Ảnh hưởng của thời gian và áp suất tẩm nhựa UF đến độ tăng khối lượng của mẫu compozit từ gỗ Bồ đề .... Ảnh hưởng của thời gian và áp suất tẩm nhựa UF đến độ tăng thể tích của mẫu compoz
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHẠM THỊ THẢO
NGHIÊN CỨU NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GỖ BỒ ĐỀ
(STYRAX TONKINENSIS) TỪ NHỰA UREA FORMALDEHYDE (UF)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Lâm nghiệp
Khóa học : 2014 – 2018 Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Văn Thái
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình nghiên cứu thực nghiệm hoàn toàn trung thực, chưa công bố trên các tài liệu, nếu có gì sai sót tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Thái Nguyên, ngày…… tháng…… năm 2018
Xác nhận của giáo viên hướng dẫn
Đồng ý cho bảo vệ kết quả trước
Hội đồng khoa học
TS Nguyễn Văn Thái
Người viết cam đoan
Phạm Thị Thảo
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên đã sửa sai sót sau khi hội đồng
chấm yêu cầu
(Ký và ghi rõ họ tên)
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Thời gian học tập và nghiên cứu tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã dần kết thúc và giờ đây sinh viên chúng tôi được tiến hành thực hiện khoá luận tốt nghiệp Đại học, việc này giúp sinh viên chúng tôi củng cố lại kiến thức đã và đang được học ở nhà trường và biết vận dụng lý thuyết vào thực tiễn Từ đó mỗi sinh viên khi ra trường sẽ có nhiều kinh nghiệm phục vụ cho việc hoàn thiện hơn kiến thức lí luận và nâng cao trình độ chuyên môn, phương pháp làm việc, thái độ và năng lực công tác khi ra trường
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự nhất trí của nhà trường, ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp và sự hướng dẫn trực tiếp của
thầy giáo TS Nguyễn Văn Thái tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên
cứu nâng cao chất lượng gỗ bồ đề (Styrax Tonkinensis) từ nhựa Urea Formaldehyde ”
Trong thời gian thực hiện đề tài đã mang lại cho tôi rất nhiều kinh nghiệm thực tế quý báu trong học tập cũng như trong xã hội, để có thể xây dựng được một đề tài với những luận điểm, luận cứ vững trắc và đáng tin cậy cần rất nhiều công sức đầu tư với sự chuẩn bị chu đáo và kĩ càng
Để đề tài có kết quả như ngày hôm nay tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến ban giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp, đã tạo mọi diều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu, sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo và sự giúp đỡ của gia đình, bận bè để tôi hoàn thành
đề tài này
Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo TS Nguyễn Văn Thái và thầy giáo đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Do trình độ chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế do vậy khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Tôi kính mong nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô giáo cùng toàn thể các bạn đồng nghiệp để khóa luận này được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2018
Sinh viên Phạm Thị Thảo
Trang 4cấp thời gian khác nhau 37 Bảng 4.5 Bảng tồng hợp của áp suất và thời gian tẩm UF đến một số tính chất
vật lý của compozit từ gỗ Bồ đề 39
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Ảnh mẫu gỗ thí nghiệm 17
Hình 3.2 Ảnh mẫu Urea formaldehyde 17
Hình 3.3 Ảnh tủ sấy gỗ 18
Hình 3.4 Máy áp lực 18
Hình 3.5 Mẫu gỗ được đưa vào sấy 19
Hình 3.6 Ảnh tiến hành cân mẫu 19
Hình 3.7 Ảnh tiến hành đo mẫu 19
Hình 3.8 Đánh kí hiệu mẫu gỗ 20
Hình 3.9 Tiến hành ngâm 21
Hình 3.10 Tiến hành gia tăng áp lực 21
Hình 3.11 Sấy compozit giai đoạn 3 22
Hình 4.1 Ảnh mẫu compozit được ngâm trong nước 33
Hình 4.2 Ảnh mẫu gỗ đối chứng 36
Trang 6DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1: Độ tăng khối lượng của mẫu compozits ở các cấp áp suất và các
cấp thời gian khác nhau 28 Biểu đồ 4.2 Độ tăng thể tích của mẫu compozit với các cấp áp lực và các cấp
thời gian khác nhau 31 Biểu đồ 4.3 Độ hút nước của mẫu compozit với các cấp áp lực và các cấp
thời gian khác nhau 34 Biểu đồ 4.4 Độ trương nở thể tích của mẫu compozit với các cấp áp lực và
các cấp thời gian khác nhau 37
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Stt Từ
1 a0 Kích thước chiều dài của mẫu gỗ khô kiệt
2 a1 Kích thước chiều dài của mẫu compozit
3 b0 Kích thước chiều rộng của mẫu gỗ khô kiệt
4 b1 Kích thước chiều rộng của mẫu compozit
5 c0 Tích số của chiều tiếp tuyến và xuyên tâm của mẫu gỗ khô kiệt
6 c1 Tích số của chiều tiếp tuyến và xuyên tâm của mẫu compozit
7 h0 Kích thước chiều cao của mẫu gỗ khô kiệt
8 h1 Kích thước chiều cao của mẫu compozit
9 m1 Khối lượng mẫu compozit khô kiệt trước khi ngâm nước
10 m2 Khối lượng mẫu compozit sau khi ngâm nước
11 mo Khối lượng mẫu gỗ khô kiệt
13 Stt Số thứ tự
15 UF Urea Formaldehyde
16 V0 Thể tích của mẫu gỗ khô kiệt
17 V1 Thể tích của mẫu compozit
18 VPG Độ tăng thể tích
19 VS Độ trương thể tích
20 WA Độ hút nước
21 WPG Độ tăng khối lượng
22 x0 Kích thước chiều tiếp tuyến của mẫu gỗ khô kiệt
23 x1 Kích thước chiều tiếp tuyến của mẫu compozit
24 y0 Kích thước chiều xuyên tâm của mẫu gỗ khô kiệt
25 y1 Kích thước chiều xuyên tâm của mẫu compozit
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC BẢNG iii
DANH MỤC HÌNH iv
DANH MỤC BIỂU ĐỒ v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
MỤC LỤC vii
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và ý nghĩa của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu 2
1.2.2 Ý nghĩa của đề tài 2
Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở khoa học 4
2.1.1 Vai trò của việc nâng cao chất lượng gỗ 4
2.1.2 Các phương pháp biến tính nâng cao chất lượng gỗ 5
2.1.3 Tổng quan về nhựa Urea formaldehyde và nguyên liệu gỗ Bồ đề 6
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và thế giới 10
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 10
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 11
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 16
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 16
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 16
Trang 93.2 Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu 16
3.2.1 Địa điểm 16
3.2.2 Thời gian nghiên cứu 16
3.3 Nội dung nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 16
3.3.1.Nội dung nghiên cứu 16
3.3.2.Phương pháp nghiên cứu 17
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
4.1 Ảnh hưởng của thời gian và áp suất tẩm nhựa UF đến độ tăng khối lượng của mẫu compozit từ gỗ Bồ đề 27
4.2 Ảnh hưởng của thời gian và áp suất tẩm nhựa UF đến độ tăng thể tích của mẫu compozit từ gỗ Bồ đề 29
4.3 Ảnh hưởng của thời gian và áp suất tẩm nhựa UF đến độ hút nước của mẫu compozit từ gỗ Bồ đề 32
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 40
5.1 Kết luận 40
5.2 Kiến nghị 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42 PHỤ LỤC
Trang 10Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Cây Bồ đề (Styrax tonkinensis) phân bố tự nhiên ở một số quốc gia như
Việt Nam, Lào, Thái Lan, Indonesia Tại Việt Nam, Bồ đề phân bố từ Nghệ
An, Hà Tĩnh trở ra, vùng phân bố nhiều nhất là dọc thung lũng sông Lô, sông Chảy, sông Hồng và tiếp đến là Bắc Giang, Thái Nguyên, Hoà Bình Cây Bồ
đề sinh trưởng nhanh Gỗ Bồ đề có ưu điểm như: màu sáng, thớ thẳng và mịn,
gỗ mềm, nhẹ, dễ gia công cắt gọt Tuy nhiên, do sinh trưởng nhanh, gỗ thường được khai thác sớm, do đó tỉ lệ gỗ tuổi non cao, độ bền cơ học thấp,
độ ổn định kích thước kém và không đồng đều gây khó khăn cho gia công chế biến Vì vậy, hiện tại gỗ Bồ đề mới chỉ được sử dụng làm nguyên liệu cho sản xuất ván dán và bột giấy Điều này đã làm hạn chế phạm vi sử dụng loài gỗ này
Những năm gần đây, với sự phát triển của nhiều công nghệ cao để tạo sản phẩm mới từ gỗ rừng trồng như: sản xuất ván ghép thanh, gỗ ghép khối (Glulam) làm nguyên liệu sản xuất các cấu kiện xây dựng dùng ở điều kiện tiếp xúc với môi trường ngoài trời Với các ứng dụng này, gỗ nguyên liệu cần được xử lý với nhiều loại hoá chất nhằm chống lại tác động của sinh vật hại gỗ và nâng cao chất lượng gỗ Trước đây, một trong những loại hợp chất như CCA (chromated copper arsenate) được sử dụng rất phổ biến Nhưng do các vấn đề liên quan đến môi trường nên hiện tại nhiều công nghệ đã áp dụng các loại hợp chất khác như ACQ (alkaline copper quaternary) và CuAZ (copper azoles) Gỗ được xử lý bằng các loại hợp chất này về cơ bản đáp ứng được yêu cầu chống lại sinh vật hại gỗ, nâng cao chất lượng gỗ, nhưng khả năng dán dính của chúng đều giảm đáng kể
Bên cạnh đó, với giải pháp ngâm tẩm nhựa nhiệt rắn (Phenol
Trang 11formaldehyde hoặc Urea formaldehyde) vào gỗ nguyên khối để tạo vật liệu compozit, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra, vật liệu compozit được tạo ra từ gỗ và dung dịch nhựa gốc phenolic có thể cải thiện được các tính chất của gỗ như:
độ bền cơ học, độ ổn định kích thước cũng như khả năng chống sinh vật phá hại
Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại rất ít công trình nghiên cứu công
bố việc tạo vật liệu compozit từ gỗ Bồ đề và nhựa gốc phenolic đề tài này sẽ trình bày một số tính chất vật lý của compozit tạo ra từ gỗ Bồ đề và nhựa
Urea formaldehyde (UF) Vì vậy tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Ngiên cứu
nâng cao chất lượng gỗ bồ đề (Styrax Tonkinensis) từ keo urea formaldehyde (UF)” Để nghiên cứu một số tính chất vật lý của compozit
tạo ra từ gỗ Bồ đề và nhựa Urea formaldehyde (UF) với các cấp gia tăng áp lực khác nhau sử dụng nhựa khác nhau
1.2 Mục tiêu và ý nghĩa của đề tài
1.2.2 Ý nghĩa của đề tài
1.2.2.1 Ý nghĩa nghiên cứu khoa học
- Đề tài là cơ sở khoa học quan trọng trong việc nâng cao chất lượng gỗ rừng trồng nói chung và gỗ bồ đề nói riêng
- Đề tài sẽ cung cấp một cơ sở khoa học trong việc nâng cao chất lượng gỗ
1.2.2.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
- Nâng cao được chất lượng gỗ bồ đề phục vụ cho sản xuất chế biến gỗ
Trang 12- Tăng thêm nhu cầu sử dụng các sản phẩm từ gỗ bồ đề trong công nghệ sản xuất đồ gia dụng, đồ nội thất
- Khả năng ứng dụng của nhựa urea formaldehyde trong việc nâng cao tính chất gỗ
Trang 13Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học
2.1.1 Vai trò của việc nâng cao chất lượng gỗ
Gỗ là nguồn tài nguyên quan trọng trong cuộc sống của con người Hiện nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau, rừng tự nhiên suy giảm cả về diện tích
và trữ lượng Khả năng đáp ứng nguyên liệu gỗ cho các nhu cầu của xã hội sẽ không đủ Rừng trồng của nước ta với các loại cây mọc nhanh được tập trung phát triển trong một vài thập niên trở lại đây đã và đang trở thành nguồn cung
cấp nguyên liệu gỗ chính cho các nhu cầu sử dụng của xã hội
Trong quá trình sử dụng, gỗ luôn chịu tác động tổng hợp của các yếu tố sinh vật (mối, mọt, nấm mục ) và phi sinh vật (nhiệt độ, độ ẩm ) làm cho bị nứt, cong vênh hoặc bị phá hủy Đối với gỗ mọc nhanh rừng trồng, các tính chất gỗ thường kém hơn các loại gỗ quý rừng tự nhiên Do đó việc nghiên cứu
áp dụng các giải pháp công nghệ nhằm nâng cao tính chất gỗ đáp ứng nhu cầu
sử dụng là rất cần thiết
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về các sản phẩm gỗ, gỗ rừng trồng đang được đặc biệt quan tâm để đáp ứng nhu cầu gỗ trong tương lai Do rừng trồng có tốc độ sinh trưởng nhanh, gỗ rừng trồng thường có khối lượng thể tích thấp, cơ tính và độ bền tự nhiên không cao
Bởi vậy biến tính gỗ hóa học đã được phát triển như một phương pháp tiên tiến để cải thiện những bất lợi này Biến tính hóa học của gỗ có thể được định nghĩa như một quá trình liên kết một hóa chất phản ứng với một phần phản ứng của polyme vách tế bào gỗ Quá trình này có thể là ngâm tẩm hóa chất, sơn phủ, polyme hóa hay xử lý nhiệt
Gỗ có thể được biến tính hóa học để cải thiện khả năng chịu nước, ổn định kích thước, chống chịu axit hay bazơ, chống chịu bức xạ siêu tím, phá
Trang 14hủy bởi sinh học, và phân hủy nhiệt Gỗ cũng có thể được xử lý hóa học, sau
đó được nén ép để cải thiện ổn định kích thước và tăng độ cứng
2.1.2 Các phương pháp biến tính nâng cao chất lượng gỗ
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về các sản phẩm gỗ, gỗ rừng trồng đang được đặc biệt quan tâm để đáp ứng nhu cầu gỗ trong tương lai Do rừng trồng có tốc độ sinh trưởng nhanh, gỗ rừng trồng thường có khối lượng thể tích thấp, cơ tính và độ bền tự nhiên không cao
Gỗ có thể được biến tính để cải thiện khả năng chịu nước, ổn định kích thước, chống chịu axit hay ba zơ, chống chịu bức xạ siêu tím, phá hủy bởi sinh học, và phân hủy nhiệt Gỗ cũng có thể được xử lý hóa học, sau đó được nén ép để cải thiện ổn định kích thước và tăng độ cứng
Do đó người ta thường sử dụng biến tính hóa học để nâng cao chất lượng gỗ Biến tính hóa học của gỗ có thể được định nghĩa như một quá trình liên kết một hóa chất phản ứng với một phần phản ứng của polyme vách tế bào gỗ Quá trình này có thể là ngâm tẩm hóa chất, sơn phủ, polyme hóa hay xử lý nhiệt: [12]
Gỗ có thể giảm khả năng trương nở và co rút khi tiếp xúc với nước nếu được xử lý với các hóa chất chịu nước Gỗ có thể được ngâm tẩm trong những hóa chất đó ở dạng dung dịch với nước hay trong dung môi, nhờ đó những hóa chất có thể liên kết với các polyme trên vách tế bào gỗ Những xử lý như vậy cũng làm giảm mức độ thay đổi kích thước gỗ trong điều kiện môi trường
ẩm, ngay cả trong một thời gian dài
Các loại sơn, dầu, chất tráng phủ, giấy ép plastic có thể làm chậm khả năng hút ẩm của gỗ, nhưng ít có khả năng ổn định được kích thước gỗ khi tiếp xúc thường xuyên và lâu dài với môi trường ẩm
Trang 15Sự ổn định vĩnh viễn kích thước gỗ là cần thiết trong những điều kiện ứng dụng nhất định Điều này có thể thực hiện được bởi việc đẩy một tác nhân nở (bulking agent) vào giữa cấu trúc dãn nở của các sợi gỗ Những tác nhân nở đã được thương mại hóa là những hệ thống định hình nhựa phenol formaldehyde nhiệt rắn và có thể hòa tan tốt trong nước Cho đến nay không hề có nhựa nhiệt dẻo nào có khả năng ổn định kích thước gỗ một cách hiệu quả
Các hóa chất có thể được thấm sâu vào gỗ nhờ sự trợ giúp của môi trường chân không và áp lực Trước hết, chân không có tác dụng loại bỏ không khí trong gỗ để tạo các khoảng trống cho các hóa chất bảo quản, sau đó với sự trợ giúp của áp lực cao để đẩy sâu vào trong gỗ
Gỗ được xử lý với nhựa nhiệt rắn, thấm vào sợi gỗ và được nhiệt phản ứng trong điều kiện không nén ép được gọi là gỗ biến tính hóa nhiệt Trong công nghệ này, gỗ đã tẩm nhựa được sấy khô ở nhiệt độ trung bình để loại bỏ nước, sau đó được gia nhiệt phản ứng để đóng rắn nhựa
2.1.3 Tổng quan về nhựa Urea formaldehyde và nguyên liệu gỗ Bồ đề
2.1.3.1 Nhựa Urea formaldehyde (UF)
Nhựa ure formaldehyde là một loại keo được tổng hợp từ: ure và aldehyde formide Ure thì chắc ai cũng biết (nó là một loại H2N-CO-NH2) vì
Trang 16nó dùng để làm phân bón Còn Formaldehyhyde là HCHO, nó tồn tại chủ yếu
là dạng dung dịch 37 - 40% (formalin) [10]
Phản ứng tạo keo có 2 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: tạo oligomer (phân tử lượng nhỏ) > tan trong nước
+ Ban đầu là phản ứng ở môi trường kiềm:
+ Đa tụ các oligome: Phản ứng xảy ra trong môi trường axit yếu
- Giai đoạn 2: là kết tụ hay nối dài mạch làm M tăng lên và dung dịch
keo trở nên đặc lại
Trang 17Nếu phản ứng quá lâu, M lớn thì keo sẽ rất khó tan trong nước (và các dung môi khác), thậm chí kết rắn luôn Khi UF đã không tan thì khó có thể làm nó tan vì phản ứng cắt mạch khó xảy ra hơn
UF có rất nhiều ứng dụng: keo ván ép, sơn, chất kết dính, chất làm cứng vải
Gần đây người ta còn biến tính UF bằng melamine để tăng tính chất và còn nhiều hướng mới nữa
Keo Urea formandehit (UF): được ứng dụng rộng rãi để tạo ra nhiều
sản phẩm trong ngành công nghiệp sản xuất ván gỗ, ván nhân tạo do có thời gian đóng rắn nhanh ở mọi nhiệt độ, tạo dung dịch với nước trước khi đóng rắn, có độ bám dính cao và có giá thành tương đối thấp so với các loại keo tổng hợp khác [11]
Tuy nhiên, do có nhược điểm là chịu nước kém, có độ bền cơ học không cao nên việc sử dụng có rất nhiều hạn chế, đặc biệt là trong một nước có độ
ẩm cao như nước ta Một trong những phương pháp để khắc phục nhược điểm
ở trên của keo UF là biến tính nó bằng melamin Kết quả của sự biến tính này
là nhằm tạo cho sản phẩm sau khi đóng rắn có nhiều liên kết ngang sẽ làm tăng độ bền nước, độ bền cơ học và khả năng bám dính của keo [11]
2.1.3.2 Nguyên liệu gỗ Bồ đề
a) Đặc điểm hình thái
Cây gỗ Bồ đề trung bình, cao 18-20m, có thể trên 20m, đường kính ngang ngực 20-25cm Thân cây màu trắng, tương đối tròn, vỏ mỏng Tán cây mỏng và thưa Rễ cọc phát triển yếu, ngược lại hệ rễ bàng phát triển mạnh và tập trung trên 80% ở tầng đất mặt 0-20cm, do vậy độ phì tầng đất mặt có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của Bồ đề
Trang 18b) Đặc điểm sinh thái
Bồ đề là loài cây đặc hữu, mọc phổ biến ở miền Bắc trong rừng lá rộng thường xanh bị phá tán hoặc rừng gỗ xen Tre, Vầu, Nứa Phân bố tương đối rộng ở nhiều vùng thuộc miền núi phía Tây Bắc, Việt Bắc xuống đến miền Tây Thanh Hóa và còn lác đác tới biên giới Nghệ An – Lào Thường gặp nhiều nhất ở Yên Bái, Tuyên Quang, Phú Thọ, song cũng có mặt ở Lạng Sơn, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, dọc theo phần trên của các lưu vực sông Hồng, sông Lô, sông Đà, sông Mã Bồ đề được trồng ở vùng Trung tâm Bắc Bộ nhiều năm nay [9]
Bồ đề thường mọc tự nhiên sau nương rẫy hoặc sau lúc rừng vừa mới bị phá để phơi đất trống, đất còn tốt, trên hầu hết các đất khác nhau về đá mẹ, trừ đất đá vôi Ở đó, Bồ đề mọc thuần loại hoặc xen lẫn với nứa, cây gỗ
Bồ đề là loài cây tiên phong, đòi hỏi nhiều ánh sáng, chịu rét tương đối khỏe, nhưng không chịu được nhiệt độ cao (nhất là cây non) và khô hạn Vì vậy chỉ thấy chúng có ở các vùng ẩm còn mang tính chất đất rừng rõ rệt Bồ
đề là loài cây mọc nhanh, chu kỳ khai thác ngắn 10-12 năm
Bồ đề có thời kỳ rụng hết lá, ngừng sinh trưởng vào khoảng từ tháng
11-12 đến tháng 1-2 năm sau Đặc điểm rụng lá, tán thưa thảm mục ít là các nhược điểm cơ bản của rừng Bồ đề để phòng hộ bảo vệ môi trường Có 2 loại
Bồ đề, loại nhiều nhựa mọc ở vùng cao, loại ít nhựa mọc ở vùng thấp là loại thường được trồng để lấy gỗ
Bồ đề thích hợp với nhiệt độ trung bình năm 19-23oC, lượng mưa
1500-2000 mm/năm, số tháng khô không quá 3 tháng, không bị ảnh hưởng của gió Lào và phơn khô nóng
Trồng thích hợp trên các loại đất feralit vàng, đỏ vùng đồi, núi thấp, có tầng phong hóa dày và thành phần cơ giới tương đối nặng phát triển trên các
đá mẹ gnai, phiến thạch mica, philit, trầm tích neogen, pocphiarit, phù sa cổ
Trang 19Có thể mở rộng trồng trên đất feralit phát triển trên các đá mẹ riolit, acgilit, phiến thạch sét Cây mọc khỏe nơi đất sâu ẩm; không ưa đất đá vôi, đất đọng nước, đất bị glây; sinh trưởng kém nơi đất đã thoái hóa, đất cát và đất
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và thế giới
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Manabendra Deka và C N Saikia (2000) đã nghiên cứu ảnh hưởng của
3 loại nhựa PF, MF (Melamine Formaldehyde), UF (Urea Formaldehyde) đến
độ ổn định kích thước của gỗ Gáo (Anthocephalus cadamba) Kết quả cho thấy, khi xử lý với nồng độ nhựa là 30%, ở nhiệt độ 90 - 100oC, áp suất 75 psi, độ tăng khối lượng (WPG) đạt khoảng 33 - 35%, độ ổn định kích thước của gỗ tăng lên 70,59% với nhựa PF, 68,23% với nhựa MF và 48,5% với nhựa UF Cũng với giá trị WPG này, hiệu quả chịu ẩm (MEE) của gỗ đã tăng lên 31 - 47% Độ ổn định kích thước của gỗ vẫn không đổi khi thử nghiệm lặp lại với mẫu gỗ ở các điều kiện ướt và khô Ngoài ra, khả năng chống mối (Odontotermis spp.) của gỗ sau xử lý tăng lên, độ bền uốn tĩnh và mô đun đàn hồi của gỗ cũng tăng lần lượt khoảng 12 - 20% và 5 - 12% khi WPG = 33 - 35% T Furuno và cộng sự (2003) đã nghiên cứu xử lý gỗ Liễu sam Nhật Bản (Cryptomeria japonica) bằng nhựa PF phân tử lượng thấp tổng hợp trong điều kiện trung tính và kiềm Kết quả thể hiện, độ ổn định kích thước của gỗ tăng lên đến 60% khi xử lý với nồng độ nhựa là 30% Gỗ sau khi xử lý với dung dịch có nồng độ 15% cho nhựa PF trung tính và 10% cho nhựa PF kiềm
đã có khả năng chống chịu được mục trắng và mục nâu Bằng phương pháp chụp ảnh hiển vi điện tử quét (SEM) đã xác định được nhựa PF phân tử lượng thấp đã thấm vào vách tế bào gỗ, và làm cho cải thiện độ ổn định kích thước
và khả năng chống sinh vật hại gỗ [8]
D.D.Nicholas và A.D.Williams (1987) đã nghiên cứu biến tính gỗ Thông bằng dung dịch DMDHEU 45% trong dung môi nước, sử dụng các
Trang 20muối kim loại và axit tartaric làm xúc tác, nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt
độ xử lý đến ASE; nhiệt độ xử lý thích hơp là 90-100˚C Gỗ xử lý có hệ số chống dãn nở đạt 60%, cường độ uốn tĩnh giảm so với gỗ không xử lý H Militz (1993) đã nghiên cứu xử lý gỗ Fagus silvatica L bởi nhựa dimethylol tan trong nước để cải thiện tính ổn định kích thước và độ bền của gỗ H Militz kết luận nhiệt độ xử lý tốt nhất nên lấy 100˚C, ở nhiệt độ thấp hơn hiệu quả xử lý về ổn định kích thước thu được không cao H Militz đã thử khả năng chống nấm mục của gỗ xử lý theo tiêu chuẩn EN 113 Sau 16 tuần thử nghiệm với Coriolus và Gloeophullum trabeum tổn hao khối lượng mẫu không xử lý trên 30%, còn mẫu gỗ xử lý DMDHEU nông độ 20% đều dưới 20% Sulaeman Yusuf (1996) đã nghiên cứu xử lý gỗ giác gỗ Sugi và Buna bơi DMDHEU, đã thử khả năng chống nấm mục của gỗ xử lý theo tiêu chuẩn
trắng Coriolus versicolor Yanni Sudiyani và đồng tác giả (1999) đã biến tính
gỗ Albizzia (Paraserianthes falcata Becker) và gỗ (Cryptomeria japonica D)
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Kết quả nghiên cứu của Lý Tuấn Trường và Vũ Mạnh Tường (2016) về ảnh hưởng của thời gian sấy sau khi tẩm đơn thể nhựa PF vào gỗ Keo lai để tạo vật liệu compozit đã chỉ ra, thời gian sấy có ảnh hưởng đáng kể đến tính chất của vật liệu compozit Cụ thể, độ tăng khối lượng của mẫu compozit khoảng 14 - 15%, độ ẩm thăng bằng giảm 40%, độ hút nước giảm khoảng 37%, độ ổn định kích thước tăng khoảng 40 - 50% so với gỗ nguyên [6]
số tính chất của compozit từ gỗ Bồ đề (Styrax Tonkinensis) và nhựa Phenol
Formandehyde Bằng phương pháp tẩm áp lực-chân không với dung dịch
Trang 21đề (Styrax Tonkinensis) và nhựa Phenol Formandehyde Kết quả cho thấy, nhựa PF đã tồn tại trong tế bào gỗ Bồ đề thông qua đánh giá độ tăng khối lượng (WPG) và độ tăng thể tích (VPG), kết quả xác định WPG và VPG lần lượt lên đến 41% và 6,65% Cùng với đó, vật liệu compozit tạo ra từ nghiên cứu có độ hút nước và độ trương nở thể tích giảm xuống đáng kể Độ hút nước giảm đến 40%, độ trương nở thể tích giảm đến 70% Từ đó có thể thấy, việc tạo vật liệu compozit từ gỗ Bồ đề và nhựa PF là phương pháp hiệu quả
để đạt mục tiêu nâng cao độ ổn định thể tích của gỗ Bồ đề Để có thêm cơ sở xác định vị trí tồn tại (trong vách tế bào hay trong các khoảng trống của gỗ) của nhựa PF trong gỗ cần tiến hành thêm các nghiên cứu về cấu trúc hiển vi
Vũ Huy Đạt (2008) và cộng tác viên đã xử lý gỗ Keo Lá Tràm, Keo Lai bằng DMDHEU nồng độ 20% cho phôi liệu kích thước 25mm, ván mỏng 1,5mm và 5mm, Phạm Văn Chương và cộng tác viên (2010) đã nghiên cứu biến tính gỗ Keo Lai, Bạch Đàn, Mỡ sử dụng DMDHEU nồng độ 30-40% làm ván sàn Trong nước, các kết quả nghiên cứu xử lý gỗ bằng DMDHEU đều cho thấy tính ổn định kích thước, độ bền với nấm mục của gỗ xử lý tăng nhưng các công trình nghiên cứu chưa nghiên cứu đến độ rửa trôi của của hóa chất gỗ xử lý, chưa đề cập đến sự khác biệt về tính chất gỗ xử lý không và có thử rửa trôi, chưa xem xét sự thay đổi cấu tạo, thành phần hóa học của gỗ xử lý, chưa xác định hàm lượng formaldehyde trong gỗ xử lý Mặt khác chưa có bất kỳ công trình nghiên cứu nào đề cập đến việc nâng cao chất lượng gỗ Trám Trắng bằng phương pháp biến tính hóa học sử dụng hóa chất DMDHEU [13]
Luận án nghiên cứu về gỗ Trám Trắng bằng phương pháp biến tính cho
ra kết quả như sau: [13]
Quá trình gỗ luộc ở 70˚C làm giảm hàm lượng chất chiết xuất trong gỗ,
Trang 22đặc biệt là các chất tan trong nước nóng (tinh bột, đường ), tăng khả năng thấm hóa chất vào gỗ Khi luộc gỗ ở nhiệt độ70˚C trong 4-16 giờ lượng dung dịch hóa chất DMDHEU nồng độ 30% thấm vào gỗ tăng 10,75% - 44,58% Khi được luộc khối lượng gỗ Trám Trắng giảm không nhiều, tính chất cơ học như độ bền nén dọc, độ bền nén ngang giảm không đáng kể, tỷ lệ cơ dãn nở của gỗ tăng Luộc gỗ ở nhiệt độ 70˚C là giải pháp có thể áp dụng trong công đoạn xử lý trước để tăng khả năng thấm hóa chất vào gỗ mà không làm ảnh hưởng nhiều đến tính chất gỗ so với khi không luộc
Quá trình xử lý gỗ Trám Trắng bởi DMDHEU cho gỗ xử lý có độ rửa
khối lượng chất xúc tác và DMDHEU là 5,5%, xử lý nhiệt ở nhiệt độ 120˚C trong thời gian 12,51 giờ Độ tăng khối lượng khi xử lý nhiệt trong 12 giờ và trong 10 giờ ít hơn độ tăng khối lượng khi xử lý nhiệt trong 12,51 giờ lần lượt
là 0,1% và 1,9% mức độ giảm không nhiều Chính vì thế, xét trên các khía cạnh về WPG tính chất cơ học và hiệu quả kinh tế có thể xử lý nhiệt trong 10 đến 12 giờ
Gỗ xử lý DMDHEU có độ ổn định kích thước cao hơn khi không xử lý, cùng với sự tăng độ tăng khối lượng độ ổn định kích thước gỗ xử lý tăng Khi
xử lý hóa chất cùng nồng độ gỗ luộc có độ ổn định kích thước cao hơn gỗ không luộc do có độ tăng khối lượng nhiều hơn Tỷ lệ dãn nở của gỗ xử lý thấp hơn tỷ lệ dãn nở lớn nhất của gỗ không xử lý hệ số chống dãn nở thể tích có thể đạt 57,94% Độ rỗng của gỗ xử lý thấp hơn so với của gỗ không
xử lý; độ rỗng của gỗ xử lý hóa chất nồng độ 40% là 31,53% và 24,29% tương ứng với hai trường hợp mẫu không và luộc trước Khi đó độ rỗng của
gỗ không xử lý là 52,33%
Độ bền sinh học của gỗ xử lý được cải thiện đáng kể, đặc biệt là độ bền chống nấm mục Gỗ Trám Tráng có độ bền tự nhiên thuộc loại thấp Gỗ xử lý
Trang 23DMDHEU có thể có độ bền với nấm biến màu đạt đến cấp 3 hoặc 2, với nấm mục đạt cấp độ bền và có hiệu quả chống mối tốt Tỷ lệ diện tích biến màu, tổn hao khối lượng do nấm, số lượng mẫu bị mối ăn và mức độ bị mối phá hoại giảm khi lượng hóa chất vào gỗ tăng (đặc trưng bởi độ tăng khối lượng) Quá trình xử lý gỗ Trám Trắng bởi DMDHEU có ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đến tính chất cơ học của gỗ: độ bền nén dọc tăng từ 3,48%-16,54%;
độ bền nén ngang tăng từ 27,31% - 75,86%; độ cứng tĩnh tăng 15,29% - 46,37%; mô đun đàn hồi uốn tĩnh tăng 3,05%-11.02%; nhưng độ bền uốn tĩnh của gỗ xử lý giảm 10,46% - 20,81% gỗ trờ nên giòn hơn so với gỗ không xử lý
Độ lệch màu do tác động của điều kiện thời tiết nhân tạo trong 168 giờ của gỗ xử lý DMDHEU thấp hơn so với gỗ không xử lý Khi xử lý gỗ hóa chất này nồng độ 10 - 30% thì độ lệch màu giảm không nhiều; độ lệch màu của gỗ không xử lý là 19,79 của gỗ xử lý DMDHEU nồng độ 30% là 12,12
và 8,18 với gỗ không luộc và luộc trước khi xử lý Khi xử lý gỗ bằng hóa chất nồng độ 40% độ lệch màu có thế đạt 6,31
Cấu tạo gỗ xử lý có thể thay đổi khi quan sát dưới kính hiển vi điện tử quét; vách tế bào dày hơn, rõ thấy nhất là ở phần vách tế bào mạch gỗ; số lượng và kích thước mao dẫn trong vách tế bào giảm nhiều Điều này chứng
tỏ DMDHEU đã xâm nhập vào vách tế bào, choán thể tích trong mao dẫn, làm giảm kích thước mao dẫn, làm tăng chiều dày vách tế bào gỗ Quan sát hình ảnh phổ hồng ngoại gỗ xử lý có sự tăng cường độ hấp thụ ở vân
lý tăng lên Điều này cho thấy hóa chất DMDHEU đã tồn tại trong gỗ, làm thay đổi tính chất của gỗ Hàm lượng formaldehyde trong gỗ xử lý DMDHEU với độ tăng khối lượng 30,57% là 3,2mg/100g gỗ khô kiệt, thấp
Trang 248mg/100g ván khô kiệt)
Từ các kết quả nghiên cứu trên cho thấy chưa có kết quả nghiên cứu nào
về nâng cao chất lượng gỗ Bồ đề từ nhựa Urea Formaldehyde Từ đó cho thấy
đề tài của chúng tôi nghiên cứu về nâng cao chất lượng gỗ Bồ đề từ nhựa Urea Formaldehyde là cần thiết và có ý nghĩa
Trang 25Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Khả năng nâng cao chất lượng gỗ Bồ đề từ nhựa Urea formaldehyde
Đề tài chỉ tiến hành thực hiện ở 3 cấp áp suất tẩm khác nhau (0bar; 0,5bar; 1bar) và 3 cấp thời gian khác nhau (0,5h; 1h; 1,5h)
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu
3.2.1 Địa điểm
Địa điểm tại: Trường Đại học Nông lâm Thái nguyên
3.2.2 Thời gian nghiên cứu
Thời gian tiến hành nghiên cứu đề tài từ: 12/2017 – 5/2018
3.3 Nội dung nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Nội dung nghiên cứu
3.3.1.1 Ảnh hưởng của thời gian và áp suất dung dịch nhựa UF đến độ tăng khối lượng gỗ Bồ đề
3.3.1.2 Ảnh hưởng của thời gian và áp suất dung dịch nhựa UF đến độ tăng thể tích gỗ Bồ đề
Trang 263.3.1.3 Ảnh hưởng của thời gian và áp suất dung dịch nhựa UF đến khả năng hút nước của gỗ Bồ đề
3.3.1.4 Ảnh hưởng của thời gian và áp suất dung dịch nhựa UF đến độ trương nở của gỗ Bồ đề
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.3.2.1 Phương pháp thực nghiệm
a Chuẩn bị mẫu
- Nguyên liệu gỗ:
Gỗ Bồ đề 5 tuổi, khai thác tại Yên Bái
- Keo Urea formaldehyde
- Tiêu chuẩn lấy mẫu: ISO 3219-1975 (Gỗ)
- Yêu cầu và phương pháp cắt mẫu cho xác định tính chất cơ lý); ISO 4860-1982 (Gỗ - Xác định độ dãn nở thể tích)
Hình 3.1 Ảnh mẫu gỗ thí nghiệm Hình 3.2 Ảnh mẫu Urea formaldehyde
+ Kích thước mẫu: Dọc thớ x Xuyên tâm x Tiếp tuyến = 30 mm x 20
mm x 20 mm (có sai số trong quá trình lấy mẫu)
Trang 27+ Số lượng mẫu: 11 mẫu/chế
Trang 28Hình 3.5 Mẫu gỗ được đưa vào sấy Hình 3.6 Ảnh tiến hành cân mẫu
Hình 3.7 Ảnh tiến hành đo mẫu
Tính chất dung dịch keo UF được mua sẵn trên thị trường và điều kiện của nghiên cứu được trình bày trong bảng 1
Trang 29Bảng 3.1 Tính chất dung dịch nhựa UF dùng để tạo compozit gỗ Bồ đề
TT Chỉ tiêu đánh giá Đơn vị tính Giá trị Phương pháp
đánh giá
Tạo vật liệu compozit từ gỗ Bồ đề và nhựa UF
- Kết cấu vật liệu: Vật liệu compozit gỗ Bồ đề và nhựa UF tạo ra theo mục đích của nghiên cứu này là loại vật liệu compozit với vật liệu cốt là
gỗ Bồ đề dạng khối, vật liệu nền là nhựa UF sau khi đa tụ trong tế bào gỗ
Bồ đề
- Phương pháp chế tạo vật liệu compozit gỗ Bồ đề và nhựa UF
- Các mẫu gỗ được đánh kí hiệu riêng để nhận biết cho mỗi thí nghiệm với các mức áp suất và thời gian khác nhau
Hình 3.8 Đánh kí hiệu mẫu gỗ
- Với mục đích đề ra của nghiên cứu, trong thí nghiệm đã áp dụng phương pháp tẩm chân không áp lực để đưa dung dịch nhựa vào gỗ, sau đó
Trang 30tiến hành xử lý để nhựa UF đa tụ trong tế bào gỗ
- Điều kiện tẩm chân không áp lực:
+ Độ chân không: 60 mmHg;
+ Thời gian duy trì chân không: 1 h;
+ Áp lực sau giai đoạn chân không: 0 bar; 0,5 bar, 1 bar;
+ Thời gian duy trì áp lực: 0,5h, 1h, 1,5 h;
+ Nhiệt độ khi tẩm: nhiệt độ phòng (25 - 30oC)
Hình 3.9 Tiến hành ngâm
Hình 3.10 Tiến hành gia tăng áp lực
- Điều kiện xử lý mẫu sau khi tẩm:
Mẫu sau khi tẩm hoá chất được đưa vào sấy ở nhiệt độ thay đổi theo 3 giai đoạn
Trang 31Cụ thể:
- Giai đoạn 1: 60oC, thời gian 4 h;
- Giai đoạn 2: 90oC, thời gian 8 h;
- Giai đoạn 3: 140oC, thời gian 2 h;
- Giai đoạn 4: để mẫu nguội tự nhiên trong tủ sấy
Hình 3.11 Sấy compozit giai đoạn 3
Xác định các chỉ tiêu đánh giá chất lượng compozit gỗ Bồ đề và nhựa UF
- Xác định độ tăng khối lượng (WPG)
Độ tăng khối lượng mẫu được xác định theo công thức:
WPG = [(m1 – mo)/mo] x 100 (%) Trong đó:
+ mo - khối lượng mẫu gỗ khô kiệt;
+ m1 - khối lượng mẫu compozit khô kiệt sau khi sấy giai đoạn 3
- Xác định độ tăng thể tích (VPG)
Độ tăng thể tích mẫu được xác định theo công thức:
Trang 32VPG = [(V1 – Vo)/Vo] x 100 (%) Trong đó:
+ Vo - thể tích mẫu gỗ khô kiệt;
+ V1 - thể tích mẫu compozit khô kiệt sau khi sấy giai đoạn 3
+ m1 - khối lượng mẫu compozit khô kiệt trước khi ngâm nước (g); + m2 - khối lượng mẫu compozit sau khi ngâm nước (g)
- Kết quả thí nghiệm được xử lý trên phần mềm Excel
- Tổng hợp, phân tích các số liệu, tài liệu theo một trình tự nhất định Sử dụng bảng biểu theo các mẫu sau:
Trang 33Mẫu bảng 3.1 Bảng độ tăng khối lượng của mẫu compozit khô kiệt ở điều
kiện áp suất và thời gian khác nhau
Mẫu bảng 3.2 Bảng thể tích của mẫu gỗ khô kiệt ở điều kiện áp suất và
thời gian khác nhau
Mẫu bảng 3.3 Bảng thể tích của mẫu compozit khô kiệt ở các điều kiện
áp suất và thời gian khác nhau
Mẫu bảng 3.4 Độ tăng thể tích của compozit ở điều kiện điều kiện áp suất
và thời gian khác nhau
Trang 34Mẫu bảng 3.5 Độ tăng thể tích của compozit ở điều kiện điều kiện áp suất
và thời gian khác nhau
Mẫu bảng 3.6 Kích thước 2 chiều của mẫu compozit khô kiệt ở điều
kiện áp suất và thời gian khác nhau
Mẫu bảng 3.7 Độ trương nở thể tích của mẫu compozit ở điều kiện áp suất và
thời gian khác nhau
Trang 35Mẫu bảng 3.9 Độ hút nước của mẫu gỗ đối chứng
Mẫu bảng 3.12 Bảng ANOVA của các ảnh hưởng
Thời gian Áp suất
0,5h
1h
1,5h
Trang 36PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Ảnh hưởng của thời gian và áp suất tẩm nhựa UF đến độ tăng khối lượng của mẫu compozit từ gỗ Bồ đề
Với mục tiêu tạo vật liệu compozit từ gỗ và nhựa gốc phenolic, nghiên cứu đã tiến hành đưa dung dịch nhựa UF vào gỗ Bồ đề bằng phương pháp tẩm
áp lực Dung dịch nhựa UF trong thí nghiệm được tổng hợp ở nhiệt độ 80oC trong môi trường kiềm (pH = 9-10) để tạo ra nhựa UF có phân tử lượng thấp Vật liệu compozit gỗ và nhựa gốc phenolic được tạo ra nhờ cơ chế đóng rắn của nhựa UF trong điều kiện nhiệt độ cao (nhiệt độ sấy ở giai đoạn 3, 140oC) Nhằm đánh giá mức độ thẩm thấu của dung dịch nhựa vào gỗ, thí nghiệm đã tiến hành xác định độ tăng khối lượng mẫu compozit sau khi tẩm với dung dịch nhựa UF ở các điều kiện áp lực khác nhau Các thông số công nghệ khác được cố định gồm: chế độ tẩm áp lực, chế độ sấy sau khi tẩm
Độ tăng khối lượng được tính toán trên Excel theo công thức:
Trang 37Bảng 4.1 Độ tăng khối lượng của mẫu compozits ở các cấp áp suất và
các cấp thời gian khác nhau Các cấp thời
Biểu đồ 4.1 Độ tăng khối lượng của mẫu compozits ở các cấp áp suất và
các cấp thời gian khác nhau
Trang 38Từ bảng 4.1 và biểu đồ 4.1 ta thấy, mẫu compozit tạo ra bằng cách tẩm nhựa UF vào gỗ Bồ đề và sấy theo chế độ sấy thí nghiệm thiết lập có khối lượng tăng lên so với mẫu gỗ trước khi đưa vào xử lý Trung bình độ tăng khối lượng biến động trong 30,34% Khi tăng áp suất và thời gian thì độ tăng khối lượng của mẫu gỗ đều tăng cụ thể là: Khi tăng thời gian tẩm, ở cấp áp suất P=0 bar khi tẩm mẫu gỗ trong thời gian từ 0,5h đến 1,5h thì khối lượng
gỗ tăng từ 8,20% đến 13,06%, tăng 4,86%; tương tự thì ở các cấp áp suất P=0,5 và P=1 thì độ tăng khối lượng lần lượt là 6,26%; 7,38% Khi tăng áp suất, ở cùng cấp thời gian t=0,5 áp suất tăng từ 0 bar đến 0,5 bar thì khối lượng gỗ tăng từ 8,20% đến 22,36%, tăng 14,16%; tăng áp suất lên 1 bar thì khối lượng tăng đến 31,15%, tăng 22,95% Điều này chứng tỏ, khi dung dịch nhựa UF tẩm vào gỗ một lượng nhựa nhất định đã thẩm thấu vào gỗ và tồn tại trong tế bào gỗ làm tăng khối lượng gỗ
Để thấy được mức độ ảnh hưởng của lượng thuốc tẩm đến gỗ ta tiến hành phân tích tương quan ANOVA Kết quả phân tích được trình bày tại phụ biểu 77
Theo kết quả phân tích ANOVA tại phụ biểu 77 thì giá trị thống kê F
của cả thời gian và áp suất đều lớn hơn giá trị Fcrit Từ đó ta có thể kết
luận thời gian và áp suất tẩm có ảnh hưởng đến độ tăng khối lượng của mẫu compozit
4.2 Ảnh hưởng của thời gian và áp suất tẩm nhựa UF đến độ tăng thể tích của mẫu compozit từ gỗ Bồ đề
Theo lý thuyết khoa học gỗ, vách tế bào gỗ được cấu tạo từ các đơn nguyên cơ bản là vi sợi Các vi sợi do các chuỗi xenlulô liên kết với nhau dựa vào các lực liên kết hoá học và lực liên kết hyđrô Gỗ sẽ bị thay đổi kích
Trang 39thước khi có hợp chất nào đó xâm nhập vào khoảng trống giữa các vi sợi làm cho khoảng cách giữa chúng thay đổi Các hợp chất có thể tồn tại trong khoảng trống giữa các vi sợi là các hợp chất chứa nhóm hydroxyl (-OH) Các hợp chất này sẽ tồn tại trong khoảng trống của các vi sợi cấu tạo nên vách tế bào gỗ thông qua liên kết hydro, dẫn đến làm tăng khoảng cách giữa các vi sợi Kết quả là làm tăng thể tích gỗ
Trong nghiên cứu, nhựa UF được đưa vào trong gỗ bằng phương pháp
áp lực, với kết quả đánh giá độ tăng khối lượng của mẫu compozit cho thấy,
đã có một lượng nhựa nhất định tồn tại trong đó Có nhiều phương pháp để tìm hiểu khả năng xâm nhập của nhựa UF vào vách tế bào gỗ Một trong những phương pháp đơn giản đó là xác định độ trương nở vách tế bào gỗ hay
độ tăng thể tích mẫu compozit so với thể tích mẫu gỗ trước khi xử lý ở cùng điều kiện độ ẩm Độ tăng thể tích của mẫu compozit khô tuyệt đối trong nghiên cứu này so với mẫu gỗ khô tuyệt đối xác định được với các mẫu compozit xử lý bằng dung dịch UF với các áp lực ở các cấp thời gian khác nhau cho ra kết quả
Độ tăng thể tích được tính toán trên Excel theo công thức:
Trang 40Bảng 4.2 Độ tăng thể tích của mẫu compozit với các cấp áp suất và các
cấp thời gian khác nhau Các cấp thời
Biểu đồ 4.2 Độ tăng thể tích của mẫu compozit với các cấp áp suất và các
cấp thời gian khác nhau