1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

A 17 tuổi bị b và c đánh gây thương tích, tỉ lệ thương tật là 29% chỉ có ông h là bố của a làm đơn yêu cầu khởi tố vụ án cơ quan điều tra đã khởi tố

14 83 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 94,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo quy định tại khoản 2 Điều 57 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 thì nếu bị can, bị cáo là người chưa thành niên hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa thì cơ quan đi

Trang 1

I.ĐỀ BÀI

A 17 tuổi bị B và C đánh gây thương tích, tỉ lệ thương tật là 29% Chỉ có ông

H là bố của A làm đơn yêu cầu khởi tố vụ án Cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với B và C về tội cố ý gây thương tích Sau khi nhận hồ sơ điều tra và đề nghị truy tố của cơ quan điều tra, viện kiểm sát đã ra quyết định truy tố B

và C về tội cố ý gây thương tích theo khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự (Trong quá trình giải quyết vụ án này, B và C đều trên 16 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi)

Câu hỏi:

1 Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, thẩm phán phát hiện trong giai đoạn điều tra bị

can C không có người bào chữa Thẩm phán phải giải quyết như thế nào? Tại

sao? [tr 1]

2 Khi nghiên cứu hồ sơ, thẩm phán còn phát hiện trước khi thực hiện hành vi

gây thương tích cho A thì B đã cùng với D thực hiện hành vi lừa dảo chiếm

đoạt tài sản của người khác Thẩm phán phải giải quyết thế nào? Tại sao? [tr 2]

3 Trước khi mở phiên tòa, C yêu cầu thay đổi thẩm phán được phân công làm

chủ tọa phiên tòa với lý do thẩm phán là người thân thích của A Tòa án giải

quyết yêu cầu này như thế nào? Tại sao? [tr 3]

4 Giả sử trong giai đoạn điều tra, B và C đều nhờ người bào chữa nhưng đến

ngày mở phiên tòa, chỉ có người bào chữa của B có mặt còn người bào chữa cho C vắng mặt và cũng không gửi bản bảo chữa cho tòa án Hội đồng xét xử

sẽ giải quyết như thế nào? Tại sao? [tr 4]

5 Trong thời gian chuẩn bị xét xử, tòa án nhận được đơn của bà L là mẹ của A

xin không đưa B và C ra xét xử Tòa án phải giải quyết như thế nào? Tại sao?

[tr 4]

6 Giả sử tại phiên tòa sơ thẩm, người bào chữa của B xuất trình một tài liệu

khẳng định khi thực hiện hành vi gây thương tích cho A thì B chưa đủ 16 tuổi Tài liệu này chưa thể xác minh tại phiên tòa được Hội động xét xử sơ

thẩm phải giải quyết như thế nào? Tại sao? [tr 5]

Trang 2

7 Giả sử hội đồng xét xử sơ thẩm áp dụng khoản 1 điều 104 Bộ luật hình sự

tuyên phạt tù các bị cáo Ông H kháng cáo yêu cầu chuyển khung hình phạt nặng hơn đối với các bị cáo Hội đồng xét xử phúc thẩm phải giải quyết như

thế nào và tại sao, nếu: [tr 6]

a Có căn cứ chuyển khung hình phạt khác nặng hơn

b Không có căn cứ để chuyển khung hình phạt nặng hơn nhưng có căn cứ giảm nhẹ hình phạt với B và C

8 Giả sử tại phiên tòa phúc thẩm, C cung cấp tài liệu xác định thẩm phán tiến

hành tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm là người thân thích của người bị hại Hội đồng xét xử phải giải quyết như thế nào nếu chứng minh tài liệu mà C cung

cấp là chính xác [tr 8]

9 Giả sử chỉ có C kháng cáo bản án sơ thẩm, ngoài ra không còn có kháng cáo

kháng nghị nào khác Tại phiên tòa phúc thẩm, C rút toàn bộ kháng cáo của mình Tòa án ấp phúc thẩm phải giải quyết thế nào nếu thấy bản án sơ thẩm

đối với C là quá nhẹ? Tại sao? [tr 9]

10 Nếu bản án phúc thẩm bị kháng nghị, tòa án có thẩm quyền xét lại bản án đó

có thể sửa bản án này theo hướng tăng nặng hình phạt đối với C hay không

nếu thấy yêu cầu của kháng nghị là có căn cứ? Tại sao? [tr 10]

Trang 3

II NỘI DUNG

1 Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, thẩm phán phát hiện trong giai đoạn điều tra bị can C không có người bào chữa Thẩm phán phải giải quyết như thế nào? Tại sao?

Trong trường hợp này, thẩm phán có thể giải quyết theo một trong hai hướng sau:

- Thứ nhất, thẩm phán ra quyết định trả hồ sơ cho viện kiểm sát để điều tra bổ

sung Thẩm phán giải quyết theo hướng này khi cơ quan điều tra không cử người bào chữa cho C dựa vào việc có hay không có văn bản yêu cầu hoặc đề nghị cử người bào chữa của cơ quan điều tra[8] Bởi vì khi giải quyết vụ án này, C trên 16 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi nên C là người chưa thành niên Theo quy định tại khoản

2 Điều 57 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 thì nếu bị can, bị cáo là người chưa thành niên hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa thì cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án phải yêu cầu đoàn luật sư phân công văn phòng luật

sư cử người bào chữa cho họ hoặc đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình Như vậy, C cần phải có người bào chữa Nếu C hoặc người đại diện hợp pháp của C không mời người bào chữa thì cơ quan tiến hành tố tụng phải cử người bào chữa cho

C, đây là nghĩa vụ của cơ quan tiến hành tố tụng Tuy nhiên, cơ quan điều tra lại không cử người bào chữa cho C Do đó, cơ quan điều tra đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng Đối chiếu với quy định tại điểm c khoản 1 Điều 179 Bộ luật tố tụng hình sự thì thẩm phán phải ra quyết định trả hồ sơ cho viện kiểm sát để điều tra bổ sung

- Thứ hai, thẩm phán tiếp tục các thủ tục tố tụng tiếp theo Thẩm phán giải

quyết theo hướng này khi có căn cứ cơ quan điều tra đã cử người bào chữa cho C nhưng C, người đại diện của C đã yêu cầu từ chối người bào chữa Căn cứ ở đây chính là văn bản của người có yêu cầu từ chối người bào chữa Nếu cơ quan điều tra

Trang 4

đã giải thích quyền được cử người bào chữa cho C nhưng C vẫn không đồng ý thì phải lập biên bản ghi nhận ý kiến này và quá trình tố tụng sẽ được tiếp tục thực hiện

Vì theo quy định tại khoản 2 Điều 57 Bộ luật tố tụng hình sự thì C và người đại diện hợp pháp của C vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa

2 Khi nghiên cứu hồ sơ, thẩm phán còn phát hiện trước khi thực hiện hành vi gây thương tích cho A thì B đã cùng với D thực hiện hành vi lừa dảo chiếm đoạt tài sản của người khác Thẩm phán phải giải quyết thế nào? Tại sao?

Trong trường hợp này, nhóm xin chia làm 2 trường hợp Theo quy định tại thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC, thẩm phán cần phải xem xét xem có căn cứ để tách vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 117 hay không thì mới được ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung[9]

Theo khoản 2 Điều 117 Bộ luật tố tụng hình sự thì cơ quan điều tra chỉ được tách vụ án trong trường hợp thật cần thiết khi không thể hoàn thành sớm việc điều tra đối với tất cả các tội phạm và nếu việc tách đó không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan và toàn diện của vụ án

Như vậy, nếu không thể hoàn thành sớm việc điều tra đối với tất cả các tội phạm, hành vi lừa đảo chiểm đoạt tài sản của B không có liên quan đến hành vi gây thương tích cho A thì tòa án vẫn tiến hành xét xử bình thường Vì đây là hai vụ án riêng biệt, việc giải quyết hai vụ án này không ảnh hưởng đến nhau

Nếu có thể hoàn thành sớm việc điều tra đối với tất cả các tội phạm và hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của B có liên quan đến hành vi gây thương tích cho A thì thẩm phán phải ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung Vì đây là căn cứ được

quy định tại điểm b) khoản 1 Điều 179 Bộ luật tố tụng hình sự: “Thẩm phán ra quyết định trả hồ sơ cho viện kiểm sát để điều tra bổ sung trong những trường hợp sau: a) Khi cần xem xét thêm những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà không thể bổ sung tại phiên tòa được; b) Khi có những căn cứ để cho rằng bị cáo phạm một tội khác hoặc có đồng phạm khác; c) Khi phát hiện có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.”

Trang 5

3 Trước khi mở phiên tòa, C yêu cầu thay đổi thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa với lý do thẩm phán là người thân thích của A Tòa án giải quyết yêu cầu này như thế nào? Tại sao?

C yêu cầu thay đổi thẩm phán trước khi mở phiên tòa nên quyết định thay đổi hay không thay đổi này thuộc thẩm quyền của Chánh án tòa án có thẩm quyền xét

xử, nếu thẩm phán bị thay đổi là Chánh án thì Chánh án tòa án cấp trên trực tiếp quyết định Dựa trên lý do yêu cầu thay đổi thẩm phán của C, chánh án tòa án xem xét và đối chiếu với quy định của bộ luật tố tụng hình sự về thay đổi thẩm phán quy

định tại điều 46:

“1 Thẩm phán, Hội thẩm phải từ chối tham gia xét xử hoặc bị thay đổi, nếu: a) Thuộc một trong những trường hợp quy định tại Điều 42 của Bộ luật này; b) Họ cùng trong một Hội đồng xét xử là người thân thích với nhau;

c) Đã tham gia xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm hoặc tiến hành tố tụng trong vụ

án đó với tư cách là Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thư ký tòa án.

2 Việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm trước khi mở phiên tòa do Chánh án Tòa án quyết định Nếu Thẩm phán bị thay đổi là Chánh án thì do Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp quyết định…”

Yêu cầu thay đổi thẩm phán của C dựa trên lý do được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 46 Bộ luật tố tụng hình sự Đó là thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa là người thân thích của A (người bị hại) Do vậy, chánh án tòa án phải xác minh lý do này Nếu thẩm phán chủ tọa phiên tòa đúng là người thân thích của A thì Chánh án tòa án có thẩm quyền xét xử ra quyết định thay đổi thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa và cử thẩm phán mới tham gia xét xử (theo điểm b, điểm c

khoản 1 Điều 38) Nếu lý do yêu cầu thay đổi đó không có căn cứ thì Chánh án ra

quyết định không chấp nhận yêu cầu và giữ nguyên thành phần hội đồng xét xử ban đầu Tuy nhiên, nếu qua quá trình xác minh chánh án phát hiện thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa không phải là người thân thích của A nhưng lại

Trang 6

thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 46 thì chánh án tòa án vẫn phải ra quyết định thay đổi thẩm phán

4 Giả sử trong giai đoạn điều tra, B và C đều nhờ người bào chữa nhưng đến ngày mở phiên tòa, chỉ có người bào chữa của B có mặt còn người bào chữa cho C vắng mặt và cũng không gửi bản bào chữa nào cho tòa án Hội đồng xét xử sẽ giải quyết thế nào? Tại sao?

Trong trường hợp này, hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa Bởi vì:

- C là người chưa thành niên nên bắt buộc phải có người bào chữa theo khoản 2 Điều 57 Bộ luật tố tụng hình sự Thực tế, C đã nhờ người bào chữa cho mình từ giai đoạn điều tra chứ không phải do cơ quan tiến hành tố tụng cử người bào chữa

- Theo quy định tại điều 190 thì người bào chữa có nghĩa vụ tham gia phiên tòa Người bào chữa có thể gửi trước bản bào chữa cho tòa án Nếu người bào chữa vắng mặt tòa án vẫn mở phiên tòa xét xử Đồng thời, trong trường hợp bắt buộc phải

có người bào chữa theo quy định tại khoản 2 Điều 57 của Bộ luật này mà người bào chữa vắng mặt thì hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa Như vậy, C thuộc quy định tại khoản 2 Điều 57 nên sự có mặt của người bào chữa là yếu tố bắt buộc, không thể dùng hình thức gửi bản bào chữa đến cho tòa án Do đó, nếu không có sự tham gia của người bào chữa cho C tại phiên tòa, hội đồng xét xử phải ra quyết định hoãn

phiên tòa

5 Trong thời gian chuẩn bị xét xử, tòa án nhận được đơn của bà L là mẹ của A xin không đưa B và C ra xét xử Tòa án phải giải quyết như thế nào? Tại sao?

Trong trường hợp này, tòa án phải ra quyết định không chấp nhận yêu cầu của

bà L và vẫn đưa B, C ra xét xử Bởi vì:

Theo đề bài, chỉ có ông H là bố A đã làm đơn yêu cầu khởi tố vụ án Cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với B và C B và C bị khởi tố về tội cố

ý gây thương tích theo khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự Khoản 1 Điều 105 Bộ luật

Trang 7

tố tụng hình sự 2003 quy định: “1 Những vụ án về các tội phạm được quy định tại khoản 1 các điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131 và 171 của Bộ luật hình sự chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất”.

Như vậy, đây là trường hợp khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại Vụ án chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại A 17 tuổi nên A là người chưa thành niên Ông H là bố của A nên ông H là người đại diện hợp pháp của A Vì vậy, ông H có quyền yêu cầu khởi tố vụ án Cũng theo quy định tại khoản 2 Điều 105 Bộ luật tố tụng hình sự, trong trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước

ngày mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ Có thể thấy người có

quyền rút yêu cầu khởi tố phải là người đã yêu cầu khởi tố Ông H đã yêu cầu khởi

tố nên chỉ ông mới có quyền rút yêu cầu này Bà L là mẹ của A nên cũng là người đại diện hợp pháp của A nhưng bà L không có quyền rút yêu cầu Vì thế, tòa án phải

ra quyết định không chấp nhận yêu cầu của bà L Vụ án không bị đình chỉ mà vẫn tiến hành các thủ tục tố tụng tiếp theo để đưa vụ án ra xét xử

6 Giả sử tại phiên tòa sơ thẩm, người bảo chữa của B xuất trình một tài liệu khẳng định khi thực hiện hành vi gây thương tích cho A thì B chưa đủ 16 tuổi Tài liệu này chưa thể xác minh tại phiên tòa được Hội động xét xử sơ thẩm phải giải quyết như thế nào? Tại sao?

Hội đồng xét xử phải ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung và hoãn phiên tòa Bởi vì:

- Người bào chữa của B có quyền đưa ra tài liệu theo khoản 2 Điều 58 Bộ luật

tố tụng hình sự 2003 Tài liệu mà người bào chữa của B đưa ra là chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà không thể bổ sung tại phiên tòa được Bởi chứng cứ quan trọng là chứng cứ không thể thiếu được trong quá trình giải quyết vụ án, là chứng cứ làm rõ những vấn đề cần phải chứng minh được quy định tại điều 63 bộ luật tố tụng hình sự và những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự

Trang 8

Trong trường hợp này, tuổi của bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội là yếu tố quan

trọng để xác định năng lực trách nhiệm hình sự Theo điều 12 bộ luật hình sự về tuổi

chịu trách nhiệm hình sự thì người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình

sự về mọi tội phạm, người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Tội phạm mà B thực hiện trong tình huống này là tội ít nghiêm trọng, bởi hành vi của B gây nguy hại không lớn cho xã hội và hình phạt cao nhất đối với hành vi ấy là 3 năm tù (theo khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự) Như vậy, nếu B chưa đủ 16 tuổi thì B sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình Còn nếu B đã đủ 16 tuổi thì B sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích Do đó, việc B đủ hay chưa đủ 16 tuổi là một chúng cứ quan trọng Nó

sẽ quyết định việc B có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không

- Theo quy định tại khoản 2 Điều 179 Bộ luật tố tụng hình sự thì tòa án phải

ra quyết định trả hồ sơ cho viện kiểm sát để điều tra bổ sung với lý do khi cần xem xét thêm những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà không thể bổ sung tại phiên tòa được và hoãn phiên tòa

7 Giả sử hội đồng xét xử sơ thẩm áp dụng khoản 1 điều 104 Bộ luật hình

sự tuyên phạt tù các bị cáo Ông H kháng cáo yêu cầu chuyển khung hình phạt nặng hơn đối với các bị cáo Hội đồng xét xử phúc thẩm phải giải quyết như thế nào và tại sao, nếu:

a Có căn cứ chuyển khung hình phạt khác nặng hơn.

Nếu có căn cứ chuyển khung hình phạt khác nặng hơn thì hội đồng xét xử phúc thẩm phải giải quyết theo trình tự sau:

Thứ nhất, hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định không chấp nhận kháng cáo

và giữ nguyên bản án sơ thẩm theo điểm c) khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình

sự Bởi theo khoản 3 Điều 249 thì trong trường hợp viện kiểm sát kháng nghị hoặc người bị hại kháng cáo yêu cầu thì tòa án cấp phúc thẩm có thể tăng hình phạt, áp dụng điều khoản bộ luật hình sự về tội nặng hơn Như vậy, chỉ có A kháng cáo yêu

Trang 9

cầu thì hội đồng xét xử mới có quyền sửa bản án theo hướng chuyển khung hình phạt khác nặng hơn (áp dụng điều khoản bộ luật hình sự về tội năng hơn) đối với B

và C Tuy nhiên, trong trường hợp này ông H (người đại diện hợp pháp của A) kháng cáo yêu cầu chuyển khung hình phạt nặng hơn đối với B và C Do đó, hội đồng xét xử không thể chấp nhận kháng cáo này và giữ nguyên bản án sơ thẩm

Thứ hai, hội đồng xét xử phúc thẩm đề nghị người có thẩm quyền kháng nghị

vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm Hội đồng xét xử phúc thẩm đã ra quyết định không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm nên bản án sơ thẩm có hiệu lực khi hội đồng xét xử ra quyết định này Mặt khác, bản án sơ thẩm đã có vi phạm pháp luật Đó là việc áp dụng không đúng quy định của bộ luật hình sự đối với B và C, vì có căn cứ chuyển khung hình phạt khác nặng hơn Mà theo quy định tại điều 274 Bộ luật hình sự thì trong trường hợp phát hiện thấy những vi phạm pháp luật trong các bản án và quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì viện kiểm sát, tòa án phải thông báo cho người có thẩm quyền kháng nghị theo quy định tại điều 175

b Không có căn cứ để chuyển khung hình phạt nặng hơn nhưng có căn cứ giảm nhẹ hình phạt đối với B và C

Trong trường hợp này, hội đồng xét xử phúc thẩm phải sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho B và C Vì theo quy định tại điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự thì tòa án cấp phúc thẩm có quyền quyết định sửa bản án sơ thẩm Điều 249 về sửa bản án sơ thẩm cũng cũng quy định:

“Tòa án cấp sơ thẩm có quyền sửa bản án sơ thẩm như sau:

a) miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt cho bị cáo;

b) áp dụng điều khoản của bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn;

c) giảm hình phạt cho bị cáo;

d) giảm mức bồi thường thiệt hại và sửa quyết định xử lý vật chứng;

Trang 10

e) chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn, giữ nguyên mức hình phạt

tù và cho hưởng án treo.”

Ở đây, tòa án cấp sơ thẩm áp dụng không đúng các quy định của bộ luật hình

sự Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng hình phạt nặng hơn so với tính chất và mức độ trong hành vi phạm tội của B và C Theo khoản 3 Điều 249, khi có căn cứ thì tòa án cấp phúc thẩm có quyền giảm nhẹ hình phạt cho B và C (sửa bản án theo hướng có lợi cho bị cáo) mặc dù kháng cáo yêu cầu chuyển khung hình phạt khác nặng hơn đối với bị cáo Bởi việc sủa bản án trong trường hợp này không làm xấu đi tình trạng của bị cáo

8 Giả sử tại phiên tòa phúc thẩm, C cung cấp tài liệu xác định thẩm phán tiến hành tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm là người thân thích của người bị hại Hội đồng xét xử phải giải quyết thế nào nếu chứng minh tài liệu mà C cung cấp

là chính xác.

Nếu chứng minh tài liệu mà C cung cấp là chính xác thì hội đồng xét xử phải hủy bản án sơ thẩm để xé xử lại với thành phần hội đồng xét xử mới Bởi vì:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự thì tòa án cấp phúc thẩm có thẩm quyền hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án để xét xử lại:

“2 Tòa án cấp phúc thẩm có quyền quyết định:

a) không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị va giữ nguyên bản án sơ thẩm b) sửa bản án sơ thẩm.

c) hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án để điều tra lại hoặc xét xử lại d) hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án.”

Trong trường hợp này, hội đồng xét xử phúc thẩm phải hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại theo căn cứ tại điểm a khoản 2 Điều 250 Bộ luật tố tụng hình sự: thành phần hồi đồng xét xử sơ thẩm không đúng luật định hoặc đã có vi phạm nghiêm

Ngày đăng: 23/03/2019, 09:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w