sang kien kinh nghiem chinh ta lop 1 là một sáng kiến kinh nghiệm hay , hoàn thiện đầy đủ các mục, sang kien kinh nghiem chinh ta lop 1 là một sáng kiến kinh nghiệm hay , hoàn thiện đầy đủ các mục, sang kien kinh nghiem chinh ta lop 1 là một sáng kiến kinh nghiệm hay , hoàn thiện đầy đủ các mục, sang kien kinh nghiem chinh ta lop 1 là một sáng kiến kinh nghiệm hay , hoàn thiện đầy đủ các mục,
Trang 1PHÒNG GD & ĐT ……
TRƯỜNG TIỂU HỌC
- -SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“Giúp học sinh lớp 1viết đúng chính tả”.
Lĩnh vực/Môn: Tiếng Việt Người thực hiện:
Chức vụ: Giáo viên
Trang 2
Năm học: 2017 - 2018
PHẦN MỞ ĐẦU
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Chính tả là một trong những phân môn Tiếng Việt ở tiểu học Phân môn Chính
tả trong nhà trường giúp học sinh hình thành thói quen viết đúng chính tả Đây làphân môn mang đậm dấu ấn truyền thống của việc dạy và học Tiếng Việt Vì tôi đãtìm hiểu và nhận thấy những điểm mới, điểm nổi trội trong nội dung và phươngpháp dạy học phân môn này để có những cách tiếp cận và chuyển tải phù hợp hơnđến các đối tượng học sinh, nhằm đạt được hiệu quả tốt trong việc hình hành kĩnăng nghe – viết cho cơ cấu chương trình môn Tiếng Việt nói riêng, các môn học ởtrường phổ thông nói chung
Muốn đọc thông viết thạo, học sinh phải được học phân môn chính tả Chính
tả là phân môn có tính chất công cụ Nó có vị trí quan trọng trong giai đoạn học tậpđầu tiên của học sinh Nó cũng có ý nghĩa quan trọng đối với việc học tập TiếngViệt Ngoài ra, phân môn Chính tả còn rèn luyện cho học sinh một số phẩm chấtnhư: Tính cẩn thận, óc thẩm mĩ, bồi dưỡng cho học sinh lòng yêu quý Tiếng Việt
và chữ Tiếng Việt
Ở bậc tiểu học, phân môn Chính tả có vị trí vô cùng quan trọng Vì học sinhLớp 1 là giai đoạn đầu cấp và cũng là giai đoạn then chốt trong quá trình hìnhthành khả năng chính tả cho học sinh Không phải ngẫu nhiên mà ở bậc tiểu họchọc chính tả còn được bố trí thành một phân môn độc lập (thuộc môn Tiếng Việt)
có tiết dạy riêng Giống như các phân môn khác, tính nổi bật của môn Chính tả làtính thực hành, chỉ có thể hình thành các kỹ năng, kỹ xảo cho học sinh thông quaviệc thực hành và luyện tập
Đối với học sinh Lớp 1 khi học phân môn Chính tả sẽ gặp những khó khănnhất định Vì các em là lứa tuổi đầu tiên phải làm quen với môn học này một cáchmới lạ, bỡ ngỡ Nó đòi hỏi các em phải có trí tư duy về nhiều mặt đối với nhữngbài chính tả nghe/ viết vừa phải nghe bằng tai và viết thành chữ cho đúng nên mỗikhi dạy tiết này tôi đều phải đầu tư, chuẩn bị tranh ảnh, đồ dùng phù hợp để vụ chotiết dạy không còn khô khan Điều mà tôi băn khoăn lo lắng là làm thế nào để tiếtdạy không còn nhàm chán giữa thầy, trò để đạt kết quả cao
Trang 3Nhằm giúp học sinh từng bước làm quen và có kĩ năng viết đúng chính tả tạocho các em sự thích thú và chủ động, tích cực học tập ở phân môn Chính tả nên tôi
đã không ngần ngại chọn và thực hịên đề tài “Giúp học sinh lớp 1viết đúng chính
tả”.
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Phân môn Chính tả trong nhà trường có mục đích giúp học sinh nắm vữngcác quy tắc và hình thành kỹ năng chính tả, nói cách khác, giúp học sinh hình thànhnăng lực và thói quen viết đúng chính tả Ngoài ra còn rèn cho học sinh lòng yêuquý Tiếng Việt
Về chương trình dạy chính tả bắt đầu ở tuần 25, mỗi tuần có hai tiết tậpchép Học sinh nhìn lên bảng, nhìn sách giáo khoa để chép lại bài theo cỡ chữ nhỏ,kết hợp nghe giáo viên đọc từng tiếng – mỗi bài viết từ 20 đến 30 chữ trong thờigian từ 10 đến 15 phút Ở tuần 31, 33, 35, mỗi tuần có một tiết chính tả (tập chép)
và một tiết chính tả (nghe/viết) yêu cầu: Viết đều nét, rõ ràng, thẳng dòng, đúngchính tả
Mục đích dạy phân môn Chính tả là hình thành cho học sinh năng lực viếtthành thạo, thuần thục chữ viết theo các “chuẩn chính tả” nghĩa là giúp học sinhhình thành kỹ xảo chính tả và luôn viết đúng chính tả
Phân môn chính tả nhằm ba mục đích, với mức độ như sau:
1/ Rèn kỹ năng nghe, viết đúng chính tả với các chỉ tiêu cần đạt: Viết đúngmẫu, đúng chính tả, không mắc phải 5 lỗi mỗi bài tốc độ viết 1 – 2 chữ /1 phút
2/ Kết hợp việc luyện tập chính tả với việc rèn luyện cách phát âm, củng
cố nghĩa từ, trau dồi kiến thức cơ bản về ngữ pháp Tiếng Việt, góp phần phát triểnthao tác tư duy: Nhận xét, so sánh, liên tưởng, ghi nhớ
3/ Bồi dưỡng một số đức tính và thái độ cần thiết trong công việc như:Cẩn thận, chính xác, khiếu thẩm mĩ, lòng tự trọng và tinh thần trách nhiệm
Mỗi tuần có 2 bài chính tả, mỗi bài học trong 1 tiết ở chương trình học kỳ
II bắt đầu từ tuần 25 với tổng số bài chính tả mà học sinh được học là 26 bài (cảcác bài ôn tập – kiểm tra) Hình thức chủ yếu là tập chép, có xen kẽ thêm hình thứcchính tả nghe/viết Mỗi bài chính tả tăng dần độ dài Kết hợp trong bài chính tả chohọc sinh làm các bài tập về các từ dễ viết sai chính tả theo quy tắc như: Luyện viết
các vần khó, các chữ bắt đầu bằng g/gh; ng/ngh; c/k/q,…Tập ghi các dấu câu (dấu
chấm, dấu chấm hỏi) Tập trình bày một bài chính tả ngắn
Trang 4Trên cơ sở đó, phân môn chính tả còn giải quyết vấn đề dạy cho học sinhbiết chữ để học, dùng chữ để học các môn học khác và để sử dụng trong giao tiếp.Chính tả trước hết là môn học có tính chất thực hành Nói cách khác, chính tả lànhững quy ước của xã hội trong ngôn ngữ Mục đích chính tả là làm phương tiệntruyền đạt thông tin bằng chữ viết, bảo đảm cho người viết và người đọc đều đượchiểu nội dung văn bản Chính tả trước hết là sự quy định có tính chất xã hội, nókhông cho phép vận dụng quy tắc một cách linh hoạt, có tính chất sáng tạo cá nhân.
Phân môn Chính tả còn có nhiệm vụ: Phối hợp với Tập Viết, tiếp tục củng
cố và hoàn thiện tri thức cơ bản về hệ thống chữ viết và hệ thống ngữ âm tiếng việt.Phân môn Chính tả dạy cho học sinh hệ thống chữ cái, mối liên hệ âm – chữ cái –cấu tạo và cách viết chữ Cung cấp tri thức cơ bản về hệ thống quy tắc chuẩn, thốngnhất chính tả Tiếng Việt là liên kết và khu biệt khi viết chữ, các quy tắc nhận biết
và thể hiện chức năng của chữ viết … Rèn luyện thuần thục kĩ năng viết, đọc, hiểuchữ viết Tiếng Việt
Trong tiếng việt có 14 nguyên âm làm âm chính, trong đó có 11 nguyên âmđơn: a, ă, â, e, ê, i (y), o, ô,ơ, u, ư và 3 nguyên âm đôi: ia (ya, iê, yê); ua (uô); ưa(ươ)
Vị trí của âm chính trong âm tiết được xác định như sau :
Thanh điệu
Khi viết các dấu ghi thanh ( `, ?, ~, /, ) được đánh lên trên hoặc dưới âmchính
Các nguyên âm đơn có đặc điểm không thay đổi cách viết ở trong các từkhác nhau (trừ trường hợp i có khi viết y)
i : viết ngay sau âm đầu: bi, mĩ, kính,…
y : viết sau âm đệm: quy, quỳnh,…
Khi đứng một mình viết i đối với từ thuần việt: ầm ĩ,…Viết y đối với từHán việt: y tá, ý kiến …
Các nguyên âm đôi có cách viết khác nhau, tuỳ vào cấu tạo của
âm tiết:
ia Không có âm đệm và âm cuối bìa, tía
iê Không có âm đệm và âm cuối Liên, tiến
Trang 5ya Có âm đệm, không có âm cuối Khuya
yê Có âm đệm và âm cuối(hoặc mở
đầu âm tiết không có âm đầu)
Xuyến, quyên, yên, yết,yêu…
Mặt khác, còn trang bị cho học sinh một công cụ quan trọng để học tập vàgiao tiếp (ghi chép, viết, đọc và hiểu bài, làm bài…) phát triển ngôn ngữ và tư duykhoa học cho học sinh Chính tả còn có quan hệ với chính âm, với tập viết và tậpđọc…Phân môn chính tả còn góp phần bồi dưỡng cho học sinh những tình cảm,phẩm chất tốt đẹp qua cách sử dụng ngôn ngữ: Tính khoa học, tính chính xác vàtính thẫm mĩ ở học sinh Mục đích của chính tả là rèn luyện khả năng: “Đọc thông,viết thạo” chủ yếu là viết đúng chuẩn mực chữ viết và dạng thức viết
Với tầm quan trọng của phân môn Chính tả như vậy Là một giáo viêndạy lớp 1 tôi thiết nghĩ phải rèn luyện và phát huy kỹ năng viết chính tả cho họcsinh ngay từ lớp 1 Từ đó làm nền tảng, là kiến thức cơ bản để các em học chính tả
III NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
Trang 6- Qua đề tài này, tôi muốn góp phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng dạy học môn
chính tả , để tìm ra phương pháp giúp giáo viên rèn luyện cho học sinh lớp 1 viếtđúng chính tả, qua đó từng bước nâng cao năng lực nghe – viết đúng, của mỗi họcsinh
- Tìm hiểu yêu cầu nhiệm vụ và thực trạng dạy học của phân môn Chính tả ở lớp1
IV ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
- Chương trình môn Tiếng Việt lớp 1
- Phương pháp dạy Tiếng Việt lớp 1.
V ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT, THỰC NGHIỆM:
- Học sinh lớp 1 - Trường Tiểu học
VI PHẠM VI VÀ KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU:
- Tôi nghiên cứu đề tài này từ tháng 10/2017 đến tháng 4 năm 2018 tại Trường Tiểuhọc
VII PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1 Nghiên cứu tài liệu: Đọc tài liệu và sách tham khảo
2 Khảo sát thực tế: - Dự giờ thăm lớp
1/ Phối hợp với gia đình, nhà trường giúp các em tiến bộ trong học tập:
Sau khi tổ chức dạy thực nghiệm tiết chính tả và có kết quả như bảng thống
kê trên tôi xin ý kiến Ban giám hiệu cho họp phụ huynh nhằm thông báo kết quảhọc tập của các em, khi các bậc phụ huynh nắm được tình hình học tập của con emmình qua phiếu liên lạc, tôi mong muốn các bậc phụ huynh hãy quan tâm, kiểm tra,giúp đỡ con em mình hơn nữa Đặc biệt là chương trình Tiếng việt ở học kỳ II cónhiều thay đổi, mức độ của chương trình được nâng cao, so với học kỳ I học sinhchỉ học âm, ghép vần nhưng học kỳ II các em được tiếp cận với nhiều phân mônnhư: Tập đọc, Chính tả, Tập viết, Kể chuyện, mỗi phân môn có những đặc thùriêng Mỗi tuần các em được học 2 tiết với hình thức chính tả tập chép và chính tảnghe/ viết
Trang 7Riêng phân môn Chính tả là phân môn hoàn toàn mới lạ đối với các em, khihọc bài chính tả nghe/viết học sinh phải vận dụng các kĩ năng nghe, viết, mà phảinắm được quy tắc chính tả mới viết chính xác bài viết …v.v…
Riêng những gia đình chưa đủ điều kiện quan tâm đến việc học của con em,nên các em lơ là việc học, tôi trao đổi riêng sau giờ họp nêu rõ lực họcvà khả nănghọc chính tả của các em, ngoài giờ học trên lớp thì sự hỗ trợ của phụ huynh ở nhà
là vô cùng quan trọng Tôitha thiết mong được sự hỗ trợ đắc lực của phụ huynh đểcùng với giáo viên, nhà trường giúp các em học tập tốt
Sau cuộc họp, tất cả phụ huynh đã đồng ý với đề nghị mà tôi đã đưa ra
2/ Phân loại trình độ và sắp xếp chỗ ngồi:
Học lực của từng em đã được thể hiện rõ, tôi tiến hành xếp lại chỗ ngồi chohọc sinh Mỗi tổ xếp xen kẽ theo học lực: giỏi, khá, trung bình, yếu và xen kẽ các
em theo nhóm đã phân loại được như bảng thống kê trên nhằm thực hiện phương
châm: “Học thầy không tày học bạn”
Tôi hy vọng với cách sắp xếp như vậy ngoài các kiến thức cơ bản, hệ thốngđược học ở giáo viên, trẻ còn có thể hỗ trợ lẫn nhau trong học tập Sự hỗ trợ giữacác học sinh giúp các em tự tin vào khả năng của bản thân và tự rút kinh nghiệm vềcách học của chính mình
3/ Đối với giáo viên:
Nắm vững nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy Giọng đọc phải
rõ ràng, chuẩn theo tiếng phổ thông Giáo viên phải đầu tư cho tiết dạy, chuẩn bịtranh ảnh (vật thật), phục vụ cho tiết dạy và phần bài tập…) sao cho một tiết dạychính tả không còn nhàm chán, nặng nề đối với các em nữa
Uốn nắn cách phát âm của học sinh, các em thường có thói quen nói sao viếtvậy, đặc biệt là các em ở miền Nam
Ví dụ: khỏe khoắn viết là phẻ phắn, bơi lội viết là bê lội…
Theo phân phối chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt (Lớp 1) Ngoài họcphần học âm, học vần, tập đọc, tập viết các em còn phải làm quen một phân mônnữa đó là Chính tả Đây là một phân môn mới mẻ đối với học sinh đầu cấp nên đòihỏi gidáo viên phải biết đưa ra những biện pháp khéo léo và phù hợp với đối tượnghọc sinh và làm sao cho tiết dạy không mất thời gian và giúp các em có hứng thú ởmôn học này
Trang 8- Về cơ bản nói chung phần lớn học sinh viết chính tả đúng hiện nay đều dựavào nhớ từng từ một Theo cách này học sinh chỉ cần tập trung nhớ mặt chữ củanhững từ dễ viết sai, nắm vững một số nguyên tắc cơ bản thì việc viết một đoạnvăn ngắn đối với các em sẽ không gặp khó khăn.
4/ Giúp học sinh nắm vững quy tắc chính tả:
Học sinh phải nắm âm đứng cuối vần, cuối âm tiết trong Tiếng Việt có cácphụ âm cuối: p, t, m, n, ng (nh), ch và 2 bán nguyên âm i (y); u (o)
Ví dụ: tắt, xắp, chắc, bám, bán, ngang, cách, tai, tay, tàu,
Những âm tiết có âm cuối là p, t, c chỉ có 2 thanh điệu (/ và )
Ngoài các âm trên, ở ví trí cuối âm Tiếng Việt không có một âm nào khác.Đây là một trong những đặc điểm riêng của cấu trúc âm tiết Tiếng Việt
Muốn đạt được những điểm trên đòi hỏi người giáo viên phải biết hướng dẫnhọc sinh chuẩn bị trước bài và đọc thông, viết thạo bài chính tả sẽ viết, nắm đượcnội dung chính tả của bài, nhận xét những hiện tượng chính tả hoặc cách trình bàymột văn bản Mặt khác, học sinh phát âm chuẩn xác giữa cách đọc và cách viếtphải thống nhất với nhau Điều mà giáo viên cần chú trọng ở đây là làm sao chohọc sinh của mình không mắc sai nhiều lỗi chính tả khi viết, gặp phải nhiều tiếng
có vần khó làm ảnh hưởng đến thói quen của các em
Ví dụ: tàu thủy thì viết tàu thỉ, ngoằn ngoèo thì viết ngoằn ngoè,…
Phân môn Chính tả Lớp 1 nói về hình thức các em chỉ học kiểu bài tập chép(nhìn viết) là hình thức chủ yếu Ở kiểu bài này, giáo viên phải đọc cả bài viết chohọc sinh nghe trước khi viết Giáo viên viết theo mẫu chữ hiện hành trên bảng lớp
rõ ràng Hình thức tập chép đòi hỏi học sinh chuyển từ hình ảnh thị giác (nhìn bảngviết) thành hành động tái tạo lại dạng thức viết Tập chép là hình thức lặp đi, lặp lạinhiều lần dạng thức viết của các chữ cái các từ trong văn bản Do đó, tập chép vừagiúp học sinh củng cố kỹ năng viết các chữ cái, định hình dạng thức các đơn vịngôn ngữ, vừa có tác dụng hoàn thiện kỹ năng đọc Ngoài ra, giáo viên còn cho họcsinh luyện viết đúng chữ cái ở các vị trí có phụ âm đầu hoặc vần và thanh dễ nhầmlẫn
Nói về dấu thanh gồm 5 thanh đệm (trừ thanh 1 – thanh ngang không có dấughi), thanh 2 – dấu huyền (`), thanh 3 – dấu ngã (~), thanh 4 – dấu hỏi (?), thanh 5– dấu sắc(/), thanh 6 – dấu nặng (.)
Trang 9Nếu âm chính ghi bằng hai chữ nguyên âm đôi: ia, ya, ie, ua, uô, ưa, ươ thì dấu ghithanh thường ghi bằng 2 cách:
+ Các âm chính viết ia, ya, ua, ươ ghi dấu thanh trên chữcái đầu:
Ví dụ: mía, múa, sữa, …
+ Các âm chính viết ie, yê, uô, ươ ghi dấu thanh trên chữcái sau:
Ví dụ: tiết, thuyền, buổi, …
Điều mà giáo viên cần lưu ý là khi giáo viên đang đọc văn bản của bài viếtthì giáo viên phải hết sức tập trung quan sát và phát hiện kịp thời hiện tượng họcsinh vội vã ghi lại lời giáo viên đọc Kinh nghiệm cho rằng, ở học sinh cấp 1 với sựvội vã như vậy sẽ không đạt được kết quả tốt Chính vì thế đòi hỏi giáo viên khôngchỉ dạy mà còn phải biết bao quát lớp học và phải thống nhất một tiến trình mộtbài dạy môn chính tả sao cho phù hợp với học sinh lớp mình
Khi học sinh viết bài xong, giáo viên nên đọc lại một lần để học sinh rà soátlại bài viết của mình Hướng dẫn học sinh theo dõi bài viết để sửa lời văn Giáoviên cần đọc chậm khi đọc từ khó có thể phân tích cách viết cho học sinh sửa lỗingay lúc đó Sau mỗi bài viết là phần bài tập Những hình thức bài tập thường được
sử dụng là: Điền phụ âm đầu g/gh, ng/ngh, c/k/q, … Điền vần và thanh … Hình
thức bài tập chính tả âm, vần phong phú và mang đậm tính tình huống cho họcsinh Ngoài ra, giáo viên cần hết sức chú ý cách hướng dẫn học sinh làm bài tập,giúp các em nắm vững yên cầu của bài tập giáo viên nên chuẩn bị vật thật, tranhảnh phù hợp với nội dung bài tập, hệ thống câu hỏi, bằng lời giải thích hoặc bằngcách hướng dẫn học sinh cách làm mẫu, nhẹ nhàng, khéo léo lôi cuốn các em vàocác tình huống nhằm kích thích sự ham muốn giải bài tập của các em, tránh manglại cảm giác nặng nề, tâm lý ngại khó trước các yêu cầu rất đa dạng của hệ thốngbài tập này
Tuy nhiên, điều giáo viên cần lưu ý cần khai thác có hiệu quả các bài tậptrong sách giáo khoa, tổ chức cho học sinh làm bài tập cũng như uốn nắn thườngxuyên kịp thời những lỗi các em dễ mắc phải nhằm củng cố bền vững kĩ năng viếtchính tả ở học sinh nói chung
Trang 10Sau mỗi bài, mỗi tiết học nên tạo cho học sinh niềm vui vì đã hoàn thành bàihọc, niềm tin vào sự tiến bộ của bản thân bằng những lời động viên khen ngợi,tuyên dương và nêu gương những em luôn luôn viết đúng, trình bày sạch sẽ.
Tạo cho các em mong muốn tìm tòi, chú ý tốt nhất cho bài học của mình
Vì vậy, cho dù đã hoàn thành bài học, bài làm học sinh cũng vẫn không thoả mãnvới những gì đạt được Học sinh cần tự kiểm tra, đánh giá và luôn tìm cách hoànthiện việc đã làm
Ii CÁC BƯỚC THỰC HIỆN:
A Phân môn chính tả không phải chỉ là một môn học phát hiện, mà là mộtmôn học phát hiện và sửa chữa những vi phạm (sửa lỗi chính tả), chính tả TiếngViệt không đơn giản là cách viết theo sát ngữ âm, cách viết hoàn toàn giống nhưnói Mà chính tả có xu hướng thống nhất, chuẩn hoá, không phải là chính tả chotừng phương ngữ, từng khu vực có biến thể ngữ âm riêng biệt
- Nội dung chính tả bao gồm các nguyên tắc dùng chữ để viết âm tiết vàmột số nguyên tắc viết chữ ngoại lệ
Theo đó mỗi nguyên tắc trên là sự hoà hợp, khái quát hoá một nhóm phươngpháp cụ thể, nhằm dạy cho học sinh viết đúng và hạn chế viết sai chính tả
* Dạy chính tả gắn với sự phát triển tư duy Trong quá trình dạy chính tả,giáo viên thường xuyên dẫn dắt học sinh chiếm lĩnh các quy tắc chính tả và ghi nhớ
để áp dụng vào việc viết văn bản bằng một hệ thống thao tác tư duy hợp lý
a/ Phân chia nhiệm vụ thực hành quy tắc thành các bước cụ thể
b/ Lần lượt giải quyết các bước cụ thể đó theo một trình tự logic
c/ Vận dụng các kinh nghiệm thực tiễn vào việc giải quyết từng bước cụ thể
và giải quyết nhiệm vụ chung
Ví dụ: Dạy cho học sinh biết phân biệt l/n Nhiệm vụ chính tả ở trường hợpnày là giải quyết hiện tượng viết như nói, nói sao viết vậy, phát âm nhầm lẫn l/n thìviết cũng không phân biệt Khác với quy tắc phân biệt ch, tr, x, s Trong một sốphương ngữ vẫn tồn tại phát âm l/n nhưng lại chỉ có ch, x không có tr, s Vì thế, cóthể phân chia lần lượt cho học sinh tìm nguyên nhân viết nhầm lẫn l/n cách phát âml/n để viết đúng
Nói tóm lại, nguyên tắc dạy chính tả gắn liền với phát triển tư duy cho họcsinh đòi hỏi:
Trang 11+ Vận dụng các phương pháp tích cực lĩnh hội tri thức rèn luyện thao tác tưduy giúp học sinh chủ động và rèn luyện kĩ năng chính tả tự động hoá.
+ Hướng dẫn học sinh hoạt động trí tuệ để “hiểu” chữ viết và chức năngcủa chữ viết, tác dụng của nó trong quá trình giao tiếp và tư duy bằng ngôn ngữTiếng Việt
+ Luyện tập thực hành các hình thức chính tả để củng cố kĩ năng thao tác tưduy khoa học cho học sinh
* Ví dụ:
Phụ âm đứng đầu âm tiết trong Tiếng việt có 21 phụ âm đầu là: b, c(q, k), d (gi), đ, g (gh), h, l, m, n, r, s, t, v, x, nh, ng (ngh), th, ph, c, h, tr, kh Có cácphụ âm được ghi bằng những ký hiệu khác nhau:
Để biểu thị âm có dùng ba chữ :c, k, q trong đó:
C Đứng trước các chữ cái: a, ă, â,
o, ô, u, ư
Ca, căn, cân, cô, cơ, cử,cung,
K Đứng trước các chữ cái: i, e, ê Kính, kiến, kèn, kênh,
Q Đứng trước chữ cái u (làm âm
đệm)
Quả, quang, quên,
- Riêng trường hợp ka, ki theo thói quen k viết trước a mà không phải là c
Song, người ta phải thường chia âm tiết thành bốn kiểu như sau:
Âm tiết
âm chính: a, o, ô, ơ, u,
ư, e, ê, i,
4 Nửa khép Cuối âm tiết là các bán
phụ âm: u (o), i (y)
Về mặt chức năng các âm tiết có thể là 1 từ: Ăn, người đi, … có thể là một bộ phậncủa từ: tổ / quốc, siêng / năng, vui / vẻ,…