Là một bộ phận của ActionAid Quốc tế, ActionAid Việt Nam AAV là một trong những tổ chức phi chính phủ quốc tế được đánh giá là hoạt động tích cực nhất tại Việt Nam trong lĩnh vực giảm ng
Trang 1Chương trình Hỗ trợ Phát triển huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng
(2006-2016)
Trang 3NHỮNG KẾT QUẢ NỔI BẬT
và BàI HỌC KINH NGHIỆM
Chương trình Hỗ trợ Phát triển huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng
(2006‐2016)
UBND HUYỆN LONG PHÚ
BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 3
PHẦN I: GIỚI THIỆU 4
PHẦN II: ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN 5
2.1 Sinh kế và nông nghiệp bền vững 5
2.2 Quản trị nhà nước 8
2.3 Giáo dục 10
2.4 Phòng ngừa giảm nhẹ thiên tai 12
2.5 Quyền phụ nữ và trẻ em gái 14
PHẦN III: NHỮNG THÀNH CÔNG CHÍNH 19
3.1 ƯTCT 1: Thúc đẩy các giải pháp sinh kế thay thế và nông nghiệp bền vững 19
3.2 ƯTCT 2: Nâng cao trách nhiệm giải trình và tình đoàn kết nhân dân nhằm thay đổi xã hội, tăng cường lãnh đạo trẻ và tín nhiệm xã hội dân sự 19
3.3 ƯTCT 3: Thúc đẩy bình đẳng trong tiếp cận giáo dục chất lượng cho trẻ em 20
3.4 ƯTCT 4: Ứng phó với tác động của thiên tai và biến đổi khí hậu với các giải pháp lấy con người làm trung tâm 21
3.5 ƯTCT 5: Xây dựng các giải pháp xã hội và chính trị cho phụ nữ và trẻ em gái 22
PHẦN IV: NHỮNG MÔ HÌNH CÓ KHẢ NĂNG NHÂN RỘNG, ĐỀ XUẤT 25
4.1 Nhóm phát triển cộng đồng, tổ hợp tác (vốn xoay vòng), nhóm tuyên truyền viên 25
4.2 Mô hình Biogas 25
4.3 Mô hình Tổ Hợp tác sản xuất 25
4.4 Tổ Phòng ngừa giảm nhẹ rủi ro thiên tai 25
4.5 Một số hạn chế và đề xuất 26
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 27
5.1 Kết luận 27
5.2 Khuyến nghị 28
MỤC LỤC
Trang 5AAV ActionAid Việt Nam
BBPN&TE Buôn bán phụ nữ và trẻ em
BLTCSG Bạo lực trên cơ sở giới
BQLCT Ban quản lý Chương trình
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 6ctionAid là một liên đoàn quốc tế hành động chống đói nghèo và bất công, được thành lậpnăm 1972 và đăng ký ban đầu tại Vương Quốc Anh Hiện tại Liên đoàn ActionAid Quốc tế đăng
ký tại Den Haag, Hà Lan và đặt văn phòng chính tại Johanesburg, Nam Phi và có các thành viênđến từ các nước khác nhau ở châu Á, châu Âu, châu Phi và Mỹ La Tinh Là một bộ phận của
ActionAid Quốc tế, ActionAid Việt Nam (AAV) là một trong những tổ chức phi chính phủ quốc
tế được đánh giá là hoạt động tích cực nhất tại Việt Nam trong lĩnh vực giảm nghèo và pháttriển, thông qua các hình thức hợp tác, hỗ trợ, làm việc cùng với những người sống trongnghèo khó và thiệt thòi, đặc biệt là phụ nữ
Năm 2006, Chương trình hỗ trợ phát triển huyện Long Phú do AAV tài trợ chính thức đượchoạt động tại 3 xã Tân Thạnh, Châu Khánh và Tân Hưng của huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăngvới tên gọi tắt là LRP 13 Chương trình tại Long Phú nhằm mục tiêu góp phần xóa đói giảmnghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân trong cộng đồng Đối tượng hướng tớicủa chương trình là người nghèo, người yếu thế, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em và người dân tộcthiểu số Theo phương pháp tiếp cận dựa trên quyền con người, ActionAid cùng đối tác địaphương tăng cường công nhận, thực hiện và bảo vệ quyền của người dân tại địa phươngthông qua các lĩnh vực ưu tiên sau đây:
1 Thúc đẩy sinh kế và nông nghiệp bền vững
2 Nâng cao trách nhiệm giải trình và tình đoàn kết nhân dân nhằm thay đổi xã hội tăng cường lãnh đạo trẻ và tín nhiệm xã hội dân sự
3 Thúc đẩy bình đẳng trong tiếp cận giáo dục cho trẻ em
4 Ứng phó với tác động của thiên tai và BĐKH với các giải pháp lấy con người làm trung tâm
5 Xây dựng các giải pháp xã hội và chính trị cho phụ nữ và trẻ em gái
Sau 10 năm hoạt động, Chương trình được bàn giao chính thức cho địa phương vào tháng 06năm 2016 Nhằm đánh giá hiệu quả cũng như rút ra các bài học kinh nghiệm liên quan, Chươngtrình hỗ trợ phát triển huyện Long Phú và AAV phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu ‐ Tư vấn
Công tác xã hội và Phát triển cộng đồng (SDRC), đơn vị đánh giá độc lập, thực hiện đánh giá
vào tháng 04 năm 2016 Trước đó vào cuối năm 2015, UBND tỉnh Sóc Trăng đã thành lập đoàncông tác do Sở Kế hoạch ‐ Đầu tư tỉnh điều phối thực hiện đợt đánh giá nội bộ về Chươngtrình này Vì vậy, lần đánh giá này được thực hiện ở quy mô vừa phải Cụ thể, đợt đánh giáđược thực hiện tại 2 xã thuộc Chương trình là xã Châu Khánh và Tân Hưng; bên cạnh đó, xãLong Phú, xã ngoài chương trình, cũng được lựa chọn đánh giá nhằm cung cấp các thông tinđối chứng sự về sự khác biệt mà Chương trình mang lại
Tóm tắt báo cáo này nhằm cung cấp cho người đọc những nét chính thể hiện trong báo cáocủa đoàn công tác tỉnh Sóc Trăng và báo cáo của Trung tâm Nghiên cứu ‐ Tư vấn Công tác xã
hội và Phát triển cộng đồng (SDRC), sau khi tham khảo ý kiến của người dân và cán bộ địa
phương Các thông tin, ghi nhận cụ thể từ phía chính quyền địa phương, Ban quản lý chươngtrình và người dân được phản ánh cụ thể hơn trong Kỷ Yếu LRP13
A
Trang 7au 10 năm hoạt động, với ngân sách hơn 18 tỉ đồng cùng các hoạt động hỗ trợ nâng cao nănglực, chương trình Hỗ trợ phát triển huyện Long Phú đã có những thành quả nhất định và manglại sự thay đổi đáng kể về đời sống, kinh tế cũng như nhận thức và năng lực của người dân vàcán bộ địa phương.
2.1 Sinh kế và nông nghiệp bền vững
Trong những năm qua, LRP 13 đã tổ chức tuyên truyền cho người dân về chính sách sổ đỏ haitên và đã mang lại hiệu quả Do hiểu biết được chính sách này, các gia đình trong xã dự án đãtiến hành làm lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên cả vợ và chồng Bảng 1 chothấy, so với kết quả khảo sát ban đầu, có 70% hộ trong xã CT biết về qui định sổ đỏ 2 tên, tỷ
lệ hộ trong CT biết quy định của nhà nước về việc cấp sổ đỏ mang tên cả vợ và chồng tăng cao
đáng kể (91.7% hộ trong CT) Báo cáo cũng cho thấy, tỉ lệ người dân tại xã ngoài dự án, không tham gia vào hoạt động tuyên truyền, hiểu về chính sách này còn thấp (chỉ có 53,3%).
56.7%
826.7%
Trang 8Thông tin từ các thảo luận nhóm với người dân cho thấy việc tham gia tập huấn đã giúp người
dân phát triển kinh tế, nâng cao hiểu biết, trình độ: “Nhờ được đi tập huấn kỹ thuật trồng
trọt chăn nuôi nên biết cách chọn giống, kỹ thuật nuôi, nuôi heo tốt hơn với thời gian nuôi ngắn hơn, không bị bệnh, bán được lời nhiều” (TLN nam‐nữ); “Hiểu biết được kỹ thuật trồng trọt chăn nuôi và áp dụng vào thực tế, năng suất nhiều hơn, lời nhiều hơn” (TLN nữ).
Về thu nhập của các hộ gia đình, có thể thấy rằng tỉ lệ này giữa các hộ gia đình trong và ngoàichương trình ở mức tương đương nhau Tuy nhiên, so với tỉ lệ hộ ngoài CT thì tỉ lệ hộ trong
CT có người vợ/cả vợ và chồng cùng có đóng góp nhiều nhất vào thu nhập của cả gia đình
chiếm tỷ lệ cao (người vợ đóng góp nhiều có 25% hộ trong CT và 13.3% hộ ngoài CT; hoặc cả
vợ và chồng cùng đóng góp có 23.3% hộ trong CT và 10% hộ ngoài CT) Điều này đã thể hiện
phần nào kết quả của việc CT triển khai các hoạt động nhằm tạo điều kiện cho phụ nữ thamgia các hoạt động kinh tế, qua đó nâng cao dần vai trò và vị thế của họ
Lợi ích của hoạt động/ hỗ trợ liên quan đến trồng trọt/ chăn nuôi
Trong Chương trình Ngoài Chương trình
đó, tỉ lệ này ở hộ gia đình ngoài chương trình lần lượt chiếm 63,3% và 60% Tỉ lệ này chứng tỏchương trình tại Long Phú đã có các chương trình hỗ trợ về chăn nuôi và trồng trọt đều khắpcác hộ tại các xã và có tính lan rộng, mặc dù đối tượng hưởng thụ ưu tiên của chương trình làngười nghèo và dễ bị tổn thương
Bảng 2 cho thấy hiệu quả và lợi ích của các buổi tập huấn, truyền thông cũng như sự hỗ trợcác mô hình sinh kế về trồng trọt và chăn nuôi được người dân tại xã trong chương trình đánhgiá cao hơn so với người dân ở xã ngoài chương trình Có thể những hỗ trợ của chương trình,đặc biệt là cách triển khai tập huấn, chuyển giao công nghệ phù hợp hơn so với các chươngtrình khác được triển khai trên địa bàn
Bảng 2: Lợi ích của hoạt động / hỗ trợ liên quan đến trồng trọt / chăn nuôi
(Đơn vị: %)
Trang 9So với 5 năm trước, thu nhập của các hộ gia đình trong chương trình hầu như tăng ít (36,7%) hoặc không đổi (33,3%), nhưng vẫn có một số hộ có thu nhập tăng nhiều (18,3%) cũng như giảm ít (8,3%) Theo ý kiến TLN các hộ dân trong CT thì kinh tế hộ gia đình không có nhiều
thay đổi, thu nhập tăng ít là do thời tiết, mất mùa, dịch bệnh và sự không ổn của thị trườngđầu ra Tuy nhiên, sau nhiều năm hỗ trợ về kỹ thuật, ngân sách cũng như kỹ năng quản lý,hiện nay các mô hình tổ hợp tác do chương trình hỗ trợ đã tạo sự thay đổi trong cách tiếp cậnthị trường, quản lý và hợp tác của người dân trong sản xuất BQLDA xã Châu Khánh đánh giá:
“Trước khi tham gia chương trình, lúa không bán được, bây giờ mọi người tìm đến mua, không cần tìm đầu ra cho lúa, Người dân mạnh dạn hơn, tiếp xúc với chính quyền tốt hơn, tính liên kết cộng đồng mạnh, có quỹ tương trợ khá lớn (vài trăm triệu)”.
Việc hỗ thành lập, tiếp cận kỹ thuật, tiếp cận vốn và quản lý kinh doanh cho các tổ hợp táctheo hướng chuổi giá trị cho 4 tổ hợp tác Lúa Vàng, Mai Vàng, Tân Tiến và Phát Đạt tại 3 xã CT
đã mang lại hiệu quả vượt bậc trong việc quản lý kinh doanh, tiếp cận thị trường, nâng caonăng suất cũng như năng lực cho người dân Nhờ các hội thảo, tập huấn chuyển giao KHKT,trên 90% thành viên các tổ HTSX áp dụng thực hiện, chủ động hơn trong quy trình sản xuất từgiống đến đầu ra, năng suất lúa tăng 10‐15%, chi phí sản xuất lúa giảm 10‐15%, lợi nhuận
trong sản xuất lúa tăng 20‐30% (Báo cáo đánh giá năm 2015 do UBND tỉnh Sóc Trăng thực
hiện).
Tương tự, các ban ngành đoàn thể xã đánh giá cao lợi ích và hiệu quả của mô hình tổ HTSX vì
“nhờ được tập huấn nên trình độ KHKT của người dân được nâng cao Việc áp dụng những kiến thức này vào sản xuất đã giúp giảm chi phí, giảm hao hụt con giống, tăng lợi nhuận, được
hỗ trợ vay vốn nên có điều kiện mở rộng sản xuất, giống lúa thay đổi, đa dạng hơn có năng suất cao hơn, có chất lượng (nhờ áp dụng KHKT) nên thương lái thu mua nhiều Nguồn vốn của nhóm mạnh, thành viên và người tham gia tăng kinh nghiệm, mạnh dạn hơn do được tập huấn nhiều và tham quan học hỏi kinh nghiệm từ nơi khác” (TLN ban ngành đoàn thể).
Tận dụng nguồn chất thải trong chăn nuôi để làm biogas cũng là một thành công của chươngtrình Cho tới năm 2011, việc nuôi heo và thải trực tiếp ra môi trường đã làm ô nhiễm môitrường sống, cũng như nguồn nước, không khí dẫn đến một số bệnh liên quan đến đường hôhấp, gây bức xúc của người dân Trước vấn đề nêu trên, nhằm giúp giải quyết vấn đề mất đoànkết trong cộng đồng do việc ô nhiễm môi trường gây ra do việc chăn nuôi heo không có hệthống xử lý môi trường, đồng thời giảm chi phí nhiên liệu và chi phí gia đình, giảm thời gianchăm sóc không lương cho phụ nữ, tổ chức AAV đã tổ chức họp cộng đồng và thống nhất triểnkhai thí điểm mô hình biogas tại địa phương AAV cũng hỗ trợ kỹ thuật và vốn, tuyên truyền,rút kinh nghiệm nhằm giúp người dân có cơ hội để triển khai mô hình nhiều hơn
Từ kết quả thảo luận và đề xuất vấn đề ưu tiên từ các cuộc họp của các nhóm PTCĐ, AAV đã
hỗ trợ thí điểm tại huyện Long Phú 6 mô hình tại 3 xã có chương trình với tiêu chí là chọn các
hộ hiện đang có nuôi heo với số lượng nhất định, hộ gia đình nghèo và ưu tiên cho gia đìnhphụ nữ người Khmer Sau đó, cán bộ trường Cao Đẳng Cộng Đồng Sóc Trăng được mời đếntập huấn kỹ thuật làm biogas cho người dân Riêng những hộ nghèo không có vốn được AAV
hỗ trợ vốn để thực hiện theo hình thức cho mượn vốn không lãi (1,5 triệu/ hộ để làm túi ủ
biogas) và trả dần hàng tháng Nhằm nhân rộng mô hình, CT đã hỗ trợ thêm được tổng cộng
117 hộ chăn nuôi heo trong thời gian từ năm 2012‐2015 (Theo Báo cáo của BQLCT năm
2012‐2015).
Trang 10Việc triển khai và áp dụng mô hình biogas không những giúp hạn chế ô nhiễm môi trường
(tận dụng phế thải từ chăn nuôi heo/ giảm chất thải vật nuôi ra môi trường bên ngoài) mà
còn giúp giải quyết các vấn đề khác như tăng cường sự đoàn kết trong cộng đồng, tiết kiệmnhiên liệu và chi phí sinh hoạt giúp giảm chi phí gia đình, giảm thời gian chăm sóc không lươngcho phụ nữ và đặc biệt là quan niệm của bà con về việc không thế sử dụng Biogas làm nhiênliệu nấu ăn
Hơn nữa, quyền của phụ nữ nghèo được tôn trọng và cải thiện hơn Việc giảm thời gian vàcông sức của phụ nữ trong việc nấu ăn cho gia đình, gia súc đã tạo điều kiện cho phụ nữ nghèotham gia các hoạt động xã hội khác Đặc biệt, họ có thêm thời gian tham gia các nhóm PTCĐ
để thảo luận về quyền phụ nữ nói chung và các quyền phát triển khác Cụ thể, phụ nữ tại cácnhóm PTCĐ đã hiểu được quyền và vị thế của mình trong xã hội
2.2 Quản trị nhà nước
Trong những năm qua, nhà nước đã và đang đẩy mạnh việc thực hiện dân chủ cơ sở qua việctạo thêm nhiều điều kiện thuận lợi giúp người dân có ý kiến và tham gia nhiều hơn vào cácvấn đề có liên quan trực tiếp đến đời sống của chính họ cũng như và sự phát triển của địa
phương Cũng với mục tiêu trên, LRP13 hướng đến hỗ trợ nhóm thiệt thòi (người nghèo, người
yếu thế, người dân tộc) qua các hoạt động tập huấn nâng cao năng lực, truyền thông nâng
cao nhận thức, tổ chức đối thoại giúp chính quyền địa phương lắng nghe ý kiến, kiến nghị củangười dân, cũng như thúc đẩy hợp tác nhóm, mạng lưới
Kết quả khảo sát thể hiện hầu hết các gia đình trong và ngoài chương trình có tham gia các
cuộc họp ở ấp/tổ (96,7% hộ trong CT và 90% hộ ngoài CT) Phần lớn các ý kiến cho biết nội
dung các cuộc họp chủ yếu về chế độ chính sách, kế đến là dịch vụ công và việc lập kế hoạchphát triển KT‐XH của địa phương
Đa số các hộ trong CT có thành viên thường xuyên đi họp là người vợ (76,7%); người chồng
và thành viên nam khác chiếm tỷ lệ thấp (15%); còn lại là cả vợ và chồng thường đi họp (13%).
Trong số đó, tỷ lệ nữ thỉnh thoảng có tham gia/đóng góp ý kiến vào các cuộc họp chiếm tỷ lệ
cao (46,6%) Đa số cho rằng ý kiến đóng góp của họ được ghi nhận và phản hồi (71,7%) và họ đánh giá rất hài lòng (40%) và hài lòng (31,7%) về sự ghi nhận và phản hồi này Đây có thể là
một phần tác động của các hoạt động liên quan đến nâng cao vai trò và vị thể của phụ nữthông qua tham gia các hoạt động kinh tế, xã hội mà chương trình của AAV tác động trongnhững năm qua
Về lợi ích của các cuộc họp nêu trên, các hộ gia đình tham gia chương trình đánh giá nội dung
cuộc họp liên quan đến các chế độ chính sách và an sinh xã hội là rất có ích (56,7%) và có ích
(28,3%) Bên cạnh đó, nội dung họp liên quan việc thực hiện các dịch vụ công và quy chế dân
chủ cơ sở cũng được đánh giá cao Tuy nhiên, về việc lập kế hoạch và được tham vấn về kếhoạch phát triển KTXH của địa phương chưa được cho là có ích, tỷ lệ có ý kiến không có ích
lợi gì không đáng kể (1,7%).
Trang 1180.0 60.0 40.0 20.0 0.0
Thực hiện các dịch vụ công và quy chế dân chủ
cơ sở Các chế độ chính sách, ASXH và thủ tục hành chính Lập kế hoạch phát triển KTXH tại địa phương
Rất có ích Có ích Không biết Rất có ích Có ích Không biết Trong chương trình Ngoài chương trình
Đánh giá nội dung các cuộc họp
45.0 56.7
16.7
30.0 28.3 15.0
25.0 15.0
68.3
20.0 36.7 16.7 23.323.323.3
56.7 60.040.0
Theo bảng 3, kết quả đánh giá hỗ trợ nâng cao năng lực các nhóm/ trung tâm/ CLB cho thấyhầu hết các hộ gia đình trong CT trả lời có biết về nhóm Phát triển cộng đồng, nhóm Tuyêntruyền viên, Tổ PNGNRRTT,… Tuy nhiên, tỉ lệ hộ gia đình ngoài chương trình biết đến các nhóm/trung tâm/ CLB này là rất thấp Mặc dù vậy, vẫn có 6,7% người dân ở xã cho rằng nhóm PTCĐmang lại lợi ích, ở nhóm Tuyên truyền viên là 13,3%, cao nhất là trung tập học tấp cộng đồngchiếm 23,3% Tại các xã trong chương trình, hầu hết tất cả những người biết đến rằng cácnhóm/ trung tâm/ CLB do AAV hỗ trợ người dân đều cho rằng sự tham gia vào nhóm mang lạinhiều lợi ích không chỉ cho gia đình mà cho cả cộng đồng
Bảng 3: Biết đến các nhóm/trung tâm/CLB do AAV hỗ trợ tại địa phương
(Đơn vị: %)
Có biết đến các nhóm/trung tâm/CLB
do AAV hỗ trợ
Trong chương trình
ngoài chương trình
Tổ Phòng ngừa giảm nhẹ rủi ro thiên tai (PNGNRRTT) 88.3 3.3
Trang 122.3 Giáo dục
Về chất lượng trường học, đa số các ý kiến đánh giá chất lượng đầu tư tại các trường mầmnon và trường tiểu học hiện có tại địa phương cao hơn chất lượng của trường THCS Cụ thể
như đánh giá tốt nhất là về chất lượng giáo viên (trường mầm non: 70,3%, trường tiểu học:
71,7%), kế đến là sân trường và nhà vệ sinh (trường mầm non: 70%, trường tiểu học: 60%).
Kết quả TLN ban ngành cũng đánh giá tốt về chất lượng giáo viên nhờ được nâng cao nănglực giảng dạy về phương pháp và đồ dùng dạy học giúp GV tiếp cận với phương pháp dạy mới,được hỗ trợ mua/ làm đồ dùng dạy học có thể dùng trong thời gian dài
Qua TLN, các em học sinh cũng cho biết: “Trường học thay đổi nhiều, tốt hơn, thích hơn” Người dân cũng đánh giá cao hiệu quả của các thay đổi mang lại cho trẻ: “Tạo môi trường học
tốt cho trẻ, giúp kết quả học tập của trẻ được nâng cao”.
Chương trình cũng đã có những hoạt động hỗ trợ giáo dục cụ thể tại địa phương để tạo điềukiện cho trẻ em được đến trường, nâng cao cơ sở vật chất, tạo môi trường học tập thân thiện
và quan trọng hơn là giúp cho các em học sinh biết và hiểu được Quyền trẻ em
Bảng 4: Đánh giá về lợi ích của việc hỗ trợ giáo dục
Hỗ trợ cơ sở vật chất cho nhà trường
(sân chơi, nhà vệ sinh,…)
Diễn đàn lắng nghe TE nói về kỳ vọng
của các em về giáo trình giảng dạy, GV,
bạn bè và môi trường học
Tổ chức hoạt động ngoại khóa (hội thi
cắm trại, giao lưu…)
Trang 13Kết quả bảng 4 cho thấy tỉ lệ người dân trong địa bàn chương trình nhớ đến và có sự ghi nhận
về những lợi ích và tính thiết thực của các hoạt động này khá cao, đặc biệt là các hoạt động
về hỗ trợ cơ sở vật chất (46,7% hộ đánh giá rất có ích), trao học bổng, học phẩm (45% hộ gia
đình đánh giá rất có ích), tổ chức các hoạt động ngoại khóa (33.3%) Trong khi đó, tỉ lệ này ở
người dân tại địa bàn xã ngoài dự án lại khá thấp
Các ý kiến TLN ban ngành cũng nhìn nhận việc hỗ trợ CSVC là đáp ứng nhu cầu cơ bản của họcsinh và nhà trường Bên cạnh đó, hỗ trợ học bổng, học phẩm đã giúp tạo điều kiện cho họcsinh có hoàn cảnh khó khăn được tiếp tục đến trường, giảm nguy cơ bỏ học của học sinhnghèo
Qua các hoạt động trên, các vấn đề liên quan đến Quyền trẻ em, cơ hội để học sinh tham giacác hoạt động nâng cao kỹ năng sống, sự tham gia của cộng đồng, Hội Phụ huynh sinh thamgia vào công tác quản trị nhà trường đã có những chuyển biến tích cực
Trang 142.4 Phòng ngừa giảm nhẹ thiên tai
Bảng 5: Tổng hợp tình hình người dân bị ảnh hưởng bởi thiên tai
(Đơn vị: %)
TỔNG HỢP TÌNH HÌNH
TRONG CHƯƠNG TRÌNH
NGOÀI CHƯƠNG TRÌNH
Loại thiên tai ảnh hưởng nhiều nhất Xâm mặn 63.3 66.7
Tỷ lệ diện tích canh tác bị ảnh hưởng 100% 25.0 33.3
Mức độ thiệt hại của gia đình so với trước đây Nhiều hơn 5.0 26.7
Theo bảng trên, số hộ gia đình đang chịu ảnh hưởng bởi thiên tai khá cao (78.3% hộ dân trong
xã dự án và 63.3% xã ngoài dự án) Loại hình thiên tai ảnh hưởng tới người dân nhiều nhất là
xâm nhập mặn, so sánh với số liệu đầu kỳ cho thấy tỷ lệ ảnh hưởng của loại hình này tăng gần
gấp đôi tại thời điểm đánh giá cuối kỳ so với khảo sát đầu kỳ (63.3% so với 38% tại các xã dự
án, tương tự là 66.7% so với 32% tại xã ngoài dự án) Điều này cho thấy tình hình thiên tai
ảnh hưởng tới người dân theo chiều hướng gia tăng
Với tình hình chịu ảnh hưởng biến đổi khí hậu như trên, các hỗ trợ của Chương trình rất phùhợp với nhu cầu và thực tế của địa phương, đặc biệt là các khóa tập huấn và hoạt động của
tổ PNGNTT trong việc lập kế hoạch ứng phó, bản đồ thảm họa… cho ấp và xã Điều này giúpcải thiện tính sẵn sàng ứng phó của cộng đồng khi có thảm họa hay thiên tai Ban Quản lý
Chương trình nhận xét: “Chương trình đáp ứng nhu cầu của địa phương trong việc thích ứng
và ứng phó với biến đổi khí hậu, nhất là khi người dân được nâng cao năng lực, được chuyển giao khoa học kỹ thuật, biết cách trồng trọt theo mùa” Nhờ các hoạt động phòng ngừa giảm
nhẹ thiên tai, mức độ thiệt hại của các hộ gia đình trong CT đã được giảm thiểu
Bảng 6: Nguồn thông tin về PCNGTT
(Đơn vị: %)
Nguồn thông tin
Hệ thống loa phát thanh của ấp, xã 11.1 13.3 38.3 30.0
Trang 15Liên quan đến việc tiếp cận các thông tin liên quan đến biến đổi khí hậu, theo kết quả khảosát bảng trên, chúng ta thấy rằng người dân trong các xã chương trình tiếp cận các nguồnthông tin cụ thể từ địa phương nhiều hơn như hệ thống loa phóng thanh xã, trao đổi, chia sẻqua các nhóm, tổ Việc tiếp cận thông tin qua các cơ chế này đã giúp ích cho người dân hơn,các thông tin phù hợp, phản ánh sát thực tế với đời sống của người dân tại địa phương hơn
Bảng 7: Có tham gia/ nhận hỗ trợ các hoạt động
(Đơn vị: %)
Có tham gia/ nhận các hỗ trợ
Trong chương trình
Ngoài chương trình
Tập huấn phòng ngừa rủi ro thiên tai và biến đổi khí hậu 81.7 16.7
Tập huấn Đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương 50.0 6.7
Trang 16Bảng 7 cho thấy nhờ có sự hỗ trợ của chương trình mà phần lớn các hộ gia đình trong CT đềutham gia các buổi diễn tập, tập huấn PNGNRRTT và nhận các hỗ trợ khẩn cấp Mặt khác, kếtquả đánh giá cũng cho thấy rằng các hộ gia đình ngoài CT vẫn chưa được tham gia và nhận hỗtrợ ở các hoạt động này Mặc dù số lượng người biết đến và tham gia hoạt động trên khá thấp
ở xã ngoài CT nhưng không chỉ người dân trong CT mà người dân ngoài CT cũng có sự đánh
giá cao hiệu quả mà các hoạt động này mang lại (100% những người tham gia các hoạt động
tập huấn, nhận hỗ trợ đều cho rằng các hoạt động này thật sự có ích).
Kết quả này cũng tương đồng với nhận định của lãnh đạo xã:“Những hoạt động này rất có ích
khi giúp người dân nhận diện những điểm rủi ro, có thể bị ảnh hưởng bởi thiên tai như xâm nhập mặn, khuyến khích người dân hạn chế trồng trọt tại nơi bị ảnh hưởng và thay đổi cây giống, hoa màu phù hợp”(PVS lãnh đạo xã)
Về Tổ PNGNTT, 88,3% người dân tại các xã chương trình biết đến và hầu hết đều cho rằng tổPNGNTT mang lại lợi ích cho cộng đồng vì tổ này giúp họ hiểu biết được rủi ro thiên tai, phổbiến thông tin và cách phòng ngừa thiên tai, thảm họa Tuy nhiên, hoạt động này mới chỉ dừnglại ở xã chương trình, do đó mức độ người dân ngoài chương trình thấy tổ PNGNTT mang lạilợi ích cho cộng đồng rất thấp, chỉ 3.3% Đặc biệt thông qua các hoạt động của chương trìnhliên quan đến PNGNTT, nhiều phụ nữ, đặc biệt là ngươi dân tộc thiểu số có cơ hội được thamgia lập kế hoạch quản lý rủi ro thiên tai cũng như được trang bị các kỹ năng liên quan đến sơcấp cứu
2.5 Quyền phụ nữ và trẻ em gái
Hình 2: Nghe biết các thông tin về BLTCSG, BĐG, QPN, chăm sóc SKSS
(Đơn vị: %)
Quyền phụ nữBình đẳng giớiPhòng chống HIV/AIDSSức khỏe sinh sản và sức khỏe nh dục
Quyền trẻ emPhòng, chống buôn bán trẻ em, phụ nữ
Nam giới chia sẻ việc nhàPhụ nữ tham gia công tác xã hội và chính trị
Ngoài dự án/có nghe Trong dự án/có nghe
14
10050
10063.3
98.343.3
96.736.7
96.760
9543.3
86.733.3
80