi thửa ở nhiều địa phương đang thực hiện bước đầu tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp với qui mô tập trung Nhiều ngành nghề nông thôn được khôi phục, phát triển góp phần tạo thêm nhiều việc làm và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn

b) Chăn nuôi Ngành chăn nuôi phát triển tương đối ổn định nhưng tăng

trưởng không cao, giá trị sản xuất đạt bình quân 4,9%/năm thời kỳ 2001-2005 Tỉ trọng chăn nuôi trong cơ cấu nông nghiệp chiếm 24-25% Do dịch bệnh, thiên tai

và giá cả đầu vào tăng cao nên việc đầu tư phát triển chăn nuôi giai đoạn

2006-2008 gặp nhiều khó khăn Riêng năm 2007, tốc độ tăng giá trị sản xuất ngành chăn nuôi đạt 9,97%; tỷ trọng chăn nuôi (giá HH) trong cơ cấu nông nghiệp giảm xuống còn 22,3% Tuy nhiên, chăn nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa đang có chiều hướng phát triển Các tiến bộ về giống được đẩy mạnh đã góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm

Năm 2007, đàn trâu có 39,7 nghìn con, đàn bò 77,5 nghìn con, đàn lợn 236,7 nghìn con, đàn gia cầm 1.299 nghìn con Sản lượng thịt hơi các loại đạt 22,6 nghìn tấn Đã hình thành một số mô hình chăn nuôi trang trại, chăn nuôi theo phương thức công nghiệp tiên tiến có qui mô lớn Tuy chăn nuôi có bước phát triển khá nhưng, sản xuất còn phân tán, qui mô còn nhỏ bé, đầu ra chưa ổn định, dịch bệnh luôn tiềm ẩn

1.2 Lâm nghiệp

Trang 21

Giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp tăng bình quân 8,0% thời kỳ 2001-2005 Riêng năm 2007 đạt 88,2 tỉ đồng, tăng 3,4% so năm 2006 Công tác trồng rừng được chú trọng, diện tích rừng trồng tiếp tục được mở rộng Mỗi năm trồng mới khoảng 4.000-5.000 ha rừng tập trung, nâng độ che phủ rừng lên 45,01% năm

2007 (đạt và vượt chỉ tiêu NQ Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XIV đề ra là 43-44% vào năm 2010) Sản lượng gỗ khai thác từ rừng tự nhiên hạn chế dần qua các năm Đến năm 2006 đã thực hiện đóng cửa rừng tự nhiên nhằm phục hồi lại diện tích và chất lượng rừng tự nhiên hiện có Sản lượng gỗ rừng trồng tăng qua các năm, từ 35.000-40.000 m3/năm, năm 2007 đạt 49,3 nghìn m3 Đã hình thành vùng rừng nguyên liệu ở các huyện Cam Lộ, Gio Linh, Vĩnh Linh v.v cung cấp nguồn nguyên liệu cho công nghiệp gỗ ván nhân tạo (MDF) Trồng rừng phòng hộ có bước chuyển biến tích cực, bước đầu đảm bảo được nhu cầu phòng hộ đầu nguồn các sông, các hồ chứa, công trình thủy lợi, vùng cát ven biển, cải tạo môi trường khí hậu v.v Khâu bảo vệ, chăm sóc, tu bổ rừng đang từng bước được đẩy mạnh Công tác trồng cây phân tán cũng được mở rộng Tích cực thực hiện công tác xã hội hóa nghề rừng Tiếp tục triển khai công tác giao rừng, giao đất gắn trồng rừng, khoán quản lý bảo vệ rừng cho các hộ sản xuất lâm nghiệp Lâm nghiệp đã góp phần tích cực trong việc bố trí lại dân cư, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, tạo điều kiện cho nông dân phát triển kinh tế

1.3 Thuỷ hải sản

Những năm gần đây ngành thủy hải sản được khuyến khích phát triển mạnh Giá trị sản xuất ngành thuỷ sản thời kỳ 2001-2005 tăng bình quân 19,1%/năm, riêng năm 2007 tăng 9,6% Ngành thủy sản có xu hướng tăng dần tỷ trọng trong cơ cấu nông, lâm, ngư nghiệp (từ 13,9% năm 2000 lên 15,7,% năm 2007) Tổng sản lượng thủy hải sản năm 2007 đạt 20.708 tấn, trong đó sản lượng khai thác 16.169 tấn, sản lượng nuôi trồng 4.540 tấn

- Đánh bắt xa bờ phát triển chưa mạnh, đang gặp khó khăn về kỹ thuật và kinh nghiệm Tàu thuyền nghề cá trong tỉnh công suất nhỏ dưới 20CV chiếm 75%, hoạt động đánh bắt chủ yếu vùng ven bờ nên năng suất, chất lượng sản phẩm thấp Phần lớn ngư dân thiếu vốn để nâng cấp, sửa chữa tàu thuyền, trang bị lưới, dụng

cụ nghề Tổng công suất tàu thuyền giảm từ 38.063 CV năm 2000 còn khoảng 30.122 CV năm 2005 do số lượng tàu thuyền có công suất nhỏ giảm Quảng Trị có

3 cảng cá lớn là Cửa Việt, Cửa Tùng và đảo Cồn Cỏ, đáp ứng được nhu cầu neo đậu, bốc dỡ của tàu thuyền trong tỉnh và các địa phương khác qua đây

- Nuôi trồng thủy sản đang được chú trọng phát triển nhằm phát huy lợi thế

về biển, sông, hồ và đạt được những bước chuyển biến tích cực so với thời kỳ trước Diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản phát triển nhanh, năm 2007 đạt 2.507 ha (tăng 1576 ha so năm 2000), trong đó nuôi tôm và cua xanh khoảng 801

ha Diện tích nuôi nước ngọt ở sông, ao hồ tự nhiên, ao hồ đào tiếp tục được mở rộng đạt 1708 ha năm 2007 (tăng 1013 ha so năm 2000) Hiện nay tỉnh có 5 trại giống tôm, đáp ứng được 50% nhu cầu tôm giống cho sản xuất, số lượng giống còn thiếu phải nhập từ các tỉnh lân cận

Ngày đăng: 26/08/2013, 09:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w