ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ỔN ĐỊNH DÂN CƯ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ VÙNG HỒ THỦY ĐIỆN HÒA BÌNH Dự án thủy điện Hòa Bình được khởi công xây dựng năm 1979 và hoàn thành toàn bộ công trình vào năm 1994 sau 15 năm xây dựng. Nhà máy thủy điện có tổng công suất 8 tổ máy là 1920 MW, sản lượng điện hàng năm là 8,16 tỷ KWh. Công trình thủy điện Hòa Bình được đầu tư xây dựng nhằm thực hiện các chức năng; chống lũ, cấp thủy lợi cho thủ đô Hà Nội và vùng đồng bằng sông Hồng ; đảm bảo giao thông đường thủy ; cung cấp điện cho nền kinh tế quốc gia. Hồ thủy điện có lưu vực nằm trên địa bàn các huyện Đà Bắc, Cao Phong, Tân Lạc, Mai Châu và Thành phố Hòa Bình có tổng diện tích tự nhiên 78.430,83 ha, đất đai phần lớn là đất đồi, núi xen lẫn một số bãi bằng, một số nơi có diện tích đất bằng nhỏ đã được nhân dân tận dụng cấy lúa, làm màu. Những dải đất bằng rộng dọc hai bên bờ sông Đà đã bị ngập hết, nhân dân canh tác chủ yếu trên đất dốc, diện tích đất rừng phòng hộ xung yếu cho hồ sông Đà chiếm tỷ trọng lớn. Do vậy, diện tích đất đai có thể gieo trồng bình quân đầu người vùng dự án thấp hơn so với nhiều vùng khác trong tỉnh 1. Đánh giá việc thực hiệc các chính sách ổn định, tái dân cư vùng hồ thủy điện Hòa Bình Đánh giá chung trong quá trình triển khai thực hiện hai dự án trên đã mang lại nhiều thay đổi về kinh tế xã hội cho các xã trong vùng hồ, đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện và nâng cao, tỷ lệ hộ nghèo giảm dần qua các năm, các công trình cơ sở hạ tầng được xây dựng đồng bộ, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Tuy nhiên, cuộc sống của các hộ dân tái định cư thủy điện Hòa Bình vẫn còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo cao...
Trang 1ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ỔN ĐỊNH DÂN CƯ,
TÁI ĐỊNH CƯ VÙNG HỒ THỦY ĐIỆN HÒA BÌNH
ThS, Vũ Thế Duy Khoa QLNN về Xã hội
Dự án thủy điện Hòa Bình được khởi công xây dựng năm 1979 và hoàn thành toàn bộ công trình vào năm 1994 sau 15 năm xây dựng Nhà máy thủy điện có tổng công suất 8 tổ máy là 1920 MW, sản lượng điện hàng năm là 8,16 tỷ KWh Công trình thủy điện Hòa Bình được đầu tư xây dựng nhằm thực hiện các chức năng; chống lũ, cấp thủy lợi cho thủ đô Hà Nội và vùng đồng bằng sông Hồng ; đảm bảo giao thông đường thủy ; cung cấp điện cho nền kinh tế quốc gia Hồ thủy điện có lưu vực nằm trên địa bàn các huyện Đà Bắc, Cao Phong, Tân Lạc, Mai Châu và Thành phố Hòa Bình có tổng diện tích tự nhiên 78.430,83 ha, đất đai phần lớn là đất đồi, núi xen lẫn một số bãi bằng, một số nơi có diện tích đất bằng nhỏ đã được nhân dân tận dụng cấy lúa, làm màu Những dải đất bằng rộng dọc hai bên bờ sông
Đà đã bị ngập hết, nhân dân canh tác chủ yếu trên đất dốc, diện tích đất rừng phòng hộ xung yếu cho hồ sông Đà chiếm tỷ trọng lớn Do vậy, diện tích đất đai có thể gieo trồng bình quân đầu người vùng dự án thấp hơn so với nhiều vùng khác trong tỉnh
1 Đánh giá việc thực hiệc các chính sách ổn định, tái dân cư vùng hồ thủy điện Hòa Bình
Đánh giá chung trong quá trình triển khai thực hiện hai dự án trên đã mang lại
nhiều thay đổi về kinh tế - xã hội cho các xã trong vùng hồ, đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện và nâng cao, tỷ lệ hộ nghèo giảm dần qua các năm, các công trình cơ sở hạ tầng được xây dựng đồng bộ, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững
Tuy nhiên, cuộc sống của các hộ dân tái định cư thủy điện Hòa Bình vẫn còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo cao Do việc di dân tái định cư hồ thủy điện Hòa
Trang 2Bình từ năm 1976 – 1994 không có quy hoạch tổng thể, không đồng bộ, chỉ di vén lòng hồ, dân cư sống rải rác trên địa bàn rộng lớn, dẫn đến thiếu đất canh tác, sản xuất; việc ổn định cuộc sống và sản xuất bền vững, lâu dài cho người dân vùng hồ sông Đà còn gặp nhiều khó khăn do phần lớn hộ dân tái định cư là đồng bào dân tộc thiểu số, bản sắc văn hoá khác nhau và tập quán canh tác lạc hậu; chế độ chính sách chưa được hoàn thiện và vùng dự án có độ dốc cao, địa hình khó khăn bị chia cắt do mưa lũ sói lở, làm hư hỏng nên quá trình thực hiện chưa lường tính hết; các công trình cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân còn thiếu, chưa đồng bộ và vững chắc Tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn ở mức cao 36%; còn 20% số
hộ chưa được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh; có 10/36 xã, phường có chưa có trạm y tế xã
Mặc dù được Chính phủ, các cấp các ngành quan tâm song thực trạng các xã vùng dự án còn gặp một số khó khăn, tồn tại chủ yếu sau:
- Do tác động của công trình, những năm gần đây trên địa bàn Hồ thủy điện
đã xuất hiện vùng tiểu khí hậu tiêu cực, thiên tai xảy ra nhiều, đã xuất hiện thêm nhiều điểm có nguy cơ cao về sụt lún, sạt lở đất, lũ quét gây nguy hiểm đến tính mạng và tài sản của nhân dân Do đó, phải bổ sung thêm đối tượng và địa điểm dân
cư để sắp xếp, bố trí các hộ dân tới các khu vực an toàn và ổn định Ngoài ra, một
số điểm tái định cư trong Đề án nguồn nước cấp không đảm bảo phục cho sinh hoạt và sản xuất của người dân và điều kiện để bố trí đất sản xuất cho các hộ dân không thuận lợi
- Về đầu tư hỗ trợ phát triển sản xuất, quá trình triển khai thực hiện hỗ trợ đầu
tư phát triển sản xuất đã gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, một số hạng mục đầu tư chưa thực sự phù hợp với thực tiễn trên địa bàn các xã vùng dự án, khó triển khai sâu rộng đến đại đa số nhân dân vùng dự án (như xây dựng các mô hình sản xuất,
hỗ trợ trồng rừng…); việc thực hiện hỗ trợ phát triển sản xuất cho người dân còn diễn ra chậm và nhỏ lẻ, số lượng người dân được hưởng chính sách hỗ trợ trực tiếp không đáng kể;
Trang 3- Về đầu tư hệ thống cơ sở hạ tầng, tuy đã giải quyết được phần lớn cơ sở hạ tầng thiết yếu, song mới chỉ là bước đầu so với Đề án đã được phê duyệt Do đặc thù của các xã trong vùng Đề án có địa hình đồi núi, có độ dốc cao, bị chia cắt, do mưa lũ làm xói lở dẫn đến trong quá trình triển khai thực hiện nhiều công trình phát huy hiệu quả kinh tế hạn chế Bên cạnh đó, trong những năm qua, chế độ, chính sách của Nhà nước có nhiều thay đổi, nguồn vốn đầu tư cho đề án không đảm bảo kế hoạch, tiến độ đề ra dẫn đến nhiều dự án không đồng bộ, thiếu sự kết nối nên hiệu quả kinh tế, xã hội thấp
2 Những giải pháp nhằm ổn định dân cư và cải thiện đời sống đồng bào dân tộc thiểu số Vùng hồ Thủy điện Hòa Bình.
a Giải pháp về ổn định đời sống, tái định cư đối với đồng bào dân tộc:
- Khai thác đồng bộ tiềm năng thế mạnh các xã vùng hồ như: phục vụ khách
du lịch, nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi đại gia súc, gia cầm, theo hướng phát triển kinh tế mang tính bền vững; có chính sách thu hút các nhà đầu tư vào khai thác tiềm năng, lợi thế của vùng hồ như: du lịch lòng hồ, du lịch sinh thái, nuôi trồng thủy sản, chế biến nông, lâm thủy sản
- Đào tạo nghề, tạo nguồn nhân lực có kỹ thuật, chuyên môn để phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế ở địa phương;
- Tạo điều kiện hỗ trợ cho các hộ dân có nguồn vốn phù hợp để đầu tư vào phát triển sản xuất, trồng rừng kinh tế, khai hoang ruộng bậc thang, chăn nuôi gia súc, gia cầm và nuôi cá lồng trên sông
- Phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, công nghiệp nhỏ và vừa; phát triển các dịch vụ trên cơ sở tăng cường năng lực cho nhân dân để khai thác lợi thế địa lý, tiềm năng về đất đai, sông hồ, tài nguyên phục vụ sản xuất hàng hóa Phấn đấu tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ đạt từ 20 - 25% trong cơ cấu kinh tế các
xã vùng hồ; tạo điều kiện để người dân tiếp cận được các dịch vụ sản xuất và thị
Trang 4trường tiêu thụ sản phẩm Giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp xuống còn 60% trong lao động xã hội, tăng tỷ lệ lao động được đào tạo nghề lên 40% trong nông thôn;
- Xây dựng đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm phát triển bền vững cho nhân dân vùng hồ đạt tiêu chí nông thôn mới;
- Phát triển giáo dục, y tế, văn hóa - xã hội cho nhân dân vùng hồ ngang bằng với các khu vực khác trong tỉnh;
- Đầu tư phát triển rừng phòng hộ kết hợp với rừng kinh tế nhằm nâng cao thu nhập của người dân và bảo vệ môi trường sinh thái; nâng tỷ lệ độ che phủ rừng của vùng hồ đạt 60%
b Giải pháp về giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc:
- Thời gian tới cần tiếp tục đầu tư, tôn tạo, bảo tồn và phát huy các di tích lịch
sử văn hóa, chú trong xây dựng các công trình văn hóa trọng điểm Xây dựng và nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa nhất là cấp cơ sở Nêu cao vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ Hỗ trợ hoạt động cho các đội văn nghệ quần chúng của đồng bào các dân tộc vùng lòng hồ Thủy điện Hòa Bình hoạt động thường xuyên, bố trí ngân sách cho các hoạt động văn hóa để bảo tồn những phong tục văn hóa tốt đẹp Đó cũng chính những giải pháp cơ bản để đồng bào các dân tộc vùng lòng hồ Thủy điện Hòa Bình tiếp tục bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc theo đúng tinh thần Nghị quyết Trung ương 8
đã đề ra
- Tây Bắc được biết đến từ lâu với một nền văn hóa đa dạng, giàu bản sắc, múa xoè của người Thái, múa khèn của người H'mông, múa bông của người Mường… Những nét văn hóa đó làm nên bản sắc riêng của các dân tộc vùng Tây Bắc Trong số những hộ dân phải di chuyển cho hai dự án thủy điện lớn, đông nhất
là số dân của đồng bào dân tộc Mường Văn hóa của họ mang bản sắc đặc trưng
Trang 5của vùng Tây Bắc, trong đó đặc sắc là văn hóa bản làng, kiến trúc và không gian nhà ở, các dụng cụ sinh hoạt, sản xuất Trong quá trình di dân tái định cư cho các đồng bào dân tộc thiểu số phải bảo đảm giữ gìn bản sắc văn hóa của đồng bào dân tộc Giữ gìn bản sắc văn hóa không phải là việc làm vội vàng và có thể giải quyết ngay trong bộn bề câu chuyện tái định cư Khi di chuyển đến nơi mới, điều kiện sản xuất thay đổi, điều kiện sống thay đổi truyền thống văn hoá, sinh hoạt trong không gian môi trường còn mới mẻ, lạ lẫm chính vì vậy, việc phát huy, gìn giữ bản sắc văn hóa là một thách thức lâu dài đặt ra khi giải quyết vấn đề tái định cư
7 Những đề xuất, kiến nghị :
- Tăng cường phối hợp lồng ghép các dự án chương trình 134; 135; dự án giảm nghèo, chương trình nông thôn mới và các dự án bằng nguồn vốn khác… trên địa bàn các xã vùng hồ sông Đà;
- Chính phủ cho áp dụng cơ chế, chính sách về hỗ trợ phát triển sản xuất theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ cho toàn bộ phạm
vi Đề án đã được phê duyệt tại Quyết định số 84/QĐ-TTg ngày 19/01/2015 của Thủ tướng Chính phủ
- Các Bộ, ngành của Trung ương quan tâm xem xét cân đối nguồn vốn kế hoạch hàng năm để ưu tiên bố trí vốn cho Đề án ổn định dân cư phát triển kinh
tế-xã hội vùng chuyển dân sông Đà theo Quyết định số 84/QĐ-TTg ngày 19/01/2015 của Thủ tướng Chính phủ để đảm bảo đạt được mục tiêu của Đề án sớm ổn định đời sống nhân dân./