Việt Nam là nước nông nghiệp đang phát triển, vì vậy nền kinh tế phụ thuộc lớn vào trồng trọt và chăn nuôi. Các ngành về chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng trong những năm gần đây đang được chú trọng phát triển, tuy nhiên hiệu quả chăn nuôi chưa cao bởi năng suất và chất lượng sản phẩm chăn nuôi lợn ở nước ta ở mức trung bình. Đó cũng một phần do khó khăn về điều kiện tự nhiên, sự hạn chế vầ mặt kỹ thuật, khoa học công nghệ ứng dụng chăn nuôi. Mặt khác, sức sản xuất của các giống lợn nội ở nước ta hiện nay còn hạn chế, vì vậy để cải thiện hơn về mặt giống, trong thời gian qua nhà nước ta đã cho nhập hàng loạt các giống lợn ngoại có năng suất cao như Yorkshire, Landrace, Duroc, Pietrain để cải thiện các giống lợn nội, trong đó Yorkshire là giống lợn được sử dụng phổ biến. Khả năng sinh sản, năng suất sinh trưởng là những yếu tố quyết định đến hiệu quả chăn nuôi. Để tăng năng suất chăn nuôi người ta tìm cách tăng năng suất sinh trưởng và khả năng sinh sản của đàn lợn. Khả năng sinh trưởng, sinh sản của lợn bị ảnh hưởng bởi một số yếu tố: giống, chuồng trại, thời tiết, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng hay dịch bệnh và đặc biệt là bệnh tiêu chảy.... Mặt khác, từ cuối năm 2016 sang đầu năm 2017 tình hình chăn nuôi lợn ở nước ta trở nên khó khăn với lý do giá thịt lợn giảm xuống một cách chóng mặt đến mức không đủ để hòa vốn. Trong khi đó, các chi phí chăn nuôi không giảm khiến người chăn nuôi lợn càng thêm khó khăn. Nhiều hộ nhỏ lẻ đã treo chuồng, không còn nuôi, các gia trại, trang trại vẫn tiếp tục nuôi nhưng đều có xu hướng giảm quy mô đàn. Đàn lợn cả nước ước tính đến tháng 10 năm 2017 giảm 5,4% so với cùng kỳ năm 2016. Vậy để duy trì được hiệu quả chăn nuôi cần phải giảm thiểu tối đa rủi ro từ bên ngoài, đặc biệt là dịch bệnh đặc biệt là tiêu chảy nhằm hạn chế chi phí chăn nuôi để bù vào giá lợn bị giảm. Tiêu chảy là yếu tố chính ảnh hưởng rất lớn đến năng suất sinh sản và sinh trưởng gây ra thiêt hại kinh tế tương đối lớn trong nền chăn nuôi lợn. Hội chứng tiêu chảy thường xuất hiện ở lợn con theo mẹ và sau cai sữa với tỷ lệ lợn con mắc bệnh tiêu chảy có thể lên đến 30% (Yan et al. 2003). Lợn mắc bệnh tiêu chảy có tỷ lệ chết cao hoặc còi cọc nếu khỏi bệnh ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất chăn nuôi. Có rất nhiều nguyên nhân gây ra tiêu chảy như: dinh dưỡng, chuồng trại…, tuy nhiên tác nhân chính là do E.coli chiếm tới 33,84% ở lợn bị tiêu chảy (Tạ Thị Vịnh và cộng sự, 1996), E.coli độc trong phân là 80% 90% số mẫu xét nghiệm (Vũ Bình Minh và Cù Hữu Phú, 1999). Đặc biệt là do chủng vi khuẩn thuộc nhóm Enterotoxigenic E.coli (ETEC) mang kháng nguyên F4acab (K88) có khả năng bám dính vào các thụ thể ở tế bào biểu mô đường ruột cao gây ra tiêu chảy và tử vong ở lợn sơ sinh và mới cai sữa. Tuy nhiên, tiêu chảy không xảy ra với tất cả, ở một số giống lợn có thể chống lại sự ảnh hưởng của ETEC F4, nó được gợi ý như một yếu tố di truyền cơ bản về sức đề kháng (Sellwood et al., 1975). Mucin 4 (MUC4) là lớp màng giới hạn Oglycoprotein lớn, có nhiều trên bề mặt của tế bào biểu mô dạ dày ruột, đóng vai trò quan trọng trong sự bôi trơn và bảo vệ của niêm mạc (Moniaux et al., 1999) và MUC4 đóng vai trò là một gen có 2 allen A và G tạo ra 3 kiểu gen tương ứng AA, AG và GG. Trong đó allen G có khả năng cao chống lại thụ thể F4abac (Peng et al., 2007) Gen MUC4 và sự biểu hiện các kiểu gen khác nhau cung cấp thêm các đặc điểm cơ bản cho phân tích chống lại quá trình lây nhiễm bệnh và kháng bệnh do E.coli gây ra. MUC4 là gen xác định tính nhạy cảm hay kháng vi khuẩn E.Coli (Filistowicz Jasek 2006). Để ứng dụng cả trong chăn nuôi thực tế và công nghệ khoa học mà vẫn giải quyết được vấn đề về giống lợn và bệnh tiêu chảy để nâng cao hiệu quả chăn nuôi tôi đã chọn đề tài: “Ảnh hưởng của kiểu gen MUC4 đến khả năng sinh trưởng của cái hậu bị và khả năng sinh sản của lợn nái Yorkshire nuôi tại Công ty TNHH lợn giống hạt nhân Dabaco”.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG - LÂM BẮC GIANG
ĐỖ THỊ PHƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ
ẢNH HƯỞNG CỦA KIỂU GEN MUC4 ĐẾN
KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA CÁI HẬU BỊ VÀ
KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA LỢN NÁI YORKSHIRE NUÔI TẠI CÔNG TY TNHH LỢN GIỐNG HẠT NHÂN DABACO
Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số: 8620105
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 TS Đoàn Văn Soạn
2 PGS TS Đỗ Đức Lực
Bắc Giang, năm 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trungthực, khách quan và chưa từng sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đượcchỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả
Đỗ Thị Phương
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo trong Bộ môn Chănnuôi - Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm - Bắc Giang và các thầy côgiáo Bộ môn Di truyền - Giống gia súc, Khoa Chăn nuôi, Học viện Nông nghiệp ViệtNam đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và thực hiện đề tài này.Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Đoàn Văn Soạn và PGS TS Đỗ ĐứcLực đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể thầy cô giáo, cán bộ trong Khoa Chănnuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm - Bắc Giang đã tạo điều kiện để tôi hoànthành chương trình học tập, nghiên cứu và luận văn
Cho phép tôi được bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới các cô chú, anh chị em, cácbạn sinh viên đang làm việc và thực tập tại Công ty TNHH Giống lợn hạt nhânDabaco đã giúp đỡ bố trí thí nghiệm, theo dõi các chỉ tiêu về năng suất sinh sản,sinh trưởng, ghi chép số liệu làm cơ sở cho luận văn này
Tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, người thân, bạn bè đãđộng viên giúp đỡ tôi vượt qua mọi khó khăn trong suốt quá trình học tập, nghiêncứu, thực hiện đề tài
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả
Đỗ Thị Phương
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục hình, đồ thị vii
Trích yếu luận văn viii
Chương 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
1.4.1 Ý nghĩa khoa học 3
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Chương 2 Tổng quan tài liệu 4
2.1 Nguồn gốc, đặc điểm ngoại hình giống lợn Yorkshire 4
2.1.1 Nguồn gốc 4
2.1.2 Đặc điểm ngoại hình 4
2.1.3 Đặc điểm sinh trưởng 4
2.2 Cơ sở lý luận 5
2.2.1 Gen MUC4 5
2.2.2 Khả năng sinh trưởng của lợn 5
2.2.3 Năng suất sinh sản của lợn 11
2.3 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 19
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 19
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 24
Chương 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 27
3.1 Đối tượng nghiên cứu 27
Trang 53.2 Nội dung nghiên cứu 27
3.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 27
3.4 Phương pháp nghiên cứu 27
3.4.1 Xác định tần suất allen và tần suất kiểu gen MUC4 trên lợn cái hậu bị và lợn nái sinh sản Yorkshire 27
3.4.2 Năng suất sinh trưởng của lợn cái hậu bị 29
3.4.3 Năng suất sinh sản của lợn nái Yorkshire 29
3.5 Phân tích số liệu 30
Chương 4 Kết quả và thảo luận 32
4.1 Tần suất kiểu gen và tần suất allen muc4 của lợn cái hậu bị và nái Yokshire 32
4.2 Năng suất sinh trưởng của lợn cái hậu bị Yorkshire 34
4.2.1 Năng suất sinh trưởng của lợn cái Yorshire 34
4.2.2 Ảnh hưởng của kiểu gen MUC4 đến năng suất sinh trưởng của lợn cái Yorkshire 35
4.3 Năng suất sinh sản của lợn nái Yorkshire 37
4.3.1 Năng suất sinh sản của lợn nái Yorkshire 37
4.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của nái Yorkshire 39
4.3.3 Ảnh hưởng của kiểu gen MUC4 đến năng suất sinh sản của nái Yorkshire 42
4.3.4 Ảnh hưởng của lứa đẻ đến năng suất sinh sản của nái Yorkshire 45
4.3.5 Ảnh hưởng của năm đến năng suất sinh sản của nái Yorkshire 52
4.3.6 Ảnh hưởng của mùa vụ đến năng suất sinh sản của nái Yorkshire 53
Phần 5 Kết luận – kiến nghị 57
5.1 Kết luận 57
5.2 Kiến nghị 57
Tài liệu tham khảo 58
Trang 6NXB : Nhà xuất bản
R : range (khoảng biến động)
SD : Standard deviation (độ lệch chuẩn)
SE : Standard Error (sai số chuẩn)TKL : Tăng khối lượng
TNHH : trách nhiệm hữu hạn
YL : Yorkshire x Landrace
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Thành phần và thể tích của phản ứng PCR 28
Bảng 3.2: Thành phần và thể tích của phản ứng ủ cắt enzyme 28
Bảng 4.1 Tần suất kiểu gen và allen MUC4 của lợn Yorkshire 33
Bảng 4.2 Năng suất sinh trưởng của lợn cái Yorkshire 34
Bảng 4.3 Năng suất sinh trưởng của lợn cái Yorkshire theo kiểu gen MUC4 36
Bảng 4.4 Năng suất sinh sản của lợn nái Yorkshire 38
Bảng 4.5 Ảnh hưởng của một số yếu tố đến năng suất sinh sản của lợn Yorkshire 40
Bảng 4.6 Ảnh hưởng của kiểu gen MUC4 đến năng suất sinh sản của lợn nái Yorkshire 44
Bảng 4.7 Số con sơ sinh, số con sơ sinh sống, số con chọn nuôi và số con cai sữa (con) qua các lứa đẻ 47
Bảng 4.8 Khối lượng sơ sinh và khối lượng cai sữa (kg) của lợn nái Yorkshire qua các lứa đẻ 49
Bảng 4 9 Tỷ lệ sơ sinh sống, tỷ lệ sống đến cai sữa và khoảng cách lứa đẻ của lợn nái Yorkshire qua các lứa 50
Bảng 4.10 Năng suất sinh sản của nái Yorkshire từ năm 2015 đến năm 2018 52
Bảng 4.11 Năng suất sinh sản của nái Yorkshire theo các mùa trong năm 55
Trang 8DANH MỤC HÌNH, ĐỒ T
Hình 2.1: Thành phần cấu tạo năng suất sinh sản của lợn nái 14Hình 4.1: Ảnh điện di ủ cắt gen MUC4 trên agarose 2,5% 32Y
Đồ thị 4.1: Số con cai sữa/ổ theo kiểu gen của nái Yorkshire 45
Đồ thị 4.2: Khối lượng sơ sinh/ổ theo kiểu gen của nái Yorkshire 45
Đồ thị 4.3: Số con sơ sinh, số con chọn nuôi và cai sữa qua 5 lứa đẻ của lợn nái Yorkshire 48
Đồ thị 4.4: Khối lượng sơ sinh và cai sữa trên các lứa đẻ của nái Yorshire 50
Đồ thị 4.5: Tỷ lệ sơ sinh sống và tỷ lệ sống đên cai sữa theo lứa 51
Trang 9TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Đỗ Thị Phương
Tên Luận văn: “Ảnh hưởng của kiểu gen MUC4 đến khả năng sinh trưởng của cái
hậu bị và khả năng sinh sản của lợn nái Yorkshire nuôi tại Công ty TNHH lợn giốnghạt nhân Dabaco”
Phương pháp nghiên cứu
Nội dung 1 Xác định kiểu gen, tần suất allen và tần suất kiểu gen MUC4 của
lợn Yorkshire
- Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu được tiến hành trên 324 mẫu mô đuôi của
lợn cái hậu bị và 129 mẫu mô tai của lợn nái Yorkshire nuôi tại Công ty TNHH lợngiống hạt nhân Dabaco
- Phương pháp xác định kiểu gen: Mẫu mô được sử dụng để tách chiết ADN tổng số bằng phương pháp cổ điển của Sambrook et al., (1989) Ứng dụng phương
pháp PCR nhằm khuếch đại đoạn DNA đích với cặp mồi đặc hiệu Đa hình genMUC4 được xác định bằng phương pháp PCR-RFLP sử dụng enzym cắt đặc hiệu
Nội dung 2 Khả năng sinh trưởng và ảnh hưởng của kiểu gen MUC4 đến khả
năng sinh trưởng của lợn cái hậu bị Yorkshire
- Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu được tiến hành trên 324 lợn cái hậu bị
Yorkshire ( từ 80 đến 160 ngày tuổi)
- Phương pháp nghiên cứu: thu thập và theo dõi các chỉ tiêu khối lượng bắt
đầu, khối lượng kết thúc, tăng khối lượng, dày mỡ lưng, dày cơ thăn và tỷ lệ nạc củatừng cá thể đã được bấm số thẻ tai tương ứng
Nội dung 3 Năng suất sinh sản và ảnh hưởng của kiểu gen MUC4, lứa đẻ, năm
và mùa vụ đến năng suất sinh sản của lợn nái Yorkshire
Trang 10- Đối tượng nghiên cứu: 129 lợn nái Yorkshire được theo dõi từ lứa đẻ 1 đến lứa 5.
- Phương pháp nghiên cứu: thu thập và theo dõi các chỉ tiêu về năng suất sinh
sản của lợn nái Yorkshire bao gồm: tuổi đẻ lứa đầu, khoảng cách lứa đẻ, số con sơsinh/ổ, số con sơ sinh sống/ổ, khối lượng sơ sinh/con, số con cai sữa/ổ, khối lượngcai sữa/con
Kết quả chính và kết luận
Lợn cái hậu bị Yorkshire mang kiểu gen AG có tần suất cao nhất (48%), theo sau
là AA (30%) và GG (22%) Đối với nái Yorkshire, tần suất quan sát của kiểu gen AG làcao nhất (51%), AA và GG thấp hơn lần lượt đạt 39 và 10% Tần suất kiểu gen tuântheo định luật Hardy- Weinberg đối với lợn hậu bị và nái sinh sản
Đa hình gen MUC4 ảnh hưởng đến khối lượng kết thúc và tăng khối lượngtrung bình ngày giai đoạn kiểm tra năng suất Tăng khối lượng trung bình cao nhất
ở kiểu gen AG (792,64g/ ngày), tiếp đến là AA (756,08g/ ngày) và cuối cùng là GG(740,76g/ ngày)
Đa hình gen MUC4 ảnh hưởng đến tuổi đẻ lứa đầu, số con sơ sinh, số con sơ sinhsống, số con cai sữa, khối lượng sơ sinh/con và khối lượng sơ sinh/ổ Ở những cá thểmang kiểu gen AA là cao nhất đạt các chỉ tiêu trên lần lượt là 370,88 ngày, 13,09;11,69; 10,08 con và 1,39; 15,98kg , và sự sai khác về các chỉ tiêu sinh sản ở những cáthể mang đa hình AA và GG là sự sai khác có ý nghĩa thống kê
Trang 11CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Việt Nam là nước nông nghiệp đang phát triển, vì vậy nền kinh tế phụ thuộclớn vào trồng trọt và chăn nuôi Các ngành về chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợnnói riêng trong những năm gần đây đang được chú trọng phát triển, tuy nhiên hiệuquả chăn nuôi chưa cao bởi năng suất và chất lượng sản phẩm chăn nuôi lợn ở nước
ta ở mức trung bình Đó cũng một phần do khó khăn về điều kiện tự nhiên, sự hạnchế vầ mặt kỹ thuật, khoa học công nghệ ứng dụng chăn nuôi Mặt khác, sức sảnxuất của các giống lợn nội ở nước ta hiện nay còn hạn chế, vì vậy để cải thiện hơn
về mặt giống, trong thời gian qua nhà nước ta đã cho nhập hàng loạt các giống lợnngoại có năng suất cao như Yorkshire, Landrace, Duroc, Pietrain để cải thiện cácgiống lợn nội, trong đó Yorkshire là giống lợn được sử dụng phổ biến
Khả năng sinh sản, năng suất sinh trưởng là những yếu tố quyết định đến hiệuquả chăn nuôi Để tăng năng suất chăn nuôi người ta tìm cách tăng năng suất sinhtrưởng và khả năng sinh sản của đàn lợn Khả năng sinh trưởng, sinh sản của lợn bịảnh hưởng bởi một số yếu tố: giống, chuồng trại, thời tiết, chế độ chăm sóc - nuôidưỡng hay dịch bệnh và đặc biệt là bệnh tiêu chảy
Mặt khác, từ cuối năm 2016 sang đầu năm 2017 tình hình chăn nuôi lợn ởnước ta trở nên khó khăn với lý do giá thịt lợn giảm xuống một cách chóng mặt đếnmức không đủ để hòa vốn Trong khi đó, các chi phí chăn nuôi không giảm khiếnngười chăn nuôi lợn càng thêm khó khăn Nhiều hộ nhỏ lẻ đã treo chuồng, khôngcòn nuôi, các gia trại, trang trại vẫn tiếp tục nuôi nhưng đều có xu hướng giảm quy
mô đàn Đàn lợn cả nước ước tính đến tháng 10 năm 2017 giảm 5,4% so với cùng
kỳ năm 2016 Vậy để duy trì được hiệu quả chăn nuôi cần phải giảm thiểu tối đa rủi
ro từ bên ngoài, đặc biệt là dịch bệnh đặc biệt là tiêu chảy nhằm hạn chế chi phíchăn nuôi để bù vào giá lợn bị giảm
Tiêu chảy là yếu tố chính ảnh hưởng rất lớn đến năng suất sinh sản và sinh trưởnggây ra thiêt hại kinh tế tương đối lớn trong nền chăn nuôi lợn Hội chứng tiêu chảythường xuất hiện ở lợn con theo mẹ và sau cai sữa với tỷ lệ lợn con mắc bệnh tiêu chảy
có thể lên đến 30% (Yan et al 2003) Lợn mắc bệnh tiêu chảy có tỷ lệ chết cao hoặc còicọc nếu khỏi bệnh ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất chăn nuôi
Trang 12Có rất nhiều nguyên nhân gây ra tiêu chảy như: dinh dưỡng, chuồng trại…,
tuy nhiên tác nhân chính là do E.coli chiếm tới 33,84% ở lợn bị tiêu chảy (Tạ Thị Vịnh và cộng sự, 1996), E.coli độc trong phân là 80% - 90% số mẫu xét nghiệm
(Vũ Bình Minh và Cù Hữu Phú, 1999) Đặc biệt là do chủng vi khuẩn thuộc nhóm
Enterotoxigenic E.coli (ETEC) mang kháng nguyên F4ac/ab (K88) có khả năng
bám dính vào các thụ thể ở tế bào biểu mô đường ruột cao - gây ra tiêu chảy và tửvong ở lợn sơ sinh và mới cai sữa Tuy nhiên, tiêu chảy không xảy ra với tất cả, ởmột số giống lợn có thể chống lại sự ảnh hưởng của ETEC F4, nó được gợi ý như
một yếu tố di truyền cơ bản về sức đề kháng (Sellwood et al., 1975).
Mucin 4 (MUC4) là lớp màng giới hạn O-glycoprotein lớn, có nhiều trên bềmặt của tế bào biểu mô dạ dày - ruột, đóng vai trò quan trọng trong sự bôi trơn và
bảo vệ của niêm mạc (Moniaux et al., 1999) và MUC4 đóng vai trò là một gen có 2
allen A và G tạo ra 3 kiểu gen tương ứng AA, AG và GG Trong đó allen G có khả
năng cao chống lại thụ thể F4ab/ac (Peng et al., 2007)
Gen MUC4 và sự biểu hiện các kiểu gen khác nhau cung cấp thêm các đặc điểm
cơ bản cho phân tích chống lại quá trình lây nhiễm bệnh và kháng bệnh do E.coli gây
ra MUC4 là gen xác định tính nhạy cảm hay kháng vi khuẩn E.Coli (Filistowicz &
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Đánh giá năng suất sinh trưởng và ảnh hưởng của gen MUC4 đến năng suấtsinh trưởng của lợn cái hậu bị Yorkshire;
Đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố (gen MUC4, lứa đẻ, năm và mùa vụ) đếnkhả năng sinh sản nái Yorkshire
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: trên cơ sở xác định kiểu gen của từng cá thể vàđánh giá mối liên hệ với các tính trạng sinh trưởng và sinh sản của lợn trong đàn lợnhạt nhân Yorkshire nuôi tại Công ty TNHH lợn giống hạt nhân Dabaco
Trang 131.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 1.4.1 Ý nghĩa khoa học
Cung cấp các tư liệu khoa học liên quan đến năng suất sinh trưởng, khả năngsinh sản của lợn cái Yorkshire và ảnh hưởng của kiểu gen MUC4 đến các tính trạngsinh trưởng, sinh sản
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp đánh giá được ảnh hưởng của gen MUC4 đếnnăng suất sinh trưởng và khả năng sinh sản của lợn Yorkshire để từ đó có định hướngcho sự phát triển đàn lợn
Trang 14CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 NGUỒN GỐC, ĐẶC ĐIỂM NGOẠI HÌNH GIỐNG LỢN YORKSHIRE 2.1.1 Nguồn gốc
Giống này trước đây được nhập vào Việt Nam từ Liên Xô cũ (1964) và đượcgọi là lợn Đại Bạch Năm 1978 giống Yorkshire được nhập từ Cu Ba và gần đây lànhập từ Vương quốc Anh, Canada (Coline T Whitteemore, 2000)
2.1.2 Đặc điểm ngoại hình
Giống lợn Yorkshire có toàn thân màu trắng tuyền, hơi có ánh vàng, mặt hơithô, mõm hơi cong lên, tai to vừa phải và dựng đứng Giống lợn này được sử dụngtheo hướng kiêm dụng tức vừa lấy thịt vừa làm sinh sản (Vũ Đình Tôn 2009)
2.1.3 Đặc điểm sinh trưởng
Lợn Yorkshire có tốc độ sinh trưởng nhanh Lợn có khối lượng lớn, con đựctrưởng thành nặng từ 350 - 380 kg, dài thân 170 - 185 cm Con cái trưởngthànhnặng từ 250 - 280 kg, khối lượng lúc 60 ngày tuổi đạt 16 - 20 kg/con (VõTrọng Hốt và cs, 2000)
2.1.4 Khả năng sinh sản
Lợn cái thành thục về tính lúc 6 tháng tuổi và có thể phối giống lần đầu vàokhoảng 240 - 260 ngày, số con sơ sinh trên lứa cao từ 11-13 con, số lứa/năm là 2,0 -2,2 Khối lượng sơ sinh/con dao động từ 1,3 - 1,4 kg/con, khối lượng lúc 60 ngàytuổi từ 16 - 18 kg/con Lợn đực khai thác tinh lúc 8 tháng tuổi, lượng tinh trung bìnhkhai thác được là 232 ml/lần Lợn vỗ béo đạt 100 kg khoảng 5 - 6 tháng tuổi (Coline
T Whittemore, 2000)
Theo tài liệu của công ty CP Việt Nam, lợn Yorkshire được đưa vào phối giốnglần đầu vào khoảng 34 tuần tuổi tức khoảng 8,5 tháng đối với lợn nái, trọng lượngcái trưởng thành 250- 280 kg, khối lượng sơ sinh trung bình 1,2 - 1,4 kg/con Lợnđực có thể đưa vào sử dụng lúc 8 tháng tuổi, lượng tinh khai thác được 250 ml/lần.Khối lượng lợn đực trưởng thành 350 - 380 kg
Trang 152.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.2.1 Gen MUC4
Mucins tạo nên một phần lớn chất nhờn bao phủ các bề mặt niêm mạc của các cơquan biểu mô có vai trò như các rào cản vật lý chọn lọc giữa môi trường ngoại bào vàmàng tế bào và nội bào Mucin được chia thành các dạng tiết và màng liên quan Chấtnhầy tiết ra tạo thành chất nhầy nhớt ở đường tiêu hóa, và các vùng sinh sản và thườnghình thành các oligome cực lớn thông qua sự liên kết của các monome protein thôngqua các liên kết disulfide Những protein này được tiết ra từ tế bào và duy trì ở bề mặtđỉnh của các tế bào biểu mô dưới dạng gel nhầy
MUC4 được viết tắt từ mucin được coi như chất nhầy biểu mô, nó là đại phân tửthuộc họ protein, được tạo ra bởi tế bào biểu mô bao gồm ở màng và glycoprotein bàitiết Biểu hiện gen MUC4 trên cơ thể vật nuôi có vai trò rất quan trọng trong việc bôitrơn và bảo vệ bề mặt tế bào biểu mô, tế bào sinh trưởng và các loại tế bào khác nhằmđáp ứng miễn dịch và sự kết dính tế bào (Shenglong Wu et al., 2015)
Theo Peng et al., (2007), đột biến điểm g.243A>G tại intron17 của MUC4 có tương
quan với sự mẫn cảm và khả năng chống lại sự lây nhiễm của ETEC F4ab/ac ở lợn Gen MUC4 là gen có allen A nhạy cảm và allen G kháng với F4ab/ac(Jorgensen et al., 2003), trong đó, cá thể mang kiểu gen GG có khả năng khángbệnh tiêu chảy cao hơn so với những cá thể mang kiểu gen AA và AG Mặt khác,
theo nghiên cứu của L.Peng et al., (2007) về MUC4 intron 17 các cá thể mang kiểu
gen đồng hợp tử trội AA và dị hợp tử AG thì mẫn cảm với sự lây nhiễm của F4ac,còn đồng hợp tử lặn GG có khả năng chống lại sự lây nhiễm với tỷ lệ cao Mặtkhác, allen G điều khiển khả năng tiết dịch nhầy ở niêm mạc ruột nhiều hơn nên tạo
khả năng bôi trơn cao hơn, vì vậy các vi khuẩn gây bệnh đường ruột như E.coli theo
đường tiêu hóa sẽ bị đẩy ra ngoài theo phân do không thể bám dính vào thành ruột.Tương tự, allen A cũng vậy, tuy nhiên khả năng tiết dịch của gen mang allen A thấphơn so với allen G Vậy, điều này có thể lý giải cho sự khác biệt về khả năng chốnglại tiêu chảy ở mỗi kiểu gen
2.2.2 Khả năng sinh trưởng của lợn
2.2.2.1 Năng suất sinh trưởng và các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng của lợn
Sinh trưởng là sự tăng lên về kích thước hoặc khối lượng của vật nuôi do có sựtăng lên về số lượng và thể tích tế bào Mối liên hệ giữa khối lượng và tuổi của vật
Trang 16nuôi được thể hiện bằng đồ thị hình chữ S Giai đoạn trước thành thục sinh dục cótốc độ sinh trưởng nhanh, sau đó tốc độ sinh trưởng chậm lại và giảm dần cho đếnkhi đạt ổn định về khối lượng, lúc này vật nuôi thành thục về thể vóc Khả năngsinh trưởng được mô tả bằng sinh trưởng tích lũy, sinh trưởng tuyệt đối, sinh trưởngtương đối, tăng khối lượng trung bình và tỷ lệ nạc.
Để đánh giá đúng và chính xác về khả năng sinh trưởng của vật nuôi cần phảicăn cứ vào nhiều chỉ tiêu:
- Sinh trưởng tích lũy (V i )
Là khả năng tích lũy các chất hữu cơ trong quá trình đồng hóa và dị hóa, nóbiểu thị tốc độ tăng trưởng về khối lượng, kích thước và thể tích của cơ thể gia súctích lũy được trong một thời gian
Sinh trưởng tích lũy được tính theo công thức:
Vi = V1, V2, V3…Vn
Đơn vị tính là kg, gTrong đó:
V1, V2, V3, …Vn là khối lượng, kích thước tương ứng với khoảng thờigian t1, t2, t3,…tn
i = 1, 2, 3…n
n là số lần cân, đo tại khoảng thời gian là t
Ở lợn, sinh trưởng tích lũy liên quan mật thiết đến khả năng cho thịt,
độ sinh trưởng tích lũy cao thì cho năng suất thịt cao, cho nên việc theo dõi, đánhgiá độ sinh trưởng tích lũy không những có ý nghĩa về mặt sinh học mà còn có ýnghĩa về mặt kinh tế
- Sinh trưởng tuyệt đối (A i )
Sinh trưởng tuyệt đối được xác định bằng tỷ lệ giữa khối lượng cơ thể vật nuôităng lên với khoảng thời gian để tăng được khối lượng đó Chỉ tiêu này được sửdụng để đánh giá khả năng tăng khối lượng trung bình hàng tháng (kg/tháng) hoặchàng ngày (g/ngày)
Sinh trưởng tuyệt đối được tính theo công thức:
Trang 171 1
Ai : Sinh trưởng tuyệt đối
Vi-1: Sinh trưởng khối lượng, kích thước ở thời kỳ đầu tương ứng vớimột khoảng thời gian ti-1
Vi: Sinh trưởng khối lượng, kích thước ở thời kỳ tiếp theo tương ứngvới một khoảng thời gian ti
Chỉ tiêu này giúp chúng ta đánh giá được mức tăng trọng của đàn lợntrong từng giai đoạn nhỏ Qua đó biêt được tình trạng sức khỏe, sự phù hợp haykhông của thức ăn về lượng và về chất ở từng lứa tuổi của con vật
Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối của lợn biểu diễn mức độ tăng trọng g/ngày
có dạng parapol Trong chăn nuôi, người ta cần tìm thời điểm mà Parapol đạt giá trị cựcđại để kết thúc giai đoạn nuôi thịt nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao nhất
- Sinh trưởng tương đối (R i )
Là tỉ lệ phần trăm của khối lượng cơ thể hay kích thước các chiều đo tăng lêncủa lần khảo sát sau so với lần khảo sát trước
Sinh trưởng tương đối được tính theo công thức:
1 1
Ri: Sinh trưởng tương đối
Vi-1: Khối lượng, kích thước ở kỳ đầu
Vi: Khối lượng, kích thước ở kỳ sau
- Tăng khối lượng trung bình (g/ngày).
Là chỉ tiêu quan trọng đánh giá khả năng sinh trưởng của vật nuôi Chỉ tiêunày thể hiện cho khả năng thu nhận, hiệu quả sử dụng thức ăn và chất lượng giống.Các giống lợn ngoại thường có hiệu quả sử dụng thức ăn, mức tăng trọng trung bìnhcao hơn các giống lợn nội
Trang 18- Tỉ lệ nạc
Chỉ tiêu này được xác định thông qua hai chỉ tiêu là độ dày mỡ lưng và độ dày
cơ thăn Chỉ tiêu này giúp người chăn nuôi biết được năng suất thịt, mức sinhtrưởng nạc, mức sinh trưởng mỡ và mức cân bằng về thành phần dinh dưỡng trongkhẩu phần ăn của lợn
2.2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của lợn
* Gen MUC4
Hội chứng tiêu chảy là một trong những yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến năngsuất gây ra thiêt hại kinh tế tương đối lớn trong nền chăn nuôi lợn Hội trứng tiêuchảy thường xuất hiện ở lợn con theo mẹ và sau cai sữa với tỷ lệ lợn con mắc bệnh
tiêu chảy có thể lên đến 30% (Yan et al., 2003) Lợn mắc bệnh tiêu chảy có tỷ lệ chết cao lợn Trần Đức Hạnh (2013) khi nghiên cứu vai trò của E.coli gây tiêu chảy
ở lợn tại 3 tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc và Bắc Giang, cho thấy tỷ lệ chết do tiêuchảy ở lợn con giai đoạn trước và sau cai sữa 5,12%, trong đó lợn con giai đoạn từ 1– 20 ngày tuổi có tỷ lệ chết cao nhất 5,66% Lê Minh Chí (1995) cho biết 70 – 80%tổn thất về số lượng lợn con giai đoạn theo mẹ và trong đó 80 – 90% do tiêu chảygây ra, mặt khác lợn con còi cọc nếu khỏi bệnh ảnh hưởng trực tiếp đến năng suấtchăn nuôi, làm tăng chi phí điều trị, làm giảm nghiêm trọng tỷ lệ tăng trưởng củalợn trong suốt thời kỳ cai sữa và các giai đoạn phát triển tiếp theo Việc giảm hộichứng tiêu chảy ở lợn con sẽ góp phần tăng tỷ lệ sống của lợn con sơ sinh, lợn saucai cữa, giảm việc sử dụng kháng sinh đồng nghĩa với việc làm giảm chất thải gâyảnh hưởng đến môi trường trong chăn nuôi, tăng khả năng sinh trưởng của lợn
Mà gen MUC4 là gen xác định tính nhạy cảm hay kháng vi khuẩn E.Coli
(Filistowicz & Jasek 2006) Sự xuất hiện của gen này làm hạn chế tối đa thiệt hại dotiêu chảy gây ra cho lợn con
* Yếu tố giống
Các giống lợn khác nhau có quá trình sinh trưởng khác nhau, tiềm năng ditruyền của quá trình sinh trưởng của các gia súc được thể hiện thông qua hệ số ditruyền Hệ số di truyền đối với tính trạng khối lượng sơ sinh và sinh trưởng trongthời gian bú sữa dao động từ 0,05 - 0,21 và nó thấp hơn trong thời kỳ vỗ béo (từ 25
- 95 kg) Khả năng tăng trưởng của lợn sau cai sữa là cao nhất so với giai đoạn búsữa và giai đoạn trưởng thành Giai đoạn trưởng thành, các chỉ tiêu tỷ lệ móc hàm,chiều dài thân thịt, tỷ lệ nạc, độ dày mỡ lưng, diện tích cơ thăn có hệ số di truyền
Trang 19cao Do đó trong chọn lọc và nhân giống người ta thường xác định các chỉ tiêu này
ở giai đoạn trưởng thành để loại thải những con vật không đạt yêu cầu chất lượnggiống Mặt khác, để đáp ứng nhu cầu phục vụ cho sản xuất, người ta thường chọnnhững giống phù hợp với mong muốn trong chăn nuôi
Hiện nay, để tăng khả năng sinh trưởng và tăng khối lượng cơ thể, người tachủ yếu tạo ra ưu thế lai Con lai thường tạo ra ưu thế lai cao hơn con bố mẹ về tăngtrọng (Sellier, 1998) Con lai cho ưu thế lai cao hơn bố mẹ về tăng khối lượng
(10%) và thu nhận hàng ngày (Sellier, 1998) Theo Liu et al (2000), con lai 3 giống
có ưu thế lai về tăng khối lượng tới 16,44 %, ưu thế lai về tiêu tốn thức ăn là 8,18%, trong khi đó con lai trở ngược có ưu thế lai về tăng khối lượng chỉ đạt 7,03
Theo Wood et al (2004), nuôi lợn thịt bằng khẩu phần protein thấp, lợn sẽ sinh
trưởng chậm, khối lượng giết thịt thấp Mức năng lượng và protein thấp trong khẩu phần
làm tăng khả năng tích luỹ mỡ, tăng tỷ lệ mỡ trong cơ (Chang et al., 2003).
Tốc độ tăng khối lượng, chất lượng thịt cũng thay đổi tuỳ thuộc vào mối quan
hệ giữa các vitamin với nhau và giữa vitamin với protein và khoáng Bên cạnh đóhàng loạt nghiên cứu đã xác nhận tác dụng của việc bổ sung các axit amin giới hạnvào khẩu phần lợn thịt: tăng khối lượng tăng, tiết kiệm được thức ăn và protein.Nuôi lợn hướng nạc, hàm lượng Lysin trong khẩu phần giai đoạn cuối cần từ 0,5 -
0,8% Chất khoáng cũng đặc biệt quan trọng với lợn thịt Jondreville et al., (2003)
cho biết bổ sung Cu, Zn một cách hợp lý vào khẩu phần có tác dụng làm tăng khảnăng sinh trưởng và giảm ô nhiễm môi trường Hiệu quả sử dụng protein bị ảnhhưởng bởi nhiều yếu tố Lợn hướng nạc có hiệu quả sử dụng protein cao hơn so vớilợn hướng mỡ, lợn còn non cao hơn lợn trưởng thành, lợn đực cao hơn lợn cái vàlợn đực thiến Khẩu phần có đủ axit amin tốt hơn khẩu phần không đủ
* Thời gian nuôi
Trang 20Dựa vào quy luật sinh trưởng tích lũy chất dinh dưỡng trong cơ thể lợn, người
ta đề ra 3 phương thức nuôi: nuôi lấy nạc đòi hỏi tăng khối lượng nhanh, thường kếtthúc khi lợn có khối lượng 90-100 kg, nuôi theo hướng kiêm dụng nạc - mỡ, thờigian nuôi dài hơn, còn phương thức nuôi lấy mỡ cần thời gian nuôi dài, khối lượnggiết thịt lớn hơn 2 phương thức kia
Đinh Văn Chỉnh và cs (1995) nghiên cứu trên lợn kiểm tra cá thể cho biết: độlớn của hệ số tương quan giữa độ dày mỡ lưng so với tỷ lệ mỡ giảm dần theo tuổi,
sự tích luỹ mỡ tăng dần theo sự tăng về khối lượng Cứ tăng 10kg khối lượng thì độdày mỡ lưng tăng khoảng 1mm ở tất cả các điểm
Thời gian nuôi càng dài, tỷ lệ mỡ trong thân thịt càng tăng và tỷ lệ nạccàng giảm
* Các yếu tố chăm sóc nuôi dưỡng
Biện pháp kỹ thuật trong chăn nuôi lợn con là rất quan trọng để góp phần nângcao năng suất sinh sản của lợn nái Nếu kỹ thuật chăn nuôi lợn con tốt thì không chỉđạt được tỷ lệ nuôi sống lợn con cao, rút ngắn thời gian cai sữa mà còn tăng đượckhối lượng lợn con
Vệ sinh chuồng trại rất quan trọng, nếu khâu vệ sinh không tốt đồng nghĩa vớiviệc phòng bệnh không tốt và dịch bệnh có thể bùng phát bất cứ lúc nào ảnh hưởngđến chăn nuôi
Ngoài ra phương thức nuôi dưỡng cũng ảnh hưởng đến khả năng sản xuất củacon vật Khi cho lợn ăn khẩu phần ăn tự do, khả năng tăng khối lượng nhanh hơn
(Ramaekers et al., 1996), tiêu tốn thức ăn thấp hơn nhưng dày mỡ lưng lại cao hơn
khi lợn đực ăn khẩu phần ăn hạn chế Lợn cho ăn khẩu phần thức ăn hạn chế có tỷ
lệ nạc cao hơn lơn cho ăn khẩu phần thức ăn tự do (Thomke et al., 1995) Mặt khác,
đối với lợn ăn thức ăn tự kiếm sẽ cải thiện được chức năng của dạ dày- ruột giúpquá trình tiêu hóa hiệu quả hơn (Shenglong Wu et al.,2015)
* Mùa vụ
Huang et al., (2004) cho biết mùa vụ có ảnh hưởng rõ rệt tới độ dày mỡ lưng
và hiệu quả sử dụng thức ăn Lợn nuôi trong mùa hè và mùa đông có độ dày mỡ
lưng thấp hơn mùa thu và mùa xuân (Choi et al., 1997)
Ở nước ta khí hậu có 4 mùa xuân, hạ , thu, đông, vì vậy thời tiết ở các mùaảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi Vào mùa xuân, thu nhiệt độ ôn hòa, mát mẻ làm
Trang 21quá trình thu nhận thức ăn tăng lên, vật nuôi sinh trưởng tốt hơn so với 2 mùa cònlại.
Nguyễn Văn Đức và cs (2001), cho biết tăng khối lượng chịu ảnh hưởng lớncủa yếu tố mùa vụ Sự khác biệt giữa năm và mùa ảnh hưởng đến tăng khối lượng
và dày mỡ lưng rõ rệt (Pathiraja et al., 1990).
2.2.3 Năng suất sinh sản của lợn
2.2.3.1 Khả năng sinh sản và các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh sản của lợn
Thông số các chỉ tiêu dưới đây được đề cập để đánh giá khả năng sinh sản củalợn nái:
- Tuổi đẻ lứa đầu
Trung bình là 12 tháng tuổi, nếu lợn đẻ sớm khi chưa thành thục về thể vóclàm cho lợn con sinh ra nhỏ ảnh hưởng tới chất lượng đàn con.Cho lợn đẻ muộnlàm giảm khả năng sinh sản, giảm số con sinh ra/nái.Chỉ tiêu này đánh giá tuổithành thục về tính và thể vóc của từng giống, đánh giá tốc độ sinh sản của lợn
- Số con sơ sinh/ổ (con)
Là số lợn con mà nái đẻ ra/ lứa bao gồm cả số thai gỗ, thai non, thai sống
- Loại thai gỗ
Là loại thai chết trong tử cung từ 35 – 90 ngày tuổi,thai chết ở giai đoạn nàythường không gây sẩy thai mà các bào thai chết thường khô cứng lại Các thai khôngđược cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng do nhau thai phát triển không đầy đủ,hoặccác thai bị nhiễm virus: Enterovirus, Parvovirus…
- Loại thai non
Là thai phát triển không hoàn thiện có thể do cơ thể mẹ bị ốm hoặc có tácđộng của hóa chất làm cho lợn con phát triển không đầy đủ mặc dù đã kết thúc giaiđoạn chửa.Loại thai non này đã chết trong thời gian lợn nái mang thai hoặc chết khisinh ra Nguyên nhân có thể do lợn mẹ bị bệnh nhiễm trùng như leptospirosis,bệnhgiả dại, thiếu chất dinh dưỡng hoặc do tác động bên ngoài
- Số con còn sống đến 24 giờ/ổ (con)
Là số con còn sống từ lúc sinh ra đến 24 giờ/ổ
Số con sống đến 24 giờ
Trang 22Số con sơ sinh sống
Chỉ tiêu này đánh giá khả năng nuôi thai của nái, khả năng đẻ nhiều hay ít vàtrình độ kỹ thuật người nuôi dưỡng nái mang thai của người chăn nuôi
- Số con để nuôi/ổ (con)
Số con để nuôi/ổ = Số con sống tới 24 giờ - (số con loại thải ± số con nuôi gửi)Chỉ tiêu này đánh giá khả năng nuôi con của lợn nái tốt hay không tốt và nóinên tình trạng lợn mẹ sau khi sinh Chỉ tiêu này phụ thuộc vào số vú lợn mẹ
- Số con cai sữa/ổ (con)
Là số con còn sống đến khi cai sữa mẹ Thời gian cai sữa dài ngắn là tùy thuộcvào trình độ kỹ thuật chế biến thức ăn cho lợn con, tùy thuộc vào các giống lợnkhác nhau Chỉ tiêu này đánh giá khả năng nuôi con của lợn nái, kỹ thuật nuôidưỡng chăm sóc đàn con
Số con cai sữa/ổ
Tỷ lệ nuôi sống (%) = x 100%
Số con để nuôi/ổ
- Số con sống đến 60 ngày tuổi/ổ (con)
- Khối lượng sơ sinh/con (kg)
Là khối lượng lợn con được cân ngay sau khi đẻ, lau khô, cắt rốn và chưa cho
bú sữa đầu
- Khối lượng cai sữa/con (kg)
Là khối lượng lợn con được cân vào ngày cai sữa, trước khi cho ăn
- Khối lượng sơ sinh/ổ (kg)
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng nuôi dưỡng thai của con mẹ, kỹ thuật chămsóc nuôi dưỡng lợn nái mang thai của người chăn nuôi
- Khối lượng cai sữa/ổ (kg)
Chỉ tiêu đánh giá khả năng nuôi con của lợn mẹ như tính nuôi con khéo,chấtlượng sữa của con me, kỹ thuật sử dụng thức ăn cho lợn con, kỹ thuật chăm sóc náinuôi con và lợn con theo mẹ của người chăn nuôi, ngoài ra còn phản ánh chất lượngcám tập ăn của cơ sở chăn nuôi
- Thời gian cai sữa (ngày)
Trang 23Là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến năng suất sinh sản của lợn nái do liên quanđến số lứa của lợn nái hàng năm và một phần liên quan đến số con sơ sinh mỗi lứa.Ngày nay với công nghệ chế biến thức ăn tiên tiến,người chăn nuôi có thể cai sữalợn con sớm ở 21,28 và 35 ngày tuổi.
- Tỷ lệ hao hụt của lợn mẹ
KLLM sau khi đẻ 24 giờ - KLLM lúc cai sữa
KLLM sau khi đẻ 24 giờ
Tỷ lệ này càng thấp càng tốt, trung bình là 12 – 15% Tỷ lệ này ảnh hưởng tớithời gian động dục trở lại sau cai sữa và số lứa đẻ/năm
- Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ (ngày)
Là khoảng thời gian từ lứa đẻ trước tới lứa đẻ sau Khoảng thời gian này càngngắn càng tăng số lứa đẻ và tăng số lợn con/nái trong năm
- Số lợn con cai sữa/nái/năm
Đây là chỉ tiêu tổng hợp đánh giá sức sản xuất của lợn nái và hiệu quả chănnuôi lợn nái sinh sản
Chỉ tiêu này phụ thuộc vào nhiều yếu tố: tuổi thành thục về tính, tỷ lệ thụ thai,
số con sơ sinh… Vì vậy việc cải tiến để nâng cao số lượng lợn con cai sữa là mộttrong những biện pháp nhằm tăng hiệu quả kinh tế trong sản xuất lợn con
- Thời gian phối giống sau cai sữa
Năm 1980, Hughes và Varley đã cho rằng thành phần cấu tạo năng suất sinhsản của lợn nái được thể hiện ở hình 2.1
Trang 24Hình 2.1: Thành phần cấu tạo năng suất sinh sản của lợn nái
2.2.3.2.Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn
a Yếu tố di truyền
* Gen MUC4
Ảnh hưởng của một số gen có khả năng kháng bệnh tiêu chảy ở lợn là một vấn
đề rất được quan tâm, trong số đó có gen MUC4 vì nó là một trong những yếu tố
thúc đẩy cho sự tăng đàn, phát triển về số lượng đàn Vi khuẩn E.coli xuất hiện với
tỷ lệ từ 78-100% ở mẫu phân lợn con mắc tiêu chảy (Nguyễn Anh Tuấn và Nguyễn
Bá Tiếp, 2013; Cù Hữu Phú và cs., 1999, 2004; Trịnh Quang Tuyên và cs., 2004; LýThị Liên Khai, 2001; Trương Quang, 2005; Frydendahl, 2002) Đoàn Thị Kim Dung(2004), qua theo dõi 6.876 lợn con theo mẹ tại 5 cơ sở chăn nuôi ở một số tỉnh
gian gian
Thời gian từ
CS đến
PG có KQ
Tỷ lệ chết cho đến cai sữa
Số con
đẻ ra còn sống
CS đến động dục lại
Tỷ lệ không chửa
đẻ
gian
Số trứng rụng
ai giận
Tỷ lệ thụ thai a i
Số phôi chết
ai gian
Số thai chết
ai gian
Trang 25thành miền Bắc Việt Nam cho thấy, bệnh do vi khuẩn E.coli có sẵn trong đường
ruột của lợn gây ra do mất cân bằng giữa hệ vi khuẩn có lợi và vi khuẩn có hại trongđường tiêu hóa, do các yếu tố stress Bệnh có thể xảy ra ngay sau những ngày đầumới sinh, tỷ lệ mắc từ 20 – 100%, tỷ lệ chết từ 10 – 20% Sức đề kháng đối với cácbệnh khác nhau phụ thuộc vào đặc tính di truyền của lợn Đối với lợn trước cai sữa,
chủng E.coli F4 và F18 phân lập từ phân của lợn con tiêu chảy chiếm tỷ lệ lần lượt
là 44% và 32% Với lợn sau cai sữa chỉ tìm thấy duy nhất chủng F18 với tỷ lệ34,3% (Nguyễn Anh Tuấn và Nguyễn Bá Tiếp, 2013) Trong khi đó Võ Thành Thìn
và cs (2009) cho biết tỷ lệ các chủng E.coli F4 và F18 phân lập từ lợn con mắc
bệnh tiêu chảy tại một số tỉnh Nam Trung bộ và Tây Nguyên lần lượt là 29,89% và
44,02% Vi khuẩn E.Coli F4 và F18 là một tác nhân gây bệnh chính, chúng sinh ra
nội độc tố thông qua tương tác thụ thể màng tể bào ruột non Vì vây, sự xuất hiện
của gen FUT1và MUC4 làm giảm tỷ lệ lợn mắc hội chứng tiêu chảy do E.coli gây
ra, làm tăng tỷ lệ sống của lợn con sinh ra, tăng khả năng sinh sản
Yếu tố di truyền phụ thuộc vào đặc tính con giống, các giống lợn khác nhauthì có tính năng sản xuất khác nhau Tính trạng số lượng về khả năng sinh sản củalợn nái thường có hệ số di truyền thấp, các chỉ tiêu như số con còn sống/ổ, số consai sữa/ổ có hệ số di truyền (h2) là 0,10; khối lượng sơ sinh/ổ, khối lượng cai sữa/ổ
có h2 là 0,20 Rydhmer et al (1995) hệ số di truyền (h2) tính trạng tuổi đẻ lứa đầu,
số con đẻ ra sống/ổ và khoảng cách lứa đẻ lần lượt là: 0,27; 0,13 và 0,08 Theo Tolle
et al (1999) cũng cho biết hệ số di truyền của chỉ tiêu số con đẻ ra sống và số con
cai sữa/ổ là 0,09 - 0,12 và 0,05 - 0,07
Theo Legault (1985), căn cứ vào khả năng sinh sản và sức sản xuất thịt, cácgiống lợn chia làm bốn nhóm chính như sau:
Trang 26- Các giống đa dụng như Yorkshire, Landrace và một số dòng nguyên chủngđược xếp vào loại có khả năng sản xuất thịt và sinh sản khá.
- Các giống chuyên dụng “dòng bố” như Piétrain, Landrace của Bỉ, Hampshire,Poland China có khả năng sinh sản trung bình nhưng khả năng sản xuất thịt cao
- Các giống chuyên dụng “dòng mẹ”, đặc biệt một số giống chuyên sản củaTrung Quốc như Taihu (điển hình là Meishan) có khả năng sinh sản đặc biệt caonhưng khả năng cho thịt kém
- Các giống địa phương có đặc tính chung là khả năng sinh sản và sức sản xuấtth/ịt kém, song có khả năng thích nghi tốt với môi trường
Các giống “dòng bố” thường có khả năng sinh sản thấp hơn so với các giống
đa dụng, ngoài ra chúng có chiều hướng hơi kém về khả năng nuôi con, tỷ lệ lợncon chết trước khi cai sữa của các giống này cao hơn so với Landrace và Yorkshire
(Blasco et al., 1995).
Sự thành thục về tính của các giống khác nhau cũng khác nhau Gia súc có tầmvóc và khối lượng nhỏ thường sớm hơn gia súc có tầm vóc, khối lượng lớn Tuổithành thục của giống lợn nội Trung Quốc khi 3 - 4 tháng tuổi và các giống lợn châu
Âu là 6 - 7 tháng tuổi (Rothschild and Bidanel, 1998)
Sự cận huyết cũng ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái, số con đẻ ratrong một ổ giảm 0,29 con khi hệ số cận huyết tăng thêm 10% (Johnson, 1990)
Ngoài ra, năng suất sinh sản còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố di truyền khácnhư kiểu gen, cá thể, lai giống…
Như vậy năng suất sinh sản của lợn nái chịu ảnh hưởng của giống và cá thể,mỗi một giống có một đặc tính sản xuất gắn liền với năng suất và hiệu quả kinh tếcủa nó, giống khác nhau thì có năng suất khác nhau
Trang 27* Chế độ nuôi dưỡng
Dinh dưỡng là yếu tố hết sức quan trọng để đảm bảo khả năng sinh sản của lợnnái Lợn nái và lợn cái hậu bị có chửa cần được cung cấp đủ về số lượng và chấtlượng các chất dinh dưỡng để có kết quả sinh sản tốt
Zimmerman et al (1996) cho biết các mức ăn khác nhau trong giai đoạn từ cai sữa đến phối giống trở lại có ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ thai Yamada et al (1998)
nhận thấy nuôi dưỡng hạn chế đối với lợn cái trong giai đoạn hậu bị sẽ làm tăng tuổiđộng dục lần đầu, tăng tỷ lệ loại thải so với nuôi dưỡng đầy đủ
Nên cho lợn nái nuôi con ăn tự do để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng Giảm lượngthức ăn thu nhận khi nuôi con sẽ làm giảm khối lượng cơ thể, hậu quả là thời gian
động dục trở lại dài, giảm tỉ lệ thụ tinh và giảm số phôi sống (Brand et al., 2000) Theo Chung et al (1998), Lember (1998) tăng lượng thức ăn thu nhận ở lợn nái tiết
sữa sẽ làm tăng sản lượng sữa và tăng khả năng tăng khối lượng của lợn con Gordon(2004) cho biết: tăng lượng thức ăn thu nhận cho lợn nái tiết sữa ở giai đoạn đầu vàgiữa chu kỳ tiết sữa sẽ có tác dụng giảm thời gian động dục trở lại hơn là tăng lượngthức ăn thu nhận cho lợn nái tiết sữa ở giai đoạn cuối, tăng lượng thức ăn thu nhậncho lợn nái tiết sữa ở giai đoạn giữa và cuối chu kỳ tiết sữa sẽ có tác dụng tăng khốilượng cai sữa hơn là tăng ở giai đoạn đầu
Mục tiêu của nuôi dưỡng lợn nái là làm sao cho số ngày không sản xuất ítnhất, khối lượng cơ thể tăng phù hợp trong thời kỳ có chửa và có được khối lượng
cơ thể thích hợp trong thời kỳ nuôi con Vì vậy cần phải đưa ra khẩu phần ăn khoahọc để tăng sữa
* Mùa vụ
Mùa vụ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái
Gaustad-Aas et al (2004) cho biết: mùa vụ có ảnh hưởng đến số con đẻ ra/ổ Mùa
có nhiệt độ cao là nguyên nhân làm kết quả sinh sản ở lợn nái nuôi chăn thả thấp, tỷ
lệ chết ở lợn con cao (Akos et al., 2004)
Nhiệt độ cao làm khả năng thu nhận thức ăn của lợn nái thấp, tỷ lệ hao hụt lợnnái tăng và tỷ lệ động dục trở lại sau cai sữa giảm Tỷ lệ thụ thai bị ảnh hưởng bởinhiệt độ và mùa vụ Lợn nái phối giống vào các tháng nóng có tỷ lệ thụ thai thấp,giảm khả năng sinh sản từ 5 - 20%
Nhiệt độ cao không những làm tăng tỷ lệ nái không động dục mà còn làmgiảm tỷ lệ thụ thai, giảm khả năng sống của thai (Pistoni, 1997)
Trang 28Nhiều nghiên cứu đã chỉ rõ ảnh hưởng của stress nhiệt đến khả năng sinhsản của lợn nái Thời gian từ tháng 7 đến tháng 11 lợn nái thường ít động dục.
Số con đẻ ra/ổ khi phối giống vào mùa hè có thể ít hơn một con so với khi phốigiống vào mùa thu, mùa đông (Peltoniemi et al., 2000, Koketsu et al., 1998) Tỷ
lệ thụ thai thấp và số con đẻ ra ít vào mùa hè đã được Dominguez et al (1998)xác nhận
Các tác giả nhận thấy về mùa hè, nhiệt độ cao làm giảm tính nhạy cảm bìnhthường của chu kỳ động dục Claus and Weiler (1985) cho biết từ tháng thứ 5 đếntháng thứ 8 khoảng cách từ khi cai sữa đến động dục trở lại ở lợn nái tăng so với cáctháng khác (trích dẫn từ Gordon, 1997)
Stress nhiệt có thể làm giảm tỷ lệ thụ thai tới 20%, giảm số phôi sống 20% và do
đó làm giảm thành tích sinh sản của lợn nái (Peltoniemi et al., 2000).
* Tuổi và lứa đẻ
Tuổi và lứa đẻ đều là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến số con đẻ ra/ổ (Clarkand Leman, 1986) Lợn nái kiểm định có tỷ lệ đẻ thấp hơn so với lợn nái sinh sản
(Koketsu et al., 1998) Số lượng trứng rụng thấp nhất ở chu kỳ động dục thứ nhất,
tăng đến 3 tế bào trứng ở chu kỳ động dục thứ hai và đạt tương đối cao ở chu kỳ
động dục thứ ba (Deckert et al., 1998) Số con đẻ ra tương quan thuận với số lượng trứng rụng (Warrick et al., 1989, trích dẫn từ Gordon, 1997).
Lứa đẻ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái vì có
sự khác nhau về chức năng theo tuổi của lợn nái Khả năng sinh sản của lợn náithường thấp nhất ở lứa đẻ thứ nhất, đạt cao nhất ở lứa đẻ thứ 3, 4, 5 và sau đógần như là ổn định và có xu hướng giảm khi lứa đẻ tăng lên Gordon (1997)cho biết số con đẻ ra/ổ tăng từ lứa đẻ một đến lứa đẻ thứ 4, ở lứa đẻ thứ 8 trở
đi, số lợn con mới đẻ bị chết tăng lên Số con đẻ ra/ổ có quan hệ chặt chẽ đến tuổicủa lợn nái và giảm nhanh sau 4, 5 tuổi Lợn đẻ lứa đầu tiên thường có số con đẻ ra,
khối lượng sơ sinh nhỏ hơn so với những lứa đẻ sau (Colin et al., 1998) Lợn mới
đẻ lứa đầu thường hay sợ hãi do đó tỷ lệ thụ thai thấp và tỷ lệ chết cao (Grandinson
et al., 2005).
* Số lần phối và phương thức phối giống
Gordon (1997) cho biết: số lần phối giống trong một lần động dục ở lợn nái ảnhhưởng tới số con đẻ ra/ổ Phối đơn trong một chu kỳ động dục ở lúc động dục caonhất có thể đạt được số con đẻ ra/ổ cao, nhưng phối hai lần trong một chu kỳ động
Trang 29dục làm tăng số con đẻ ra/ổ Khi phối giống cho lợn nái trực tiếp ba lần, mỗi lần cáchnhau 24 giờ tăng hơn 1,3 con/ổ so với phối hai lần.
Phương thức phối giống cũng ảnh hưởng khá rõ rệt Trong phối trực tiếp, ảnhhưởng của con đực rất rõ Thụ tinh nhân tạo có thể làm giảm tỷ lệ thụ thai do kỹ thuậtphối giống Theo Anon (1993), phối giống kết hợp giữa thụ tinh nhân tạo và nhảytrực tiếp có thể làm tăng 0,5 lợn con so với phối riêng rẽ (trích dẫn từ Gordon,1997) Phối giống bằng thụ tinh nhân tạo làm tỷ lệ thụ thai và số con đẻ ra/ổ đều thấp
hơn từ 0 - 10% so với phối giống trực tiếp (Colin et al., 1998), nhưng kết quả nghiên cứu của Alexopoulos et al (1997) thì ngược lại.
* Thời gian cai sữa
Kết quả phân tích 14.925 lứa đẻ của 39 đàn lợn nái ở Mỹ (Xue et al., 1993
trích dẫn từ Gordon, 1997) cho thấy: thời gian bú sữa của lợn con dài, khoảng cách
từ khi đẻ đến phối giống trở lại dài, khoảng cách lứa đẻ dài Điều đó ảnh hưởngkhông nhỏ đến hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn nái sinh sản do làm giảm số lứađẻ/nái/năm
Nghiên cứu của Gaustad - Aas et al (2004), Mabry et al (1997), cho biết:
phối giống sớm sau khi đẻ, tỷ lệ đẻ và số con đẻ ra/ổ thấp hơn so với phối giốngmuộn Theo Gordon (2004), giảm thời gian cai sữa từ 20 xuống 15 ngày sẽ làmgiảm 0,2 con trong ổ, giảm thời gian cai sữa từ 15 xuống còn 10 ngày sẽ làm giảmtrên 0,2 con trong ổ
Lợn nái cai sữa ở 28 - 35 ngày, thời gian động dục trở lại 4 - 5 ngày có thể
phối giống và có thành tích sinh sản tốt (Colin et al., 1998) Không nên phối giống
cho lợn nái sớm hơn 3 tuần sau khi đẻ, phối giống sớm sẽ làm giảm khả năng sinh
sản của lợn nái (Cole et al., 1975 trích dẫn từ Gordon, 1997).
Lợn nái phối giống sau khi cai sữa sớm có số lượng trứng rụng thấp (15,9 sovới 24,6) và số phôi ở ngày chửa thứ 11 ít Lợn nái cai sữa sớm có tỷ lệ thụ thai
thấp, số phôi sống ít và thời gian động dục trở lại dài (Deckert et al., 1998).
2.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ NGOÀI NƯỚC
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Trong những năm gần đây, việc ứng dụng di truyền phân tử trong chọn lọc giốngcải thiện năng suất chăn nuôi lợn đã đạt được những thành tựu nhất định Tuy nhiên,các nghiên cứu ứng dụng di truyền phân tử trên lợn đều tập trung vào việc đánh giá ảnh
Trang 30hưởng của một số gen như halothane, RN, MC4R, HFABF,… đến các tính trạng sinhsản của lợn.
Nghiên cứu ảnh hưởng của gen Halothane trên khả năng sinh trưởng, sinh sản vàchất lượng thịt lợn (Đinh Văn Chỉnh và cs 1999; Đỗ Đức Lực và cs 2011; Đỗ ĐứcLực và cs 2013; Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân 2001; Phan Xuân Hảo 2006).Nghiên cứu ảnh hưởng của 2 gen thụ thể estrogen và prolactin trên khả năngsinh sản (số con sơ sinh/ lứa đẻ) của lợn (Nguyễn Ngọc Tuân và cs 2004; NguyễnNgọc Tuân và Trần Thị Dân, 2005)
Nghiên cứu ảnh hưởng của ESR, FUT1, RNF4 trên lợn nái Yorkshire và Móngcái đến số con con sơ sinh sống/ổ ở lứa 1 (Trần Xuân Hoàn và cs)
Nghiên cứu đa hình gen IGF2 (intron 7 G162C) trên lợn Pietrain, Duroc,
Landrace và Yorkshire (Luc et al., 2014).
Nghiên cứu mối liên quan giữa đa hình gen H-FABP, FUT1, BPI với chấtlượng thịt và khả năng kháng bệnh của một số giống lợn ngoại và lợn bản địa Việt
Nam (Cuong et al 2012).
Yorkshire là giống lợn ngoại được nuôi phổ biến ở nước ta, chúng chiếm tỷ lệlớn trong cơ cấu đàn lợn nái Khả năng sinh sản và sinh trưởng của lợn Yorkshire đãđộc nhiều tác giả trong nước nghiên cứu và công bố
Kết quả nghiên cứu của Phạm Kim Dung (2005), về tăng khối lượng của cácgiống lợn ngoại Landrace và Yorkshire, đạt mức tương ứng 613,07 và 616,21g/ngày;tiêu tốn thức ăn tương ứng là 3,14 và 3,09kg TĂ/kg tăng khối lượng
Theo Phan Xuân Hảo (2007), khả năng tăng khối lượng và tiêu tốn thức ăn/kgTKL của lợn Yorkshire là 664,87g/ngày và 3,7kg Phùng Thị Vân và cs (2001), chobiết lợn Yorkshire giai đoạn từ 25 – 90kg có khả năng tăng khối lượng là640,3g/ngày Đặng Vũ Bình (2003), công bố về năng suất sinh sản của lợn Landrace
và Yorkshire được nuôi tại các cơ sở giống miền Bắc đạt năng suất thấp hơn vớinăng suất cùng giống nuôi tại các nước chăn nuôi tiên tiến Lợn nái Landrace vàYorkshire có tuổi đẻ lứa đầu trên 13 tháng, số lứa đẻ/nái/năm đạt 2,0 và sản xuấtđược 16,5 con lợn cai sữa/năm Đặng Vũ Bình và cs (2005), khi sử dụng nái lai F1giữa hai giống Landrace và Yorkshire cho thấy ưu thế lai thể hện rõ nhất ở các tínhtrạng số con đẻ ra, số con để nuôi, khối lượng sơ sinh/ổ, số con cai sữa và khối lượngcai sữa/ổ Phan Xuân Hảo (2002), Lợn Yorkshire giai đoạn từ 20 – 100kg có khả năngtăng khối lượng 619,74g/ngày Phan Xuân Hảo (2007) cho biết khả năng tăng khối
Trang 31lượng trung bình hàng ngày, tỷ lệ nạc, tiêu tốn thức ăn/kg TKL của lợn Yorkshire lầnlượt là 664,87g/ngày, 53,86% và 3,07g/kg.
Đặng Vũ Bình và cs (2001), nghiên cứu năng suất sinh sản của đàn lợn náingoại được nuôi ở các tỉnh miền Bắc trong khoảng thời gian từ 1996 – 2001 chokết quả số con sơ sinh/ổ của lợn Yorkshire là 10,12 con; số con sơ sinh sống/ổ là9,7 con; số con cai sữa/ổ là 8,25 con; khối lượng sơ sinh/ổ là 12,41 kg; khối lượng
sơ sinh/con là 1,28kg; tuổi đẻ lứa đầu là 395,33 ngày; khoảng cách lứa đẻ là 183,85ngày Tác giả cũng cho biết trại giống, lứa đẻ và năm là ba yếu tố ảnh hưởng có ýnghĩa thống kê đến hầu hết các tính trạng năng suất sinh sản của lợn nái Yorkshire.Tác giả Đoàn Xuân Trúc và cs (2001), nghiên cứa năng suất sinh sản của đàn lợnnái Landrace và Yorkshire nuôi tại Xí nghiệp Giống vật nuôi Mỹ Văn cho kết quảtuổi phối giống lần đầu của lợn Landrace và Yorkshire lần lượt là 262,74 và 251,6 –260,7 ngày; số lợn sơ sinh sống/ổ là 10,01 và 9,76 con; số lợn cai sữa/nái/năm là16,5 và 17,2 con
Tác giả Nguyễn Văn Đức và cs (2010), công bố năng suất sinh sản của lợnLandrace và Yorkshire nuôi tại huyện Đông Anh – Hà Nội: số con sơ sinh sống/ổlần lượt là 10,63 và 10,14 con; số con cai sữa/ổ là 9,0 và 8,85 con Hoàng Thị Thủy(2011), nghiên cứu năng suất sinh sản trên lợn nái Landrace và Yorkshire ở bốncông thức: nái Landrace nhân thuần, nái Landrace phối với đực Yorkshire, náiYorkshire nhân thuần, nái Yorkshire phối với đực Landrace nuôi tại Trung tânNghiên cứu lợn Thụy Phương cho kết quả tuổi phối giống lần đầu của bốn công thứctrên lần lượt là 227,73; 226,83; 227,88; 227,56 ngày; tuổ đẻ lứa đầu: 342,97; 341,54;343,11; 341,90 ngày; số con sơ sinh/ổ: 9,72; 10,14; 9,94; 10,25 con; số con sơ sinhsống/ổ: 9,60; 9,91; 9,82; 10,07 con; tỷ lệ sơ sinh sống: 98,62; 97,48; 98,57; 97,95%;khối lượng sơ sinh/ổ: 13,08; 13,65; 13,13; 13,63kg; khối lượng sơ sinh/con: 1,37;1,39; 1,34; 1,36kg; số con để nuôi: 9,37; 9,60; 9,55; 9,75 con; số con cai sữa/ổ:8,80; 9,09; 9,01; 9,98 con; tỷ lệ nuôi sống đến khi cai sữa: 91,91; 90,78; 90,86;89,19%; khối lượng cai sữa/ổ: 55,56; 59,54; 57,90; 55,29kg; khối lượng caisữa/con: 6,34; 6,56; 6,42; 6,15kg; thời gian cai sữa: 22,69; 22,59; 22,64; 22,63ngày; khoảng cách lứa đẻ: 153,98; 150,56; 150,01; 152,63 ngày
Tác giả Đoàn Phương Thúy (2015) công bố năng suất ính sản của lợn náiLandrace và Yorkshire nuôi tại Công ty TNHH lợn giống hạt nhân Dabaco: số con
sơ sinh sống/ổ tương ứng là 10,48 và 10,85 con; số con cai sữa/ổ: 10,35 và 10,31con; khối lượng cai sữa/ổ: 7,01 và 6,61kg/con
Trang 32Theo Nguyễn Thiện và cs (1995), lợn Yorkshire đã được cải thiện rõ rệt vềnăng suất sinh sản và sinh trưởng qua quá trình chọn lọc nhân thuần Nghiên cứucủa Phùng Thị Vân và cs (2000), cho biết kết quả nghiên cứu tuổi đẻ lứa đầu củalợn Yorkshire là 363 ngày Đoàn Xuân Trúc và cs (2000), khoảng cách lứa đẻ ở lợnYorkshire là 167,3 ngày, của Đặng Vũ Bình (1994) là 203,9 ngày Nghiên cứu của
Lê Thanh Hải và cs (2001), về số con sơ sinh sống/ổ là 10,2 con Kết quả số con sơsinh sống/ổ khác nhau như vậy là do kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng khác nhau, cùngvới điều kiện môi trường, chuồng trại, bệnh tật, khác nhau
Năng suất sinh trưởng là chỉ tiêu quan trọng đánh giá được mức độ nhanhlớn cũng như chất lượng của sản phẩm chăn nuôi Phạm Kim Dung (2005), tăngkhối lượng của các giống lợn ngoại Landrace và Yokshire đạt mức tương ứng là613,07g/ngày và 616,21g/ngày Tác giả Đoàn Phương Thúy và cs (2015), nghiêncứu khả năng sinh trưởng, độ dày mỡ lưng và định hướng chọn lọc đối với lợn đựcDuroc, Landrace và Yorkshire tại công ty lợn giống hạt nhân Dabaco cho biết:tăng khối lượng trung bình/ngày ở lợn Landrace và Yorkshire lần lượt là 796,26 và794,78g/ngày; độ dày mữ lưng là 12,10 và 12,07mm Độ dày mỡ lưng của nghiêncứu có sự khác nhau là do kỹ thuật đo cũng như thời điểm đo khác nhau Mặtkhác, do điều kiện môi trường, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng khác nhau
Trong những năm gần đây, khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, việc ứngdụng di tryền phân tử trong chọn lọc giống để cải thiện năng suất chăn nuôi lợnđạt được những thành tựu nhất định Tại Việt Nam, một số nghiên cứu về di truyềnphân tử trên đàn lợn đã được thực hiện Đinh Văn Chỉnh và cs (1998), đã thôngbáo về tần suất kiểu gen halothane của lợn Landrace, Yorkshire và con lại F1(L xY) Tác giả này đã cho biết ở lợn Landrace, tần suất kiểu gen halothane đồng hợp
tử trội (CC) chiếm 69,77%; dị hợp tử (CT) chiếm 28,68% và đồng hợp tủ lặn nhạycảm stress (TT) chiếm 1,55% Các chỉ tiêu này ở lợn Yorkshire lần lượt là 50,00%;33,33%; 0,00% Cũng theo Đinh Văn Chỉnh và cs (1994), trong một bài viết tổng hợp
đã đề cập đến tính nhạy cảm stress và phương pháp xác định tính nhạy cảm stress ởlợn nhờ những tiến bộ đó mà việc kiểm tra gen halothane ở lợn đã được áp dụng ởnước ta năm 1997 (Lê Minh Sắt, 1997) Theo Phan Xuân Hảo (2006), kiểu genhalothane ảnh hưởng rõ rệt đối với chỉ tiêu số con/ổ ở lợn nái Landrace, có ảnh hưởngnhưng không rõ rệt đối với năng suất sinh sản của lợn nái Yorkshire Số con cai sữa/ổ ởlợn nái Landrace có kiểu gen CC và CT là 8,65 và 8,47 con; ở lợn nái Yorkshire vớikiểu gen CC và CT tương ứng là 8,86 và 8,55 con Kiểu gen halothane có ảnh hưởng rõ
Trang 33tới chỉ tiêu thân thịt của lợn Landrace Tỷ lệ nạc và diện tích cơ thăn ở lợn Landrace cókiểu gen CT là 54,33% và 44,90 cm2 lớn hơn sơ với lợn mang kiểu gen CC (52,02% và42,50 cm2).
Tác giả Đỗ Đức Lực và cs (2008), khi đánh giá khả năng sinh trưởng của lợnPiétrain nuôi tại Hải Phòng cho rằng khối lượng trung bình của toàn đàn ở 2; 4; 5,5;8,5 tháng tuổi đật giá trị tương ứng là 19,05; 51,05; 85,82; 119,47 kg Ở từng thờiđiểm, ngoại trừ lần khảo sát đầu tiên, lợn đực có khối lượng cơ thể lớn hơn lợn cái,lợn mang kiểu gen CT cao hơn CC, tuy nhiên sự sai khác này không có ý nghĩathống kê (P>0,05) Tăng trọng toàn đàn trong thời gian nuôi hậu bị là 528,56g/ngày.Tăng trọng trung bình ở lợn đực là 546,48g, nhanh hơn lợn cái 529,29g, ở kiểu gen
CT cao hơn kiểu gen CC nhưng không có ý nghĩa thống kê Tiêu tốn thức ăn/kgtăng trong là 2,62kg Tỷ lệ nạc được đánh giá ở 8,5 tháng tuổi đạt 64,08% Đỗ ĐứcLực và cs (2011), khi nghiên cứu ảnh hưởng của gen halothane đến khả năng sinhtrưởng của lợn Piétrain cũng khẳng định rằng khối lượng lúc 2; 5,5 tháng tuổi, tăngkhối lượng trung bình hàng ngày, độ dày mỡ lưng, độ dày cơ thăn và tỷ lệ nạckhông chịu ảnh hưởng của kiểu gen halothane
Tác giả Hà Xuân Bộ và cs (2013), khẳng định có thể chọn những cá thể mangkiểu gen CC và CT đểlàm giống mà không ảnh hưởng đến các chỉ tiêu về năng suấtthân thịt, chât lượng và thành phần hóa học thịt khi nghiên cứu ảnh hưởng của genhalothane đến năng suất thân thịt của lợn Yorkshire
Khi nghiên cứu trên đàn lợn nái Piétrain và Duroc phối với đực Piétrain ĐỗĐức Lực và cs (2013) cho biết kiểu gen halothane (CC và CT) của nái cũng nhưcủa đực giống không ảnh hưởng đến các tính trạng sinh sản như số con đẻ ra/ổ; sốcon đẻ ra sống/ổ; số con cai sữa/ổ Tuy nhiên các chỉ tiêu về khối lượng ở thời điểm
sơ sinh và cai sữa theo kiểu gen halothane của đực Piétrain CC cao hơn đực Piétrain
CT (P<0,05) Năng suất sinh sản cao nhất ở nái Duroc CC tiếp đến Piétrain CC vàthấp nhất đối với nái Piétrain CT (P<0,05) Khi nghiên cứu ảnh hưởng của các kiểugen halothane đến các tính trạng sinh sản của đàn lợn nái Landrace và Yorkshire(Phan Xuân Hảo, 2006) đã chỉ ra rằng, kiểu gen halothan ảnh hưởng rõ rệt đối vớichỉ tiêu số con/ ổ ở lợn nái Landrace, có ảnh hưởng không rõ rệt đối với năng suấtsinh sản ở lợn nái Yorkshire Số con cai sữa/ổ ở lợn nái Landrace CC và CT là 8,65
và 8,47 con; ở lợn nái Yorkshire CC và CT tưng ứng là 8,86 và 8,55 con Gen ESR(Oestrogen receptor) liên quan mật thiết với quá trình mang thai và chức năng hoạtđộng của nó thông qua (ER estrogen receptor) thụ thể Khi phân tích đa hình đoạn
Trang 34gen ESR, Trần Xuân Hoàn và cs, đã thu được 3 kiểu gen tương ứng là AA, AB và
BB Khi nghiên cứu ảnh hưởng của gen Halothan đến năng suất sinh sản của lợn náiLandrace và con lai F1(Landrace x Yorkshire) (Đinh Văn Chỉnh và cs., 1999) đã chỉ
ra rằng số con đẻ ra, số con đẻ ra còn sống, số con để nuôi, số con 21 ngày và sốcon cai sữa/ổ ở lợn nái mang kiểu gen halothan CC cao hơn so với ở lợn CT
Tuy nhiên, ở nước ta việc nghiên cứu các ảnh hưởng của kiểu gen MUC4 đếncác tính trạng sản xuất của lợn chưa từng được nghiên cứu Các nghiên cứu ứngdụng di truyền phân tử trên lợn đếu tập trung vào các gen như: halothane, RN,MC4R, HFABF, IGF2, RNF4,
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Yorkshire là giống lợn được nuôi phổ biến ở nhiều nước có nền chăn nuôi tiêntiến trên thế giới Do có nhiều ưu điểm như tăng trọng nhanh, tỷ lệ nạc cao, khối lượnglớn, năng suất sinh sản khá, khả năng thích nghi tốt nên Yorkshire đang ngày càngđược nhân rộng ra khắp thế giới Ở Liên Xô cũ lợn Yorkshire chiếm 85%; ở châu Âuchiếm khoảng 54%, vì vậy đến nay có rất nhiều nghiên cứu trên giống lợn Yorkshire.Trong những năm đầu của thế kỷ XX, nội dung nghiên cứu của công tác giốnglợn chủ yếu là chọn lọc và nhân thuần nhưng từ nửa sau của thế kỷ này có thêm sựhiểu biết về ưu thế lai, sự phát triển của kỹ thuật thụ tinh nhân tạo trên lợn nên cácnước có nền công nghiệp tiên tiến đã phát triển mạnh lai kinh tế trên lợn Mới đầu,lai kinh tế chỉ áp dụng đợn giản như lai giữa hai giống lợn, về sau khi kỹ thuật ngàycàng phát triển thì người ta áp dụng các tổ hợp lai phức tạp từ 3, 4, 5 giống lợnnhằm nâng cao năng suất, chất lượng con giống trong quá trình sản xuất TheoHermesch và cs (1995); Alfonso và cs (1997), việc nghiên cứu chọn lọc dòng caosản và lai tạo tìm ra các tổ hợp lai đạt số cớn sinh sống/ổ cao, tỷ lệ nạc cao, tiêutốn thức ăn thấp, độ dày mỡ lưng thấp đã thành công lớn ở các nước có trình độchăn nuôi tiên tiến như: Mỹ, Đức, Đan Mạch, Canada, Anh, Hà Lan, Úc
Hiện nay, nước Mỹ sử dụng “hình tháp di truyền giống” và mô hình “ hìnhtháp di truyền cải tiến” để xây dựng hệ thống giống lợn Đối với mô hình truyềnthống, đàn cụ kỵ thường là đàn lợn nái Yorkshirecho phối với lợn đực Yorkshire
để sản xuất ra lợn Yorkshire thuần chủng ông bà Lợn nái Yorkshire ở đàn ông
bà được phối với lợn đực Landrace để sản xuất ra lợn bố mẹ F1 (L x Y) Để tạo
ra lợn thương phẩm người ta dùng nái F1 phối với lợn đực kết thúc nhưHampdhire, Duroc để sản xuất ra lợn lai 3 máu
Trang 35Trên thế giới, người ta không chỉ quan tâm tới các chỉ tiêu về số lượng: khả năngtăng khối lượng, mức độ tieu tốn thức ăn, tỷ lệ thịt nạc, dày mỡ lưng, dày cơ thăn, màcòn quan tâm tới các chỉ tiêu về chất lượng: màu sắc thịt, tỷ lệ mỡ giắt, độ mất nước, cấutrúc cũng như hương vị thịt Để giải quyết vấn đề này thì việc lai tạo các dòng đực lai để
có thể kết hợp được nhiều ưu điểm về chất lượng thịt của các giống là hướng chủ đạo,đặc biệt là trong công thức lai cuối để tạo ra lợn thương phẩm Các nước chăn nuôi tiêntiến trên thế giới đã xác định rõ dòng đực cuối cùng trong các chương trình lai và họ đãthu được hiệu quả cao trong chăn nuôi lợn
Danbred (2014), cho biết lợn Yorkshire nuôi tại trạm kiểm tra năng suất cómức tăng khối lượng trung bình đối với lợn đực là 986g/ngày; đối với lợn cái đạt949g/ngày Chen và cs (2003), độ dày mỡ lưng của lợn Yorkshire là 17,9mm
White và cs (1991), khi nghiên cứu trên 444 lợn nái Yorkshire cho kết quả tuổiđộng dục lần đầu là 201 ngày; số con sơ sinh sống của 20 ổ ở lứa 1 trung bình là 7,2con/ổ Hamon (1994), nghiên cứu trên 9.387 lứa đẻ của lợn Yorkshire ở 66 trại chothấy số con sơ sinh sống/lứa là 10,4 con; theo Bunter (1997), là 10,78 con; Haley và
cs (1995), là 10,03 con Tumaruk và cs (2000), nghiên cứu năng suất sinh sản củalợn nái Landrace và Yorkshire Thụy Điển thu từ 19 đàn hạt nhân bao gồm 20.275lứa đẻ của 6.989 nái thuần từ giai đoạn 1994 – 1997 cho kết quả số con sơ sinhsống/ổ lần lượt là 10,94 và 10,58 con; thời gian cai sữa đến phối giống là 5,6 và 5,4ngày; tỷ lệ đẻ là 82,8 và 80,9%; tuổi đẻ lứa đầu là 355,6 và 368 ngày; khoảng cáchlứa đẻ là 167,9 và 168,3 ngày Hughes (1995), cho biết kết quả nghiên cứu các tínhtrạng sinh sản ở lợn Yorkshire của Australia với số con sơ sinh/ổ là 11,3 con; số con
sơ sinh sống/ổ là 10,4 con; số con cai sữa/ổ là 9,2 con
Tổn thất trong chăn nuôi lợn nái sinh sản chủ yếu do tiêu chảy gây ra Do vậy,việc kiểm soát, phòng tránh được tiêu chảy ở lợn con góp phần tăng năng suất, tănghiệu quả kinh tế trong chăn nuôi
Theo Filistowicz and Jasek (2006), FUT1 và MUC4 là 2 locus xác định tính
nhạy cảm hay kháng vi khuẩn E.coli Những cá thể mang gen đột biến điểm này không có bểu hiện thụ thể cho kháng nguyên F18 của vi khuẩn E.coli, mà kháng
nguyên này chịu trách nhiệm gây tiêu chảy ở lợn con sơ sinh, lợn con trước và saucai sữa Vì vậy những cá thể mang kiểu gen AA sẽ có khả năng kháng được bệnh
tiêu chảy do độc tố của vi khuẩn E.coli Bao và cs (2008), kiểu gen FUT1 ảnh
hưởng đến số con cai sữa, khối lượng cai sữa/con và khối lượng cai sữa/ổ.cũng theo
Trang 36Bao và cs (2011), lợn mang kiểu gen AA tỷ lệ sống và khối lượng cao hơn so vớilợn mang kiểu gen AG và GG.
Peng và cs (2007); Jacobsen và cs (2011), gen MUC4 cũng đóng vai trò trong
việc kháng bệnh tiêu chảy ở lợn do vi khuẩn E.coli gây ra đặc biệt liên quan đến chủng E.coli F4ab/ac Nghên cứu đa hình gen cho thấy MUC4 có allen C nhạy cảm
và allen G kháng cới F4ab/ac
Nhiều nhà nghiên cứu trên thể giới cũng đã tìm và nghiên cứu trên một số genkhác có ảnh hưởng đến các tính trạng sinh sản như gen ADIPO, PEG1, LEP Lợnmang kiểu gen GG của ADIPO cho số con sơ sinh cao hơn so với kiểu gen AG; ABcủa PEG1 cao hơn AA và BB; CT của LEP cao hơn TT và CT (Suwanasopee andKoonawoottrittriron, 2011)
Luoreng et al (2007) khi nghiên cứu ảnh hưởng của 2 gen FSHbeta-1 vàFSHbeta-2 đã chỉ ra rằng alen A nằm trên locus của 2 gen FSHbeta 1 và FSHbeta 2đều cho số con sơ sinh, số con sơ sinh còn sống và số con cai sữa cao hơn so vớialen B Cụ thể cho locus FSHbeta-1, lợn mang kiểu gen AA có số con sơ sinh caohơn kiểu gen AB và BB là 0,96 và 1,85 con Với locus FSHbeta-2, lợn mang kiểugen AA cho số con sơ sinh cao hơn 1,57 và 2,15 lần lượt cho kiểu gen AB và BB.Lợn mang kiểu gen AA và AB cho số con sơ sinh sống cao hơn lần lượt là 1,00 và0,94 con so với kiểu gen BB
Gen PRLR có locus mang alen A và B Kiểu gen AB có số con sơ sinh cao hơn0,16 và 0,55 con lần lượt cho các kiểu gen BB và AA
Trang 37CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Lợn cái hậu bị Yorkshire: 324 con (96 AA, 157 AG và 71 GG)
- Lợn nái sinh sản Yorkshire: 129 con (50 AA, 66 AG và 13 GG)
3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Nội dung 1: Xác định tần suất allen và tần suất kiểu gen MUC4 trên lợn cái
hậu bị và lợn nái sinh sản Yorkshire
Nội dung 2: Ảnh hưởng của kiểu gen MUC4 đến năng suất sinh trưởng của
lợn cái hậu bị Yorkshire
Nội dung 3: Ảnh hưởng của kiểu gen MUC4, lứa đẻ, năm và mùa vụ đến năng
suất sinh sản của lợn nái Yorkshire
3.3 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
- Kiểu gen MUC4 được xác định tại Phòng thí nghiệm Di truyền, Bộ môn Ditruyền – Giống gia súc, Khoa Chăn nuôi, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
- Năng suất sinh trưởng của cái hậu bị và năng suất sinh sản của lợn náiYorkshire được thực hiện theo dõi tại Công ty TNHH lợn giống hạt nhân Dabaco từtháng 9/2017 đến tháng 07/2018 và có kế thừa số liệu của Trung tâm
3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.4.1 Xác định tần suất allen và tần suất kiểu gen MUC4 trên lợn cái hậu bị và lợn nái sinh sản Yorkshire
Mẫu đuôi của 324 lợn cái được thu thập tại thời điểm sơ sinh và mẫu mô taiđược thu thập từ 129 lợn nái Yorkshire tại Công ty TNHH lợn giống hạt nhânDabaco Mẫu được bảo quản ở nhiệt độ -20°C tại Phòng thí nghiệm Di truyền của
Bộ môn Di truyền – Giống gia súc, Khoa Chăn nuôi, Học viện Nông nghiệp ViệtNam đến khi tách chiết ADN
Tách chiết ADN được thực hiện theo phương pháp của Sambrook et al.
(1989) Phân tích kiểu gen MUC4 bằng kỹ thuật PCR/RFLP (Polymerase chainreaction/ Restriction fragment lenghth polymorphism)
Phản ứng PCR được thực hiện nhằm khuếch đại số lượng đoạn DNA đích có