THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ỔN ĐỊNH DÂN CƯ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ VÙNG HỒ THỦY ĐIỆN HÒA BÌNH 1. Khái quát về thực trạng đời sống, sinh hoạt của đồng bào dân tộc trước khi xây dựng thủy điện Hòa Bình Hòa Bình nói chung và vùng xây dựng thủy điện Hòa Bình nói riêng là vùng đất cư trú lâu đời của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng tây bắc với nền văn hóa đa dạng, đặc sắc trong đó dân tộc Mường chiếm đa số. Vùng hồ thủy điện trước đây là nơi cư trú của dân cư các xã Tân Lập, Dân Lập, Hào Tráng và nổi tiếng là Chợ Bờ, Suối Rút (các địa danh này nay không còn). Riêng Chợ Bờ đã là thủ phủ của tỉnh Hòa Bình những năm đầu thành lập, năm 1886. Đây là một vùng lòng chảo rộng lớn hàng ngàn hecta đất màu mỡ phù xa chạy dọc hai bên dòng sông Đà, với Thác bờ hùng vĩ đã đi vào lịch sử, là vùng đất giao thông thủy, bộ khá thuận lợi cho giao thương giữa vùng đồng bằng và các tỉnh miền tây bắc của tổ quốc. Chợ bờ và các xã trong vùng lòng chảo này được đánh giá là có điều kiện phát triển kinh tế. Chợ Bờ đã được lựa chọn đặt huyện lỵ của huyện Đà Bắc, do có sự đan xen về dân cư giữa các dân tộc, trong đó có khá nhiều đồng bào từ miền xuôi lên đây buôn bán và xây dựng quê hương mới nên khá phát triển. Cơ cấu dân tộc gồm ; dân tộc Mư¬ờng chiếm 73%, Kinh 18%, các dân tộc Thái, Tày, Dao 9% do chiếm tỉ lệ lớn nên văn hóa dân tộc Mường với hệ thống phong tục, tập quán (cả hủ tục) luôn giữ vai trò chủ đạo trong toàn bộ đời sống của người dân.Tuy nhiên, do điều kiện chung của đất nước và của tỉnh miền núi, cơ sở hạ tầng nhiều thấp kém, nhất là nhiều phong tục tập quán còn lạc hậu nên đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng hồ thủy điện Hòa Bình trước đây còn nhiều khó khăn. Sản xuất mang nặng tính tự cung tự cấp, sống dựa vào thiên nhiên là chủ yếu, bao gồm làm ruộng nước, khai thác lâm sản, đánh bắt cá sông và một phần (chủ yếu người kinh) làm nghề buôn bán nhỏ. Cơ sở hạ tầng, giáo dục, y tế, văn hóa xã hội theo cơ chế bao cấp chung của đất nước sau chiến tranh. 2. Công tác di dân tái định cư, ổn định dân cư Công trình thủy điện Hòa Bình Năm 1976 dự án bắt đầu di dân giải phóng mặt bằng,với khẩu hiệu «tất cả vì dòng điện ngày mai » « tất cả vì sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước »... đã có 9.214 hộ phải di chuyển để dành đất cho công trình thế kỷ này, trong đó chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số. Chiến dịch chuyển dân được tiến hành khẩn trương gấp rút để đảm bảo tiến độ tích nước của hồ thủy điện, do tính toán ban đầu chưa chính xác mức độ ngập nước nên người dân phải di chuyển ba lần với cao trình (cốt) 60, 80, và 120 mét. Chính sách khi triển khai dự án công trình thủy điện không có thu hồi đất, không bồi thường, không khu tái định cư, việc tổ chức cuộc sống cho nhân dân cũng không được quan tâm nên đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó khăn.
Trang 1THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ỔN ĐỊNH DÂN CƯ,
TÁI ĐỊNH CƯ VÙNG HỒ THỦY ĐIỆN HÒA BÌNH
PGS TS Vũ Trọng Hách Khoa QLNN về Xã hội
1 Khái quát về thực trạng đời sống, sinh hoạt của đồng bào dân tộc trước khi xây dựng thủy điện Hòa Bình
Hòa Bình nói chung và vùng xây dựng thủy điện Hòa Bình nói riêng là vùng đất cư trú lâu đời của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng tây bắc với nền văn hóa
đa dạng, đặc sắc trong đó dân tộc Mường chiếm đa số Vùng hồ thủy điện trước đây là nơi cư trú của dân cư các xã Tân Lập, Dân Lập, Hào Tráng và nổi tiếng là Chợ Bờ, Suối Rút (các địa danh này nay không còn) Riêng Chợ Bờ đã là thủ phủ của tỉnh Hòa Bình những năm đầu thành lập, năm 1886 Đây là một vùng lòng chảo rộng lớn hàng ngàn hecta đất màu mỡ phù xa chạy dọc hai bên dòng sông Đà, với Thác bờ hùng vĩ đã đi vào lịch sử, là vùng đất giao thông thủy, bộ khá thuận lợi cho giao thương giữa vùng đồng bằng và các tỉnh miền tây bắc của tổ quốc Chợ
bờ và các xã trong vùng lòng chảo này được đánh giá là có điều kiện phát triển kinh tế Chợ Bờ đã được lựa chọn đặt huyện lỵ của huyện Đà Bắc, do có sự đan xen về dân cư giữa các dân tộc, trong đó có khá nhiều đồng bào từ miền xuôi lên đây buôn bán và xây dựng quê hương mới nên khá phát triển
Cơ cấu dân tộc gồm ; dân tộc Mường chiếm 73%, Kinh 18%, các dân tộc Thái, Tày, Dao 9% do chiếm tỉ lệ lớn nên văn hóa dân tộc Mường với hệ thống phong tục, tập quán (cả hủ tục) luôn giữ vai trò chủ đạo trong toàn bộ đời sống của người dân.Tuy nhiên, do điều kiện chung của đất nước và của tỉnh miền núi, cơ sở hạ tầng nhiều thấp kém, nhất là nhiều phong tục tập quán còn lạc hậu nên đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng hồ thủy điện Hòa Bình trước đây còn nhiều khó khăn Sản xuất mang nặng tính tự cung tự cấp, sống dựa vào thiên nhiên là chủ yếu, bao gồm làm ruộng nước, khai thác lâm sản, đánh
Trang 2bắt cá sông và một phần (chủ yếu người kinh) làm nghề buôn bán nhỏ Cơ sở hạ tầng, giáo dục, y tế, văn hóa xã hội theo cơ chế bao cấp chung của đất nước sau chiến tranh
2 Công tác di dân tái định cư, ổn định dân cư Công trình thủy điện Hòa Bình
Năm 1976 dự án bắt đầu di dân giải phóng mặt bằng,với khẩu hiệu «tất cả vì dòng điện ngày mai » « tất cả vì sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước » đã có 9.214 hộ phải di chuyển để dành đất cho công trình thế kỷ này, trong đó chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số Chiến dịch chuyển dân được tiến hành khẩn trương gấp rút để đảm bảo tiến độ tích nước của hồ thủy điện, do tính toán ban đầu chưa chính xác mức độ ngập nước nên người dân phải di chuyển ba lần với cao trình (cốt) 60, 80, và 120 mét Chính sách khi triển khai dự án công trình thủy điện không có thu hồi đất, không bồi thường, không khu tái định cư, việc
tổ chức cuộc sống cho nhân dân cũng không được quan tâm nên đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó khăn
Sau nhiều năm kiến nghị, năm 1994 Vùng chuyển dân thuỷ điện Hoà Bình mới được Chính phủ xác lập Đề án ổn định dân cư phát triển kinh tế xã hội vùng chuyển dân sông Đà gồm 36 xã, phường của 5 huyện Đà Bắc, Mai Châu, Tân Lạc, Cao Phong, Kim Bôi và thành phố Hoà Bình Dân cư được bố trí tập trung hoặc xen ghép tại 36 xã, phường trong tỉnh Hoà Bình với tổng số dân 16.913 hộ, 69.275 khẩu được chia thành 2 vùng:
- Các xã trong vùng hồ sông Đà: gồm 22 xã với 12.724 hộ ;
- Các xã ngoài vùng hồ trực tiếp đón nhận dân vùng hồ sông Đà gồm 14 xã với: 4.189 hộ (chưa kể trên 1200 hộ đã được bố trí tái định cư tại các tỉnh Gia lai, Kon Tum, Đắk Lắk, Lâm Đồng trước đây)
3 Tác động của Dự án thủy điện Hòa Bình đến đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số vùng lòng hồ.
Để xây dựng Nhà máy thủy điện Hòa Bình, dự án phải thu hồi khoảng trên 78 ngàn hécta thuộc các huyện Đà Bắc, Mai Châu, Tân Lạc, Kỳ Sơn(gồm cả Cao phong) và TP Hòa Bình, trong đó 4 xã xóa sổ hoàn toàn(Tân lập, Dân lập, Hào
Trang 3Tráng, Thị trấn Chợ bờ) tác động đến 16.913 hộ, 69.275 khẩu Đất ở và đất sản xuất
là những thách thức và trực tiếp tác động đến đời sống kinh tế của hầu hết người dân Ngoại trừ số hộ được chuyển dân vào các tỉnh Tây nguyên đảm bảo về đất ở và đất sản xuất nên cuộc sống sớm ổn định còn lại đến nay, hầu hết những hộ tái định
cư tại chỗ (chuyển vén) hoặc tái định cư xen ghép trong tỉnh đều gặp khó khăn do thiếu đất sản xuất
Vùng hồ thủy điện trước đây là vùng đất cổ, là nơi cư trú lâu đời của đồng bào các dân tộc thiểu số, nơi hình thành nhiều giá trị văn hóa, lịch sử lâu đời gắn bó với đời sống sinh hoạt của người dân Mường, Thái, Dao, Tày Nhiều công trình văn hóa, tâm linh, tín ngưỡng thấm đẫm nét văn hóa đặc trưng của đồng bào không thể di rời nằm lại dưới đáy hồ nay chỉ còn là những hoài niệm của người dân Cuộc sống thay đổi, khó khăn ở nơi định cư mới dẫn đến truyền thống văn hóa dân tộc ngày càng mai một, phong tục tập quán, tín ngưỡng cũng dần biến mất, pha tạp, lai căng
Tái định cư cho người dân ban đầu chủ yếu là tự phát, không có quy hoạch, cơ
sở hạ tầng kinh tế xã hội không thể đáp ứng do chi phí lớn(các xã ven hồ có khoảng
100 chòm xóm chỉ có 5- 10 hộ dân) nên đời sống văn hóa, giáo dục, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân gặp nhiều khó khăn Môi trường sinh thái chịu nhiều tác động của con người, rừng bị ngập, bị tàn phá lấy đất sản xuất, lấy gỗ tạo thành những mảng đồi trọc, rừng nghèo kiệt không còn tác dụng phòng hộ hoặc giá trị kinh tế thấp đã tác động trực tiếp đến đời sống của người dân và an toàn hồ chứa công trình thủy điện
4 Các chính sách ổn định dân cư, tái định cư vùng lòng hồ thủy điện Hòa Bình:
a Việc ban hành các chính sách của nhà nước:
- Ngày 7/12/1994 Thủ tướng Chính phủ có quyết định số 747/QĐ-TTg phê duyệt luận chứng kinh tế kỹ thuật ổn định dân cư phát triển kinh tế - xã hội vùng chuyển dân sông Đà thuộc 2 tỉnh Sơn La và Hoà Bình; Ngày 18/6/2002 Thủ tướng Chính phủ có quyết định số 472/QĐ-TTg phê duyệt Dự án ổn định dân cư phát triển kinh tế - xã hội vùng chuyển dân sông Đà giai đoạn 2002 - 2006 tỉnh Hoà Bình; Ngày 09/10/2009 Thủ tướng Chính phủ có quyết định số 1588/QĐ-TTg phê duyệt
Trang 4Đề án ổn định dân cư phát triển kinh tế - xã hội vùng chuyển dân sông Đà giai đoạn
2009 - 2015 tỉnh Hoà Bình Ngày 19/01/2015 Thủ tướng Chính phủ có quyết định số 84/QĐ-TTg phê duyệt điều chỉnh Đề án ổn định dân cư phát triển kinh tế - xã hội vùng chuyển dân sông Đà giai đoạn 2009-2015 tỉnh Hòa Bình thực hiện đến năm 2020
b Một số chính sách cụ thể đã thực hiện :
- Khi Nhà nước có chủ trương lấy mặt bằng xây dựng nhà máy thủy điện Hòa Bình Nhà nước có chính sách hỗ trợ mỗi hộ dân di chuyển, 03 hào (giá thời điểm 1976) và 6 tháng gạo/hộ dân (bình quân 15 kg/khẩu);
- Quá trình di chuyển nhà và tài sản giai đoạn chưa ổn định mặt nước do dân tư thực hiện bằng hình thức di vén; khi ổn định mặt nước (cốt 120m) thì không còn đất sản xuất (bị ngập) việc di chuyển nhà và tài sản được nhà nước hỗ trợ (nội xã 800.000đ/hộ, ngoài xã 1.500.000đ/hộ) và cấp đất ở và đất sản xuất, xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng
- Quá trình di chuyển nhà và tài sản giai đoạn ổn định mặt nước 2013-2015 (cốt 120m) được hỗ trợ cấp đất ở, xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng (Theo Quyết định
số 1776/QĐ-TTg ngày 21/11/2012 của Thủ tướng Chính phủ hỗ trợ bình quân 70.000.000 đ/hộ, trong đó 20.000.000đ hỗ trợ di chuyển và 50.000.000đ tạo quỹ đất ở
và xây dựng cơ sở hạ tầng)
c Đánh giá kết quả thực hiện chính sách ổn định dân cư giai đoạn 1994-2014
Thực hiện việc di, giãn dân, tái định cư theo quy hoạch đã tạo mặt bằng để xây dựng hồ chứa và nhà máy thủy điện Hòa Bình; giữ được rừng đầu nguồn, nguồn nước phục vụ vận hành nhà máy thủy điện cũng như tích và điều tiết nước tưới cho khu vực đồng bằng sông Hồng Bên cạnh đó kết quả đầu tư của dự án ổn định dân cư phát triển kinh tế - xã hội vùng chuyển dân sông Đà đến nay đã có tác dụng tích cực, làm thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội, mang lại hiệu quả thiết thực trong công tác xóa đói, giảm nghèo, ổn định đời sống nhân dân, an ninh chính trị
và trật tự an toàn xã hội tại khu vực và lưu vực lòng hồ sông Đà cụ thể:
Trang 5* Tác động về mặt kinh tế
Giải quyết được nhu cầu cấp thiết về ổn định dân cư cho hơn 1.200 hộ dân vùng hồ sông Đà có nhu cầu di dời do ảnh hưởng thiên tai, tách hộ, giãn hộ Người dân khi chuyển đến nơi ở mới có môi trường sinh sống mới tốt hơn, ổn định và phát triển bền vững hơn nơi ở cũ, người dân được trực tiếp hưởng lợi từ hiệu quả của các dự án mang lại, tạo điều kiện pháp lý cho hộ gia đình yên tâm sinh sống và sản xuất trên mảnh đất của mình An ninh lương thực được đảm bảo, từng bước giảm thiểu tỉ lệ hộ nghèo còn 36%(năm 2014) kinh tế hộ gia đình phát triển, đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào từng bước được nâng lên
* Tác động về văn hoá - xã hội
Cơ sở hạ tầng được cải thiện đã từng bước thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ sản xuất tự túc sang sản xuất hàng hoá dịch vụ, đặc biệt là phát triển kinh tế lâm nghiệp, chế biến nông lâm sản, nuôi trồng và đánh bắt thủy sản là những tiềm năng to lớn của vùng lòng hồ Người dân có thêm điều kiện giao lưu tiếp cận với văn hoá, khoa học
kỹ thuật tiên tiến; lựa chọn ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, làm tăng chất lượng giá trị sản phẩm; tạo cho người dân nhiều cơ hội tiếp cận với văn hoá tiến bộ
và tạo thêm việc làm, nhiều ngành nghề ra đời thu hút lao động nông thôn Các cơ
sở giáo dục, y tế được tăng cường, thông tin liên lạc được tăng lên từng bước thay đổi và xoá bỏ các hủ tục lạc hậu, đẩy lùi các tệ nạn xã hội, mang lại niềm tin cho nhân dân, các các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được tuyên truyền phổ biến đến người dân kịp thời
* Tác động về môi trường
Tạo nên thảm thực vật phong phú thông qua trồng rừng mới, khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên, các vườn cây lâu năm, xây dựng các mô hình canh tác trên đất dốc, cải thiện môi trường sống theo xu hướng bền vững, tạo điều kiện phát triển các ngành chăn nuôi, du lịch, dịch vụ,