Rủi ro tỷ giá của NHTM có thể phát sinh qua những hoạt động dưới đây: - Hợp đồng với khách hàng nội địa liên quan đến tài sản có, tài sản nợ và cácgiao dịch ngoại bảng bằng ngoại tệ - Hợ
Trang 1UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG HỌC PHẦN: QUẢN TRỊ RỦI RO TÀI CHÍNH
TRÌNH ĐỘ: Đại học
(Ghi đúng tên học phần trong chương trình đào tạo đã ban hành)
- Tổng số tiết quy chuẩn: 45
(Bài giảng là cụ thể hóa nội dung mục 5 trong đề cương chi tiết học phần; cần thể
hiện rõ phần vận dụng lý thuyết vào giải quyết các vấn đề trong thực tiễn).
I NỘI DUNG CHI TIẾT HỌC PHẦN
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÀI CHÍNH
A Mục tiêu
- Kiến thức Giúp sinh viên nắm bắt được các kiến thức cơ bản về các loại rủi rotài chính, nắm bắt được cách nhận dạng
- Kỹ năng: Kỹ năng tự nghiên cứu, trình bày nhóm, thảo luận và tự đánh giá
- Thái độ: Lên lớp đầy đủ, tích cực tham gia xây dựng bài
B Chuẩn bị
- Sinh viên: nghiên cứu tài liệu trước khi đến lớp
- Giảng viên: giáo trình: Quản trị rủi ro tài chính- TS Nguyễn Minh Kiều
Để có thể đo lường, rủi ro được định nghĩa như là sự khác biệt giữa giá trị thực tế vàgiá trị kỳ vọng Giá trị kỳ vọng chính là giá trị trung bình có trọng số của một biến nào
đó với trọng số chính là xác suất xảy ra và giá trị của biến đó Sự khác biệt giữa giá trịthực tế so với giá kỳ vọng được đo lường bởi độ lệch chuẩn Do vậy, độ lệch chuẩnhay phương sai (bình phương độ lệch chuẩn) chính là thước đo của rủi ro Nói đến rủi
ro tức là nói đến quan hệ giữa giá trị của một biến nào đó so với kỳ vọng của nó
Ví dụ: Giả sử bạn mua trái phiếu Kho bạc để có được lợi nhuận là 8% Nếu bạn giữtrái phiếu này đến cuối năm bạn sẽ được lợi nhuận là 8% trên khoản đầu tư của mình.Nếu bạn không mua trái phiếu mà dùng số tiền đó đi mua cổ phiếu và giữ đến hết năm,
Trang 2bạn có thể có hoặc có thể không có được cổ tức như kỳ vọng Hơn nữa, cuối năm giá
cổ phiếu có thể lên bà bạn được lời, giá cổ phiếu cũng có thể xuống khiến bạn bị lỗ.Kết quả là, lợi nhuận thực tế bạn nhận được có thể khác xa so với lợi nhuận kỳ vọng.Nếu rủi ro được định nghĩa là sự sai biệt giữa lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận kỳvọng thì trong trường hợp trên rõ rang đầu tư vào trái phiếu có thể xem như không córủi ro trong khi đầu tư vào cổ phiểu rủi ro hơn nhiều, vì xác suất hay khả năng sai biệtgiữa lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận kỳ vọng trong trường hợp hợp mua trái phiếuthấp hơn trong trường hợp mua cổ phiếu
- Rủi ro là một khái niệm thể hiện khả năng cụ thể của việc xảy ra hoặc một kết quả
Về mặt kỹ thuật, khái niệm rủi ro độc lập với giá trị, và vì vậy kết quả (rủi ro) có thể
có lợi hoặc bất lợi
Tuy nhiên quy luật chung của thẩm định rủi ro là xử lý những ảnh hưởng tiêu cực haynhững hậu quả có thể xảy ra từ một sự kiện tương lai
- Khái niệm về quản lý rủi ro: là một phương pháp tiếp cận được cơ cấu để quản trị sựrủi ro thông qua: đánh giá rủi ro và xây dựng chiến lược để quản lý và giảm thiểu rủi
ro thông qua các nguồn lực quản lý “Banking Skills Training & Consultancy JSC”Quản trị rủi ro truyền thống đặt trọng tâm vào nguồn gốc của rủi ro phát sinh từ vậtchất hay luật pháp (ví dụ: thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn, hay các vụ kiện tụng ra tòa)Quản trị rủi ro tài chính đặt trọng tâm vào các rủi ro có thể quản lý hay giảm thiểubằng các sử dụng các công cụ tài chinh
1.1.2 Phân loại rủi ro
a) Rủi ro trong kinh doanh
Khái niệm: Rủi ro kinh doanh là xác suất đón nhận sự thiệt hại trong hoạt động sản
xuất kinh doanh có nguy cơ đưa DN đến phá sản Rủi ro trong hoạt động kinh doanh
có đặc trưng cơ bản sau:
- Rủi ro là 1 phạm trù kinh tế tồn tại trong mọi quyết định kinh doanh
- Rủi ro chịu ảnh hưởng của cá nhân tố từ môi trường KD đến nhận thứcchủ quan của các nhà quản trị kinh doanh trong DN
- Rủi ro được biểu hiện dưới dạng nguy cơ đêm lại tổn thất về tiền và tàisản của DN
- Mức độ nghiêm trọng của rủi ro phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố đặc biệt làtrình độ phán đoán và dự báo của các nhà quản trị các cấp
Phân loại rủi ro trong kinh doanh:
+) Căn cứ vào tính chất rủi ro
- Rủi ro hoạt động: gắn với phương án kinh doanh cụ thể
Trang 3- Rủi ro tài chính: gắn với các quan hệ tài chính (huy động, sử dụng, phânphối vốn)
+) Căn cứ và thời điểm xác định rủi ro
+) Căn cứ vào môi trường hình thành: rủi ro có nguồn gốc tự nhiên (thiên tai bão lụt),rủi ro có nguồn gốc xã hội (môi trường văn hóa – xã hội – chính trị - pháp luật)
+) Căn cứ vào đối tượng rủi ro: rủi ro về tài sản, rủi ro về cong người (ảnh hưởng đếnchất lượng lao động của DN), rủi ro về trách nhiệm pháp lý: phát sinh khi chất lượngsản phẩm gây ra ảnh hưởng đến con người, môi trường
+) Căn cứ theo lĩnh vực hoạt động: rủi ro hoạt động kinh doanh, rủi ro hoạt động đầu
tư, rủi ro hoạt động tài chính
Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro trong kinh doanh của DN:
- Các nhân tố khách quan: những biến động bất lợi của môi trường tự nhiên- xã hội,chế độ chính sách xã hội, chính sách kinh tế vĩ mô, môi trường pháp lý, tập quán vănhóa và thói quen tiêu dùng, sự phát triển của khoa học công nghệ
- Các nhân tố chủ quan (nội tại DN): trình độ quản lý của cán bộ cấp cao, cấp trung,các nguồn lực của DN, cơ chế tiếp nhận thông tin
- Rủi ro thanh khoản
- Rủi ro lãi suất
Trang 4Trong hoạt động của công ty, rủi ro tín dụng phát sinh khi công ty bán chịu hàng hóathể hiện ở khả năng khách hàng mua chịu có thể thất bại trong việc trả nợ.
Trong hoạt động ngân hàng: rủi ro tín dụng phát sinh trong những trường hợp ngânhàng không thu được đầy đủ gốc và lãi của khoản vay, hoặc là việc thanh toán nợ gốc
là lãi không đúng kỳ hạn Trong hoạt động tín dụng, khi ngân hàng thực hiện nghiệp
vụ cấp tín dụng thì đó mới chỉ là một giao dịch chưa hoàn thành Giao dịch tín dụngchỉ được xem là hoàn thành khi nào ngân hàng thu hồi về được khoản tín dụng gồm cảgốc và lãi Khi thực hiện giao dịch tín dụng, từ lúc giải ngân cho đến khi thu hồi vốn
về cả gốc và lãi, ngân hàng không biết chắc được giao dịch đó có hoàn thành haykhông, nó có khả năng hoàn thành và cũng có khả năng không hoàn thành Do đó, rủi
ro tín dụng thể hiện ở khả năng hay xác suất hoàn thành giao dịch tin dụng đó Co thểnói, tất cả các hình thức cấp tín dụng của ngân hàng bao gồm cho vay ngắn hạn, chovay trung hạn, cho vay dài hạn, cho thuê tài chính, chiêt khấu chứng từ có giá, tài trợxuất nhập khẩu, tài trợ dự án, bao thanh toán và bảo lãnh ngân hàng đều chứa đựng rủi
ro tín dụng
- Biện pháp khắc phục và hạn chế rủi ro tín dụng:
- Đối với Doanh nghiệp: áp dụng chính chiết khấu, tính lãi trả chậm
- Đối với ngân hàng: Kiểm tra năng lực khách hàng, thẩm định dự án cho vay,quản lý tốt danh mục cho vay (bao gồm việc xây dựng các chuẩn mực cấp tín dụng vàchính sách đa dạng hóa phù hợp)
b) Rủi ro thanh toán.
- Khái niệm: là loại rủi ro xảy rra khi ngân hàng hoặc doanh nghiệp không đáp ứngđược các nghĩa vụ tài chính một cách thời (không thanh toán được các món nợ đếnhạn) hoặc phải huy động vốn bổ sung với chi phí cao hoặc bán tài sản với giá thấp
Là loại rủi ro dẫn đến nguy cơ phá sản nhanh nhất
Rủi ro thanh toán xảy ra khiến cho NH phải đình trệ hoạt động, gây thua lỗ, mất uy tín
và nếu nghiêm trọng có thể dẫn đến phá sản Trong trường hợp như vậy, ngân hàngphải đi vay bổ sung nguồn vốn thanh toán hoặc phải bán tài sản có của mình để đápứng các nghĩa vụ tài chính, đặc biệt là nhu cầu rút tiền của người gửi tiền Trong cơcấu tài sản có thì tiền mặt có độ thanh khoản cao nhất, do đó trước hết ngân hàng sửdụng tiền mặt để đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng Bởi vì tiền mặt tại quỹkhông mang lại thu nhập lãi suất, cho nên trong những trường hợp bình thường, ngânhàng chỉ duy trì một lượng tiền mặt ở mức tối ưu đủ để đáp ứng các nhu cầu rút tiềnthường xuyên của người gửi tiền mà không ảnh hưởng đến độ thanh khoản của ngânhàng Ngân hàng có thể làm được điểu này, bởi vì qua kinh nghiệp hoạt động ngânquỹ, ngân hàng có thể dự tính chính xác nhu cầu rút tiền gửi hàng ngày và trong
Trang 5trường hợp thiếu hụt tiền mặt tạm thời thì ngân hàng chỉ cần đi vay bổ sung một cáchthông thường trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng.
Tuy nhiên, trong một vài trường hợp đặc biệt ngân hàng có thể phải đối mặt với rủi rothanh toán, ví dụ trong tình huống dân chúng mất lòng tin vào hệ thống ngân hàng,hoặc nhu cầu rút tiền có tính thời vụ không dự tính trước, đòi hỏi ngân hàng phải chitrả tức thời một khoản tiền lớn hơn mức bình thường Trong bối cảnh đó, hầu hết cácngân hàng đều đang phải đối phó với tình huống tương tự, thì chi phí để huy động vốn
bổ sung tăng lên đáng kể do lượng vốn cung ứng trên thị trường giảm Hậu quả là,ngân hàng phải bán một số tài sản có độ thanh khoản thấp để đáp ứng nhu cầu rút tiềncủa người gửi Điều này khiến cho ngân hàng gặp phải rủi ro thanh toán nghiêm trọng
và ngân hàng phải bán ngay cả số tài sản khó chuyển nhượng với giá thấp vì không đủthời gian để tìm người mua cũng như điều kiện thương lượng về giá Do bán khẩn cấpmột số tài sản với giá thấp khiến cho khả năng thanh toán cuối cùng của ngân hàng bị
đe dọa Trong số tài sản có độ thanh khoản thấp bao gồm các khoản tín dụng cấp chocác công ty nhỏ
c) Rủi ro lãi suất
KN: là loại rủi ro phát sinh do sự biến động của lãi suất gây tác động xấu đến tình hìnhtài chính của tổ chức kinh doanh
Loại rủi ro này phát sinh trong quan hệ tín dụng của tổ chức tín dụng theo đó tổ chứctín dụng có những khoản đi vay hoặc cho vay theo lãi suất thả nổi Nếu ngân hàng đivay hoặc cho vay theo lãi suất thả nổi, khi lãi suất thị trường tăng khiến chi phí trả lãicủa ngân hàng tăng theo Ngược lại, nếu ngân hàng cho vay theo lãi suất thả nổi, khilãi suất thị trường thấp khiến thu nhập lãi cho vay của ngân hàng giảm theo Rủi ro lãisuất phát sinh khi ngân hàng không khớp được lãi suất thu được từ tài snar sinh lãi vàlãi suất chi ra cho nguồn vốn phải trả lãi Rủi ro lãi suất đặc biệt quan trọng khi ngânhàng huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu, hoặc đầu tư tài chính khá lớn vàtheo lãi suất thị trường
Tương tự, dù không thường xuyên bằng ngân hàng, hoạt động của các doanh nghiệp làkhách hàng của ngân hàng cũng có thể có rủi ro lãi suất nếu khách hàng không khớpđược giữa lãi suất thu về và chi ra từ hoạt động tài chính Ngoài ra, hoạt động đầu tưtài chính của ngan hàng cũng tiềm ẩn rủi ro lãi suất rất lớn Rủi ro lãi suất trong hoạtđộng đầu tư, đặc biệt là đầu tư vào các tài sản tài chính có thu nhập cố định như tínphiếu và trái phiếu các loại, thể hiện ở chố giá cả của các tài sản này thay đổi theo lãisuất thay đổi
Quá trình chuyển hóa tài sản là chức năng đặc biệt cơ bản của ngân hàng Quá trìnhchuyển hóa tài sản bao gồm (1): mua các chứng khoán sơ cấp, tức là sử dụng vốn, (2)
Trang 6phát hành các chứng khoán sơ cấp tức là huy động vốn Kỳ hạn và độ thanh khoản củacác chứng khoán sơ cấp trong danh mục đầu tư thuộc tài sản có thường không cânxứng với các chứng khoán thứ cấp thuộc tài sản nợ Sự không cân xứng về kỳ hạn giữatài sản có và tài sản nợ làm cho ngân hàng phải đối mặt với rủi ro khi lãi suất thay đổi.
Ví dụ: sử dụng sơ đồ biểu diễn trường hợp một ngân hàng huy động vốn kỳ hạn mộtnăm và đầu tư có kỳ hạn hai năm Giả sử lãi suất huy động là 9 %/năm và lãi suất đầu
tư là 10%/năm Sau năm thứ nhất, bằng cách vay ngắn hạn 1 năm và cho vay dài hạn 2năm, ngân hàng thu được lợi nhuận từ chênh lệch lãi suât là = 10%- 9%= 1% Tuynhiên, lợi nhuận của năm thứ hai chưa biết trước là bao nhiêu cho nên sẽ là một sốkhông chắc chắn Nếu lãi suất thị trường không thay đổi từ năm thứ nhất sang năm thứhai thì ngân hàng có thể tái tài trợ tài sản nợ với mức lãi suất không thay đổi là 9%, do
đó, mức lợi nhuận thu được trong năm thứ hai sẽ bằng năm thứ nhất là 1 % Vì lãi suấtthị trường có thể thay đổi từ năm thứ nhất sang năm thứ hai, cho nên ngân hàng luônđứng trước rủi ro về sự thay đổi lãi suất Giả sử, sang năm thứ hai, ngân hàng chỉ cóthể huy động vốn theo mức lãi suất thị trường hiện hành là 11%, do đó lợi nhuận củangân hàng sẽ chịu lỗ là 10%-11%= -1% Như vậy, lợi nhuận của năm thư nhất chỉ bùđắp cho khoản lỗ của năm thứ hai Kết quả là, trong mọi trường hợp nếu ngân hàngduy trì tài sản có có kỳ hạn dài hơn so với tài sản nợ thì ngân hàng luôn đứng trước rủi
ro về lãi suất trong việc tái tài trợ đối vơi tài sản nợ Rủi ro sẽ trở thành hiện thực nếulãi suất huy động vốn bổ sung trong những năm tiếp theo tăng lên trên mức lãi suấtđầu tư tín dụng dài hạn
Trường hợp ngược lại, ngân hàng huy động vốn có kỳ hạn dài và đầu tư có kỳ hạnngắn Ví dụ, ngân hàng huy động vốn với lãi suất là 9%, kỳ hạn là 2 năm và đầu tư vàotài sản có mức lãi suất là 10%, kỳ hạn là 1 năm Tương tự như trường hợp trên, saunăm thứ nhất ngân hàng thu được lợi nhuận là 1% Vì tài sản có chỉ có kỳ hạn là 1năm, cho nên sau năm thứ nhất tài sản có đến hạn và ngân hàng lại tiếp tục tái đầu tư.Giả sử lãi suất đầu tư của thị trường trong năm thứ hai giảm xuống chỉ còn 8%, điềunày khiến cho ngân hàng gặp phải rủi ro về lãi suất, đó là lỗ 8%-9%= -1% Như vậy,lợi nhuận thu được của năm thứ nhất vừa đủ bù đắp khoản lỗ của năm thứ 2 Kết quả
là, ngân hàng gặp rủi ro về lãi suất tái đầu tư trong trường hợp tài sản có có kỳ hạnngắn hơn tài sản nợ Và ví dụ điển hình về rủi ro lãi suất tái đầu tư trong những nămgần đây là hiện tượng các ngân hàng hoạt động trên thị trường tiền tệ châu Âu thườnghuy động vốn với lãi suất cố định nhưng đầu tư với lãi suất thả nổi, tức là lãi suất củanhững khoản tín dụng luôn được điều chỉnh (thay đổi) định kỳ (6 tháng/lần)để phù hợpvới lãi suất của thị trường
Trang 7Ngoài rủi ro lãi suất tái tài trợ hoặc tái đầu tư tài sản có, thì khi lãi suất thị trường thayđổi ngân hàng còn có thể gặp phải rủi ro giảm giá trị tài sản Như chúng ta đã biết, thìgiá trị thị trường của tài sản có hay tài sản nợ là dựa trên khái niệm giá trị hiện tại củatiền tệ Do đó, nếu lãi suất thị trường tăng lên thì mức chiết khấu giá trị tài sản cũngtăng lên, do đó giá trị hiện tại của tài sản có và tài sản nợ giảm xuống thì giá trị của tàisản có và tài sản nợ tăng lên Do đó, nếu kỳ hạn của tài sản có và tài sản nợ không cânxứng với nhau, ví dụ tài sản có có kỳ hạn dài hơn tài sản nợ, thì khi lãi suất thị trườngtăng, giá trị của tài sản có sẽ giảm nhanh hơn và nhiều hơn so với sự giảm giá trị củatài sản nợ Rủi ro giảm giá trị tài sản khi lãi suất thay đổi thuộc loại rủi ro về lãi suất
và dẫn đến thiệt hại về tài sản của ngân hàng
Như vậy nếu ngân hàng duy trì cơ cấu tài sản có và tài sản nợ với những kỳ hạn khôngcân xưng, thì phải chịu nhưng rủi ro về lãi suất trong việc tái tài trợ tài sản co và tái tàitrợ tài sản nợ, hoặc rủi ro về lãi suất do giá trị của tài sản thay đổi khi lãi suất thịtrường biến động Ngân hàng có thể phòng ngừa rủi ro lãi suất bằng cách làm cho các
kỳ hạn của tài sản co và tài sản nợ cân xứng với nhau Xét từ góc độ triết lý chung thìviệc làm cho các kỳ hạn cân xứng với nhau là một giải pháp tốt nhất để phòng ngừa rủi
ro lãi suất Cần lưu ý rằng việc làm cho các kỳ hạn của tài sản nợ và tài sản có cânxứng với nhau là đối nghịch với chức năng tích cực chuyển hóa tài sản của ngân hàng.Nghĩa là, tại cùng một thời điểm, ngân hàng không thể vừa chuyển hóa tài sản lại vừa
là người không chịu rủi ro lãi suất Việc làm cho các kỳ hạn cân xứng với nhau, mộtmặt, giảm được rủi ro lãi suất, mặt khác, lại làm giảm khả năng sinh lời của ngân hàng,bởi lẽ nó làm giảm các cơ hội đầu tư vào những tài sản dài hạn có rủi ro cao song khảnăng sinh lời lớn
Do rủi ro tỷ giá là vấn đề khá phức tạp và có thể phát sinh trong nhiều loại hoạt độngkhác nhau của khách hàng cũng như ngân hàng nên chúng ta sẽ nghiên cứu từng hoạtđộng cụ thể của Doanh nghiệp cũng như của ngân hàng
- Rủi ro tỷ giá đối với doanh nghiệp (tập trung nhận dạng rủi ro tỷ giá phát sinh trong
các hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp bao gồm: hoạt động đầu tư, hoạt động xuấtnhập khẩu, và hoạt động tín dụng)
Trang 8- Nhận dạng rủi ro tỷ giá trong hoạt động đầu tư.
Rủi ro tỷ giá trong hoạt động đầu tư thường phát sinh đối với công ty đa quốc gia hoặcđối với các nhà đầu tư tài chính có danh mục đầu tư đa dạng hóa trên bình diện quốc
tế Có thể nói, cả đầu tư trục tiếp và đầu tư gián tiếp đều chịu ảnh hưởng của rủi ro tỷgiá Bí dụ 1 dưới đây minh họa cách nhận dạng rủi ro tỷ giá với hoạt động đầu tư trựctiếp
Ví dụ 1: Nhận dạng rủi ro tỷ giá trong hoạt động đầu tư trực tiếp
Unilever là một công ty đa quốc gia Khi đầu tu vào Việt Nam, Unilever phải bỏ vốn bằng ngoại tệ (USD) để thiết lập nhà máy, nhập khẩu nguyên vật liệu cho sản xuất Phần lớn sản phẩm sản xuất đều tiêu thụ trên thị trường Việt Nam Phần lớn chi phí của Unilever phát sinh bằng ngoại tệ (trừ tiền lương cho nhân công và cán bộ quản lý Việt Nam), trong khi doanh thu chủ yếu bằng VND nên Unilever phải đối mặt thường xuyên với rủi ro tỷ giá Nếu USD lên giá so với VND thì chi phí sản xuất gia tăng tương đối so với doanh thu Nếu trước đây, tỷ giá USD/VND=22.280 hàng năm chi phí nhập khẩu nguyên vật liệu của Unilever là 1 triệu USD, tương đương 22,28 tỷ VND Bây giờ tỷ giá USD/VND là= 22.845 thì chi phí nhập khẩu nguyên liệu quy ra VND là 22,845 tỷ VND, tăng lên , tăng lên 565 đồng mỗi USD nhập khẩu Điều này khiến cho chi phí sản xuất tăng thêm 565 triệu đồng Ngoài ra, khi chuyển lợi nhuận
về nước nhà đầu tư phải chuyển sang từ VND sang ngoại tệ Tỷ giá lúc chuyển đổi là bao nhiêu? Điều này cũng tiềm tàng rùi ro tỷ giá
+ Nhận dạng rủi ro tỷ giá hoạt động đầu tư gián tiếp
Bên cạnh ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư trực tiếp như vừa phân tích, rủi ro tỷ giácũng có thể ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư gián tiếp, tức là đầu tư trên thị trường tàichính Ví dụ 2 sẽ minh họa cách nhận dạng rủi ro tỷ giá trọng hoạt động đầu tư tàichính hay đầu tư gián tiếp này
Ví dụ 2: Nhận dạng rủi ro tỷ giá trong hoạt động đầu tư gián tiếp.
Một nhà đầu tư A vừa rút vốn đầu tư 500,000 USD khỏi thị trường Mỹ do lãi suất giảm và tình hình kinh tế My do lãi suất USD giảm và tình hình kinh tế Mỹ không mấy khả quan Hưởng ứng lời kêu gọi và khuyến khích đầu tư của chính phủ VN nên nhà đầu tư A mua cổ phiếu SAM Giá thị trường của SAM hiện tại là 25,000 VND/ cổ phiếu và tỷ giá USD/VND= 22.125 Như vậy, với 500,000 USD nhà đầu tư có thể mua được số cổ phiếu là = (500,000*22.125)/25,000= 442.500 Giả sử một năm sau nhà đầu tư muốn bán cổ phiếu SAM để rút vốn về đầu tư nơi khác Lúc này giá cổ phiếu SAM tăng lên 25,500 VND/ cổ phiếu trong khi giá USD cũng tăng so với VND lên đến 22.250 VND/USD Nhà đầu tư bán 442.500 cổ phiếu được 11.283.750.000 VND và mua được 11.283.750.000/22.250=507.134,83146 USD Số USD nhà đầu tư rút về
Trang 9bây giờ sẽ cao hơn vốn đầu tư ban đầu 7.134,83146 USD mặc dù giá cổ phiếu tăng 500VND
- Nhận dạng tỷ giá trong hoạt động xuất nhập khẩu
Có thể nói rủi ro tỷ giá trong hoạt động xuất nhập khẩu là loại rủi ro tỷ giá thườngxuyên gặp phải và đáng lo ngại nhất là các công ty hoạt động xuất nhập khẩu mạnh Sựthay đổi tỷ giá ngoại tệ so với nội tệ làm thay đổi giá trị kỳ vọng của các khoản thuhoặc phải trả bằng ngoại tệ trong tương lai Điều này khiến cho hiệu quả hoạt độngxuất nhập khẩu bị ảnh hưởng đáng kể và nghiêm trọng hơn có thể làm đảo lộn kết quảkinh doanh Mặc dù trên thực tế, một công ty có thể vừa hoạt động xuất khẩu vừa hoạtđộng nhập khẩu, nhưng để dễ dàng hình dung và tiện trong quá trình phân tích, vànhận dạng rủi ro tỷ giá một cách riêng biệt đối với từng loại hơp đồng xuất khẩu vànhập khẩu
Nhận dạng rủi ro tỷ giá đối với hoạt động xuất khẩu.
Trong hoạt động xuất khẩu, vì lý do cạnh tranh và nhiều lý do khác khiến doanhnghiệp thường xuyên bán hàng trả chậm trong một khoảng thời gian nhất định Ở thờiđiểm ký kết hợp đồng, tỷ giá ngoại tệ so với VND đã biết Nhưng đến thời điểm thanhtoán, tỷ giá như thế nào thì doanh nghiệp chưa biết Đơn giản là vì điều này chưa xảy
ra Chính sự chưa biết rõ tỷ giá này tiềm ẩn rủi ro tỷ giá
Ví dụ 3: Nhận dạng rủi ro tỷ giá khi doanh nghiệp ký hợp đồng xuất khẩu
Giả sử ngày 04/08/N công ty A thương lượng ký kết hợp đồng xuất khẩu trị giá là 200,000USD Hợp đồng sẽ đến hạn thanh toán sau 6 tháng kể từ ngày ký hợp đồng Ở thời điểm thương lượng hợp đồng, tỷ giá USD/VND= 21.850 trong khi tỷ giá thời điểm thanh toán chưa biết vì chưa đến hạn khiến cho hợp đồng xuất khẩu của công ty A chứa đựng rủi ro tỷ giá Nếu đến hạn thanh toán, USD tiếp tục lên giá so với VND thì bên cạnh lợ nhuận do hoạt đọng xuất khẩu đem lại, công ty A kiếm thêm được khoản lợi nhuận tăng thêm do đồng USD lên giá Ngược lại, nếu đến hạn thanh toán, USD xuống giá so với VND thì doanh thu kỳ vọng bằng VND của hợp đồng xuất khẩu trên giảm đi Sự sụt giảm này làm cho lợi nhuận kỳ vọng từ hợp đồng xuất khẩu giảm đi, nghiêm trọng hơn có thể khiến cho hợp đồng trở nên lỗ nếu như sự sụt giá USD quá mạnh Chẳng hạn, vào ngày thanh toán nếu USD/VND= 21.500 thì cứ mỗi USD xuất khẩu công ty tổn thất 350 VND do USD xuống giá Toàn bộ hợp đồng trị giá 200,000 USD, công ty bị thiệt hại 350*200,000= 70 triệu VND.
Nhận dạng rủi ro tỷ giá đối với hoạt động nhập khẩu
Trong hoạt động nhập khẩu, vì lý do thiếu hụt vốn và nhiều lý do khác khiến doanh
nghiệp thường xuyên nhập khẩu hàng trả chậm trong một khoảng thời gian nhất định
Ở thời điểm ký kết hợp đồng, tỷ giá ngoại tệ so với VND đã biết Nhưng đến thời điểm
Trang 10thanh toán, tỷ giá như thế nào doanh nghiệp chưa biết Đơn giản là vì điều này chưaxảy ra Chính sự chưa biết rõ tỷ giá này tiềm ẩn rủi ro tỷ giá
Ví dụ 4: Nhận diện rủi ro tỷ giá khi doanh nghiệp ký hợp đồng nhập khẩu.
Giả sử ngày 10/11/N công ty B đang thương lượng ký kết hợp đồng nhập khẩu trị giá 200,000 USD Hợp đồng sẽ đến hạn thanh toán 7 tháng sau kể từ ngày ký kết hợp đồng Ở thời điểm thương lượng hợp đồng, tỷ giá USD/VND=21,850 trong khi tỷ giá ở thời điểm thanh toán chưa biết Sự không chắc chắn của tỷ giá USD/VND vào thời điểm thanh toán khiến cho hợp đồng nhập khẩu của công ty B chứa đựng rủi ro tỷ giá Nếu đến hạn thanh toán, USD xuống giá so với VND thì bên cạnh lợi nhuận do hoạt động nhập khẩu đem lại, công ty còn thu thêm được khoản lợi nhuận tăng lên do USD xuống giá làm cho chi phí nhập khẩu giảm Ngược lại, nếu đến hạn thanh toán USD lên giá so với VND thì chi phí nhập khẩu kỳ vọng bằng VND của hợp đồng nhập khẩu trên tăng lên Sự gia tăng chi phí này làm cho lợi nhuận kỳ vọng từ hợp đồng nhập khẩu giảm đi thâm chí khiến cho hợp đồng có thể trở nên lỗ nếu như sự lên giá USD quá mạnh Ví dụ, vào ngày thanh toán USD/VND= 22,050 thì ta thấy mỗi USD nhập khẩu làm cho chi phí gia tăng 200 VND so với tỷ giá lúc thương lượng hợp đồng Toàn
bộ hợp đồng, công ty bị thiệt hại 200* 200,000= 40 triệu VND.
- Nhận dạng rủi ro tỷ giá trong hoạt động tín dụng
Hoạt động tín dụng cũng chứa đựng rủi ro tỷ giá rất lớn Điêu này đặc biệt thể hiện rõtrong hoạt động tín dụng bằng ngoại tệ của các ngân hàng thương mại Đứng trên giác
độ doanh nghiệp, khách hàng của các ngân hàng thương mại, việc vay vốn bằng ngoại
tệ cũng bị ảnh hưởng bởi rủi ro tỷ giá Chẳng hạn, thời điểm Fed đã hạ lãi suất xuốngmức thấp chỉ còn 1.25%/ năm là cơ hội hiếm có cho các doanh nghiệp co thể vay vốnngoại tệ với chi phí rẻ Tuy nhiên, nếu vay USD trong thời gian tương đối dài với sốlượng lớn doanh nghiệp cần lưu ý tác động của yếu tố rủi ro tỷ giá của doanh nghiệplẫn ngân hàng trong hoạt động tín dụng
Ví dụ 5: Nhận dạng rủi ro tỷ giá của doanh nghiệp và của ngân hàng trong hoạt động tín dụng.
Công ty C đang thương lượng vay 3 triệu USD cảu ngân hàng A để thu mua và chế biến cà phê xuất khẩu Do lãi suất USD trên thị trường giảm nên NH A đồng ý cho công ty C vay với lãi suất 7%/năm trong thời hạn 6 tháng Ở thời điểm vay vốn, tỷ giá USD/VND=21.845 Sáu tháng sau khi đáo hạn, tỷ giá USD/VND là bao nhiêu công ty vẫn chưa biết, do đó, công ty đối mặt với rủi ro tỷ giá nếu ký kết hợp đồng này Công
ty ước tính, sau tháng sau phải trả nợ cả gốc và lãi là 3*(1+7%*6/12) = 3,105 triệu USD Với tỷ giá hiệnt ại côn ty phải bỏ ra 3,105* 21.845= 67.828,725 triệu VND trả
nợ cả gốc và lãi Nhưng nếu sáu tháng sau tỷ giá USD/VND= 21.950 thì cứ mỗi USD
Trang 11phải trả công ty phải bỏ thêm 105 VND, tổng chi phí trả nợ và lãi sẽ lên đến 3.105*21.950= 68.154,75 triệu VND, tăng 326.025 triệu VND so với ước tính
Trong quan hệ tín dụng trên, sáu tháng sau, ngân hàng thu nợ khoản vay cả gốc và lãi 3.105 triệu USD, nhưng tỷ giá USD/VND lúc này ngân hàng cũng chưa biết, do đó, ngan hàng cũng đối mặt với rủi ro tỷ giá, thể hiện ở khả năng USD/VND giảm, trong khi rủi ro tỷ giá của doanh nghiệp thể hiện ở khả năng USD/VND tăng Việc tỷ giá USD/VND sáu tháng sau sẽ tăng hay giảm không ai biết được.
Tóm lại, trong bất kỳ hoạt động nào của doanh nghiệp có liên quan đến ngoại tệ khiếncho dòng tiền vào và dòng tiền phát sianh không cùng một loại tiền đều chứa đựng rủi
ro tỷ giá Rủi ro này nhiều hay ít, đáng kể hay không tùy thuộc vào mức độ biến động
tỷ giá lớn hay nhỏ, hoặc trị giá hợp đồng hay giá trị của khoản chi thu lớn hay nhỏ
- Rủi ro tỷ giá đối với hoạt động ngân hàng
Bên cạnh rủi ro tỷ giá phát sinh đối với doanh nghiệp Với tư cách là ngân hàngthương mại, sở dĩ chúng ta quan tâm đến nguồn gốc của rủi ro phát sinh cũng như tácđộng của rủi ro tỷ giá đến hoạt động của doanh nghiệp là vì có như thế chúng ta mới
có thể tư vấn và thuyết phục được doanh nghiệp sử dụng các công cụ phòng ngừa rủiruo tỷ giá do ngân hàng cung cấp Khi doanh nghiệp gặp phải rủi ro tỷ giá có thể thựchiện các hợp đồng giao dịch phái sinh với NHTM để phòng ngừa tổn thất ngoại hối.Đến lượt ngân hàng, thì rủi ro sẽ phát sinh và đo lường như thế nào
Hầu hết các dịch vụ của ngân hàng thương mại hình thành nên tài sản nợ, tài sản cóhay các khoản thanh toán bằng ngoại tẹ đều chịu ảnh hưởng của rủi ro và tổn thấtngoại hối Rủi ro tỷ giá của NHTM có thể phát sinh qua những hoạt động dưới đây:
- Hợp đồng với khách hàng nội địa liên quan đến tài sản có, tài sản nợ và cácgiao dịch ngoại bảng bằng ngoại tệ
- Hợp đồng với khách hàng nước ngoài liên quan đến tài sản có, tài sản nợ vàcác giao dịch ngoại bẳng bằng nội tệ, ngoại tệ
- Mua và bán ngoại tệ (giao ngay và kỳ hạn) với khách hàng hoặc cung cấpdịch vụ phòng ngừa tổn thất ngoại hối cho khách hàng
- Giao dịch ngoại tệ trên tài khoản riêng của NHTM, chẳng hạn như giao dịchkinh doanh ngoại tệ của ngân hàng trên thị trường quốc tế
Bất luận giao dịch phát sinh như thế nào, thì suy cho cùng các giao dịch này cũng hìnhthành nên các khoản phải thu và phải trả bằng ngoại tệ đối với ngân hàng thương mại,
từ đó gây ra rủi ro tỷ giá Rủi ro tỷ giá phát sinh như phânt ích trên có thể gây ra tổnthất cho NHTM khi tỷ giá thay đổi
1.2 Phân tích rủi ro tài chính.
1.2.1 Phân tích rủi ro tài chính thông qua các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán
Trang 12- Hệ số khả năng thanh toán ngay
- Hệ số khả năng thanh toán nhanh
- Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn
- Hệ số khả năng thanh toán tổng quát
1.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh trình độ sử dụng cácnguồn lực sẵn có của doanh nghiệp như: lao dộng, vốn, vật tư… Để đạt được kết quảcao nhất với chi phí thấp nhất Việc phân tích rủi ro tài chính thông qua các chỉ tiêuphản ánh kết quả kinh doanh giúp cho các nhà quản trị có thể sớm xác định các nguy
cơ xảy ra rủi ro trong kinh doanh từ đó có thể đưa ra biện pháp ngăn ngừa, hạn chếthiệt hại
Các thông tin phân tích hiệu quả kinh doanh vừa là cơ sở đưa ra quyết định đầu tưđồng thời cũng là thông tin nhận diện thích hợp về mức độ rủi ro tài chính của doanhnghiệp
Vì vậy tuy phân tích hiệu quả kinh doanh cần phải nghiên cứu một cách toàn diện vềkhông gian và thời gian đồng thời phải đặt nó trong mối quan hệ với hiệu quả chungtoàn xã hội
- Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của kinh doanh
- Tỷ suất sinh lời của vốn= (LNTT+ lãi vay)/ nguồn vốn bình quân (so sánhvới lãi suất đi vay)
Chỉ tiêu này càng lớn thì càng tốt và so sánh với lãi suất đi vay
- Tỷ suất sinh lời của TS= LNST/TSbình quân
So sánh với chỉ tiêu bình quân của ngành, nếu nhỏ hơn, chịu sức ép rủi ro
- Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE)= LNST/VỐN CSH bình quân
So sánh với chỉ tiêu ngành bình quân, và tỷ suất lợi nhuận yêu cầu của nhà đầu tư, lãisuất có kỳ hạn của ngân hàng
Nếu thấy chỉ tiêu (3)> (2)>lãi suất: thay vì đầu tư thì nên đi vay để đầu tư ngăn ngừathâm hụt vốn chủ sở hữu, tận dụng đòn bẩy tài chính nâng cao tỷ suất sinh lời tài sản(tuy nhiên kết hợp với khả năng thanh toán)
- Sức sinh lời của doanh thu= LNST/DTT
Một đồng dtt có được bao nhiêu đồng lnst
Nếu muốn ROA tăng thì có thể tăng lợi nhuận, đẩy nhanh vòng quay tài sản (DTT/ TStăng)
Hoặc kiểm soát chi phí (LNST/DTT tăng)
1.2.3 Phân tích rủi ro tài chính thông qua đòn bẩy tài chính
Trang 13Khái niệm: đòn bẩy tài chính là mối quan hệ tỷ lệ giữa tổng số nợ và vốn chủ sở hữuđược biểu hiện thông qua hệ số nolwj, thông qua hệ số nợ xác định mức độ góp vốncủa chủ sở hữu đối với tổng tài sản của doanh nghiệp
Mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp được thể hiện thông qua hệ số nợ
và hệ số đảm bảo nợ, trong đó doanh nghiệp có hệ số nợ cao thể hiện doanh nghiệp cóđòn bẩy tìa chính ở mức độ cao và ngược lại
Hệ số nợ càng cao thì đầu tư vào tài sản bằng nợ vay càng lớn
Lượng hóa rủi ro tài chính đối với đòn bẩy tài chính: độ lớn của đòn bẩy tài chínhđược sử dụng để lượng hóa rủi ro tài chính đối với doanh nghiệp có sử dụng công nợ,
độ lớn của đòn bẩy tài chính được xác định theo công thức sau:
- Độ nhạy của đòn bẩy tài chính = % thay đổi của LNST/ % thay đổi củaLNTT* lãi vay
1% thay đổi của LNTT*lãi vay dẫn đến % thay đổi của LNST
- Hệ số nợ = Tổng nợ phải trả/ Tổng tài sản
- Hệ số đảm bảo nợ= Vốn CSH/ Tổng nợ phải trả
1.2.4 Phân tích rủi ro tài chính thông qua phân tích chỉ tiêu công nợ phải thu- phải trả
Sử dụng một trong hai chỉ tiêu sau để phân tích rủi ro tài chính
- Tỷ lệ vốn bị chiếm dụng so với khoản phải thu
= Vốn bị chiếm dụng*100%/ Tổng các khoản phải thu
Vốn bị chiếm dụng là số phải thu quá hạn chưa thu được
- Tỷ lệ vốn chiếm dụng so với các khoản phải trả
= Vốn chiếm dụng*100%/ Tổng các khoản phải trả
Trong các khoản phải trả, có bao nhiêu phần tram vốn đi chiếm dụng
1.3 Các nguyên lý cơ bản của quản trị rủi ro tài chính
- Nguyên tắc bảo đảm khả năng thanh toán
- Đòi hỏi phải lập các khoản dự phòng nhưng không được dự phòng quá lơn
- Không đánh giá cao hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập( nhưng cũng không đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản nợ phải trả và chi phí
- Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn vềkhả năng thu được lợi ích kinh tế còn chi phí phải được ghi nhận khi có bằng chứng vềkhả năng phát sinh chi phí
Trang 14- Thường xuyên phân tích tình hình tài chính nhằm nhận diện những nguy cơxảy ra rủi ro tài chính đối với doanh nghiệp
- Quản lý chặt chẽ nợ phải trả và nợ phải thu, có kế hoạch thanh toán nợ vàthu nợ không để nợ phải trả cộng dồn quá lớn và không để phát sinh nợ phải thu khóđòi
- Thực hiện nghiêm túc các quy định về thời hạn trong kinh doanh và đầu tư
E Câu hỏi ôn tập
1 Rủi ro là gì Có bao nhiêu loại rủi ro tài chính?
2 Phân tích trạng thái ngoại tệ trường của ngân hàng?
3 Rủi ro tài chính nào làm cho nguy cơ phá sản của ngân hàng có xác suất lớn
nhất? Vì sao?
4 Có thể nhận dạng bao nhiêu loại rủi ro tài chính thông qua phân tích tài chính và bản báo cáo tài chính?
Trang 15
CHƯƠNG 2: CÁC CÔNG CỤ QUẢN TRỊ RỦI RO TÀI CHÍNH
A Mục tiêu
- Kiến thức: Sinh viên nắm được các kiến thức cơ bản và biết áp dụng các công
cụ phái sinh: hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn, và hợp đồnghoán đổi
- Kỹ năng: Khả năng tự nghiên cứu, trình bày nhóm, tự nghiên cứu
- Thái độ: tích cực và có mặt đầy đủ
B Chuẩn bị
- Sinh viên: nghiên cứu tài liệu trước khi đến lớp
- Giảng viên: Giáo trình: Quản trị rủi ro tài chính- TS Nguyễn Minh Kiều; Quảntrị rủi ro tài chính- TS Nguyễn Thị Ngọc Trang
C Phương pháp: Thuyết trình- Đàm thoại.
Ví dụ: tài sản cơ sở là gạo
- Nếu người mua không thực hiện hợp đồng thì sẽ mất toàn bộ số tiền ký quỹ
- Nêu người bán không thực hiện hợp đồng thì sẽ phải hoàn lại toàn bộ số tiền
ký quỹ cho người mua thêm một khoản tiền phạt nhất định (thường là 100% giá trị tiền
ký quỹ)
Trang 16- Việc giao dịch trên thị trường hiện nay vẫn chưa được thể chế hóa, hầu hết các chínhphủ đều coi các hợp đồng kỳ hạn là những thỏa thuận mang tính chất cá nhân, tínhriêng biệt này đã mang đến sự linh hoạt cho các thành viên tham gia và cho phép thịtrường thích ứng một cách nhanh chóng vơi các thay đổi trên thị trường.
- Hạn chế: sự ràng buộc lỏng lẻo: số tiền ký quỹ nếu nhận thấy khoản lỗ sovới số tiên ký quỹ thiệt cho mình thì họ sẵn sàng hủy hợp đồng
- Ưu điểm: linh hoạt trong thỏa thuận
Khác với hợp đồng quyền chọn, trong đó người giữ hợp đồng có quyền thực hiện hoặckhông thực hiện quyền của mình, thì ở hợp đồng kì hạn, 2 bên chịu sự ràng buộc pháp
lý chặt chẽ hải thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, trừ khi cả hai bên thoả thuận huỷ hợpđồng
Hợp đồng kì hạn được sử dụng để phòng ngừa rủi ro, ví dụ như rủi ro mất giá tiền tệ(hợp đồng kì hạn đối với USD hoặc EUR) hay rủi ro biến động giá một loại hàng hoánào đó (hợp đồng kì hạn với dầu mỏ)
Trong hợp đồng kì hạn, một bên đồng ý mua, còn bên kia đồng ý bán, với một mức giá
kì hạn được thống nhất trước, nhưng không có việc thanh toán tiền thật sự ngay thờiđiểm kí kết Ngược lại với giá kì hạn là giá giao ngay (spot price), giá bán của tài sảnđược giao vào ngày giao ngay (spot date), thường là trong vòng 2 ngày kể từ ngày kí.Chênh lệch giữa giá kì hạn và giá giao ngay gọi là khoản thặng dư (forward premium)nếu giá kì hạn cao hơn, hoặc khoản khấu trừ (forward discount) nếu giá kì hạn thấphơn
Hợp đồng kì hạn được tiêu chuẩn hoá, giao dịch trên các thị trường tập trung gọi làhợp đồng tương lai (futures contract) Hợp đồng tương lai cũng là một loại hợp đồng
kì hạn nhưng nó có những đặc trưng rât riêng
Hãy nghiên cứu ví dụ sau để hiểu rõ hơn về đặc điểm của một hợp đồng kì hạn :
Giả sử Mr X muốn mua một ngôi nhà trong vòng 1 năm tới, đồng thời Mr Y sở hữumột căn nhà và anh ta muốn bán trong cùng thời gian đó Y thoả thuận bán ngôi nhàcủa Y cho X sau 1 năm nữa với giá là $104,000, hợp đồng này là một hợp đồng kì hạn
Vì X là người mua nên X mong muốn giá sẽ tăng trong tương lai, ngược lại, Y muốngiá giảm Cuối năm, giả sử giá thị trường của ngôi nhà lúc đó là $110,000, trong khi Y
có nghĩa vụ phải bán nhà cho X với giá $104,000 theo như cam kết trong hợp đồngnên có thể coi như Y đã lỗ $6000, còn X lãi $6000 (vì X có thể mua nhà của Y với giá
$104,000 và bán ngay trên thị trường với giá $110,000)
Nhìn chung nếu không tính đến các nhân tố khác thì giá kì hạn bao giờ cũng lớn hơngiá giao ngay, vì nó bao gồm cả lãi suất
Trang 17Tiếp tục ví dụ trên, giả sử giá bán hiện nay của ngôi nhà là $100,000, thì Y có thể bánngay để đem gửi ngân hàng để hưởng lãi suất 4%/năm Sau 1 năm Y sẽ có số tiền
$104,000 mà không phải chịu chút rủi ro nào Trong khi đó nếu X muốn mua ngayngôi nhà anh ta sẽ đến vay ngân hàng số tiền $100,000, và cũng phải trả lãi 4%/năm.Còn ngược lại nếu kí hợp đồng mua kì hạn anh ta sẽ không phải trả lãi nên X cũng sẵnsàng bỏ ra $104,000 để mua ngôi nhà trong vòng 1 năm nữa Đó là lý do vì sao giá kìhạn được thống nhất ở $104,000 chứ không phải là $100,000
2.2 Hợp đồng giao sau (hợp đồng tương lai - Future)
2.2.1 Khái niệm
Hợp đồng tương lại (hợp đồng giao sau) cũng là sự thỏa thuận giữa bên mua- bên bán
để mua hoặc bán tài sản vào một ngày nhất định trong tương lai với mức giá đã thỏathuận vào ngày hôm nay
Các hợp đồng tương lai được giao dịch trên sàn giao dịch giao sau và chịu quá trìnhthanh toán hàng ngày
- Đặc điểm:
Mặc dù hợp đồng kỳ hạn thường rất linh hoạt về phương diện thời hạn và số tiền giaodịch nhưng chúng hạn chế về mặt thanh khoản bởi vì các bên tham gia hợp đồngkhông thể bán hợp đồng khi thấy có lời cũng không thể xóa bỏ hợp đồng khi thấy bấtlợi Trong khi đó, hợp đồng giao sau có tính thanh khoản cao hơn bỏi vì phòng giaohoán sẵn sàng đứng ra “đảo hợp đồng” bất cứ khi nào có một bên yêu cầu Khi đảohợp đồng thì hợp đồng cũ bị xóa bỏ và hai bên thanh toán cho nhau phần chênh lẹchgiá trị tại thời điểm đảo hợp đồng
Đặc điểm này khiến hầu hết các hợp đồng giao sau đều tất toán thông qua đảo hợpđồng, chỉ có khoảng 1.5% hợp đồng giao sau thực hiện thông qua chuyển giao ngoại tệvào ngay đến hạn Cũng chính đặc điểm này khiến hợp đồng giao sau nói chung làcông cụ thích hợp cho nhà đầu cợ
- Thay vì nhận giá trị hợp đồng thông qua việc thanh toán đơn nhất vào ngàyđáo hạn, những thay đổi về giá trị của các hợp đồng tương lai được thực hiện vào cuốingày chúng được giao dịch hay nói cách khác hợp đồng tương lai có tính thanh toántiền mặt, điều chỉnh theo thị trường hàng ngày
- Hợp đồng tương lai đòi hỏi cả người bán và người mua đều phải thực hiệnmột khoản ký gửi là ký quỹ
Nếu hợp đồng tương lai tăng giá trị trong ngày giao dịch mức tăng sẽ được cồngvào tài khoản ký quỹ của khách hàng
Nếu hợp đồng tương lại giảm giá trị trong ngày giao dịch khoản lỗ sẽ được trừ rakhỏi khoản ký quỹ
Trang 18Khi số dư trên tài khoản giảm xuống dưới một mức nhất định, khách hàng sẽ được yêucầu nộp một khoản ký quỹ gửi bổ sung hoặc vị thế của khách hàng sẽ bị giảm xuống,
và có thể bị đóng lại
2.2.2 Cơ chế giao dịch hợp đồng tương lai
Hợp đồng tương lai, nhà đầu tư muốn mua hay bán hợp đồng tương lai sẽ liên lạc vớicông ty môi giới Công ty môi giới sẽ chỉ thị cho người mua bán trên sàn giao dịchthực hiện lệnh mua hay bán hợp đồng tương lai
Tất cả các hợp đồng giao sau đều thực hiện giao dịch ở Sở giao dịch có tổ chức Sởgiao dịch là người đề ra quy chế và kiểm soát hoạt động của các hội viên Hội viên của
Sở giao dịch là các cá nhân, có thể là đại diện của các công ty, ngân hàng thương mạihay cá nhân có tài khoản riêng
Sở giao dịch hạn chế số lượng hội viên và vì vậy quyền hội viên có thể được mua báncho thuê hay ủy quyền giao dịch lại cho các nhà giao dịch không phải hội viên Cáccông ty môi giới có quyền cử đại diện của mình ở sàn giao dịch
- Người mua trong hợp đồng phải mua tài sản cơ sở với mức giá xác định trong tươnglai và sẽ được hưởng lợi nếu giá tài sản trên thị trường tăng lên
- Người bán trong hợp đồng tương lai phải bán tài sản cơ sở vơi mức giá xác địnhtrong tương lai và sẽ được lợi nếu giá tài sản trên thị trường giảm xuống
Khi ký hợp đồng các nhà đầu tư mua hoặc bán hợp đồng tương lai cần đóng một khoảntiền ký quỹ vào công ty thanh toán bù trừ Công ty có trách nhiệm đối chiếu các khoảnlãi/ lỗ hàng ngày và ghi có và ghi nợ vào tài khoản bảo chứng của các nhà đâu tư theo
sự biến động của tài sản cơ sở
- Nếu số dư trên tài khoản bảo chứng > số tiền ký quỹ quy định thì nhà đầu
tư có quyền rút tiền về
- Nếu số dư trên tài khoản bảo chứng < mức quy định thì nhà đầu tư phảinộp thêm tiền vào tài khoản
- Vào ngày đáo hạn, công ty thanh toán bù trừ có trách nhiệm giao tài sản cơ
sở cho người mua hợp đồng, việc quyết toán hợp đồng sẽ được tiến hành trên cơ sởtính toán chênh lệch giữa giá trị bảo chứng và mức giá thực hiện
2.3 Hợp đồng quyền chọn (Options)
Trang 19- Khái niệm: hợp đồng quyền chọn là hợp đồng cho phép người mua nó co quyền,nhưng không bắt buộc, được mua hoặc bán: một số lượng xác định các đơn vị tài sản
cơ sở, tại hay trước một thời điểm xác định trong tương lai, với một mức giá xác địnhngay tại thời điểm thỏa thuận hợp đồng
Tại thời điểm xác định trong tương lai, người mua quyền có thể thực thiện hoặc khôngthực hiện quyền mua (quyền bán) tài sản cơ sở Nếu người mua thực hiện quyền mua(hay bán) thì người bán quyền bắt buộc phải bán ( hay mua) tài sản cơ sở Thời điểmxác định trong tương lai gọi là ngày đáo hạn, thời gian từ khi ký hợp đồng quyền chọnđến ngày thanh toán gọi là kỳ hạn của quyền chọn Mức giá xác định áp dụng trongngày đáo hạn gọi là giá thực hiện
Quyền chọn là một công cụ tài chính cho phép người mua quyền, nhưng không bắtbuộc, được mua hay bán một công cụ tài chính khác ở một mức giá và thời hạn đượcxác định từ trước Người bán hợp đồng quyền chọn phải thực hiện nghĩa vụ hợp đồngnếu người mua yêu cầu Bỏi vì quyền chọn là một tài sản tài chính nên nó có giá trị vàngười mua phải trả một khoản chi phí nhất định khi mua no
- Người mua quyền chọn (holder): người bỏ ra chi phí để được nắm giữ quyền chọn và
có quyền yêu cầu người bán có nghĩa vụ thực hiện quyền chọn theo ý mình
- Người bán quyền (writer) nguời nhận chi phí mua quyền của người mua quyền, do
đó, có nghĩa vụ phải thực hiện quyền chọn theo yêu cầu của người mua quyền
- Tài sản cơ sở: tài sản mà dựa vào đó quyền chọn được giao dịch Giá cả trên thịtrường của tài sản cơ sở là căn cứ để xác định giá trị quyền chọn Tài sản cơ sở có thể
là hàng hóa như café, dầu hỏa… hay chứng khoán cổ phiếu trái phiếu
- Tỷ giá thực hiện là tỷ giá áp dụng nếu người mua quyền yêu cầu thực hiện quyềnchọn
- Trị giá hợp đồng quyền chọn: trị giá được chuẩn hóa theo từng loại ngoại tệ và thịtrường giao dịch
* Phân loại quyền chọn
a) Quyền chọn cho phép được mua gọi là quyền chọn mua (Call option), quyền chọncho phép được bán gọi là quyền chọn bán (put option)
- Quyền chọn mua trao cho người mua (người nắm giữ) quyền, nhưng không phảinghĩa vụ, được mua một tài sản cơ sở vào một thời điểm hay trước một thời điểm trongtương lai với một mức giá xác định
Đối với quyền chọn mua, ta có người mua quyền chọn mua và người bán quyền chọnmua
Trang 20- Quyền chọn bán trao cho người mua (người nắm giữ) quyền, nhưng không phảinghĩa vụ, được bán một tài sản cơ sở vào một thời điểm hay trước một thời điểm trongtương lai với một mức giá xác định
Đối với quyền chọn bán, có người bán quyền chọn bán và người mua quyền chọn bán
b) Một các phân loại khác là chia quyền chọn thành quyền chọn kiểu Châu âu và kiểu Mỹ
- Quyền chọn kiểu Châu Âu (mua hay chọn bán) là loại quyền chọn chỉ có thể thựchiện vào ngày đáo hạn chứ không được hiện trước ngày đó
- Quyền chọn kiểu Mỹ (mua hay chọn bán) là loại quyền chọn có thể được thực hiệnvào bất cứ thời điểm nào trước khi đáo hạn
c) Theo loại tài sản cơ sở
Quyền chọn được chia thành quyền chọn trên thị trường hàng hóa, quyền chọn trền thịtrường tài chính và quyền chọn trên thị trường ngoại hối
* Đặc trưng của hợp đồng quyền chọn
- Loại quyền: Quyền chọn mua: mua với giá xác định thấp hơn giá thịtrường
Quyền chọn bán: bán với giá xác định cao hơn giá thị trường
- Tên của hàng hóa cơ sở và khối lượng được thực hiện theo quyền
- Mức giá thực hiện
- Ngày thực hiện hợp đồng (ngày đáo hạn): ngày cuối cùng hợp đồng còn hiệu lực(Kiểu Anh, kiểu Mỹ)
* Phí quyền
- Giá trị nội tại lợi ích có thể có được nếu thực hiện hợp đồng ngay lập tức
- Giá trị theo thời gian: chịu sự tác động của hàng hóa cơ sở, lãi suất, biến động thịtrường
* Chức năng kinh tế
- Giúp các nhà đầu tư quyền chọn nâng cao tỷ suất sinh lời
- Giúp nhà đầu tư giới hạn rủi ro tỷ giá
- Giúp nhà đâu tư đưa ra chiến lược đầu tư phù hợp với nền kinh tế
2.4 Hợp đồng hoán đổi (swap)
Ở Việt Nam giao dịch hoán đổi chính thức ra đời từ khi Ngân hàng nhà nước ban hànhQuy chế hoạt động giao dịch hối đoái kèm theo Quyết định số 17/1998/QĐ-NHNN7
ngày10 tháng 01 năm 1998 Theo quyết định này, giao dịch hoán đổi là giao dịch hối đoái bao gồm đồng thời cả hai giao dịch: giao dịch mua và giao dịch bán cùng một số lượngđồng tiền này với đồng tiền khác, trong đó kỳ hạn thanh toán của hai giao dịch khác nhau và tỷ giá của hai giao dịch được xác định tại thời điểm ký hợp đồng.
Trang 21Quyết định 17 đã mở đường cho các ngân hàng thương mại tiến hành riển khai thựchiện các giao dịch hoán đổi ngoại tệ ở Việt Nam Năm 1998 là năm thị trường ngoạihối ở Việt Nam có nhiều biến động, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tiền tệ ĐôngNam Á Khách hàng có nhu cầu thực hiện giao dịch hoán đổi với ngân hàng có thể làcác công ty xuất nhập khẩu, các ngân hàng khác hoặc là một tổ chức tín dụng phi ngânhàng Sau đây chúng ta sẽ xem xét hai tình huống cơ bản đưa đến nhu cầu thực hiệngiao dịch hoán đổi của khách hàng.
Tình huống 1: Công ty Saigonimex vừa thu ngoại tệ 90.000USD từ một hợp đồng
xuất khẩu Hiện tại công ty cần VND để chi trả tiền mua nguyên liệu và lương chocông nhân Ngoài ra, công ty biết rằng ba tháng nữa sẽ có một hợp đồng nhập khẩuđến hạn thanh toán Khi ấy công ty cần một khoản ngoại tệ 80.000USD để thanh toánhợp đồng nhập khẩu Để thoả mãn nhu cầu VND ở hiện tại và USD trong tương lai, ởthời điểm hiện tại Saigonimex có thể thoả thuận với ngân hàng hai loại giao dịch:
• Bán 90.000USD giao ngay để lấy VND chi tiêu ở thời điểm hiện tại
• Mua 80.000USD kỳ hạn để có USD thanh toán hợp đồng nhập khẩu sẽ đến hạn sau
ba tháng nữa
Tình huống 2: Công ty Cholonimex đang cần ngoại tệ 90.000USD để chi trả cho một
hợp đồng nhập khẩu đến hạn Ngoài ra, công ty biết rằng ba tháng nữa sẽ có một hợpđồng xuất khẩu đến hạn thanh toán Khi ấy công ty sẽ có một khoản ngoại tệ thu về80.000USD cần bán để lấy VND Để thoả mãn nhu cầu USD ở hiện tại và VND trongtương lai, ở thời điểm hiện tại Cholonimex có thể thoả thuận với ngân hàng hai loạigiao dịch:
- Mua 90.000USD giao ngay để có USD thanh toán hợp đồng nhập khẩu đến hạn
- Bán 80.000USD kỳ hạn để có VND chi tiêu sau ba tháng nữa
Khách hàng có thể thực hiện từng loại giao dịch riêng lẻ nhằm thoả mãn nhu cầu ngoại
tệ và VND Tuy nhiên, nếu thực hiện riêng lẻ từng loại giao dịch giao ngay và giaodịch kỳ hạn thì ngân hàng và khách hàng phải thỏa thuận đến hai loại hợp đồng, theo
đó khách hàng bán giao ngay và mua kỳ hạn hoặc mua giao ngay và bán kỳ hạn vớicùng một loại ngoại tệ Giao dịch riêng lẻ này khiến cho khách hàng phải chịu thiệt hailần do chênh lệch giữa giá bán và giá mua và những phiến toái trong thoả thuận hợpđồng giao dịch Thay vì thực hiện giao dịch giao ngay và giao dịch kỳ hạn riêng biệt,ngân hàng kết hợp hai loại giao dịch này lại trong một hợp đồng, gọi là hợp đồng hoánđổi tiền tệ Trong hợp đồng giao dịch hoán đổi, hai bên ngân hàng và khách hàng thỏathuận với nhau một số nội dung chính như sau:
Trang 22Thời hạn giao dịch – Thời hạn giao dịch hoán đổi có thể từ 3 ngày đến 6 tháng Nếu
ngày đáo hạn rơi vào ngày Chủ nhật hoặc ngày lễ thì hai bên sẽ thoả thuận chọn mộtngày đáo hạn thích hợp và thời hạn hợp đồng sẽ tính trên số ngày thực tế
Điều kiện thực hiện – Giao dịch hoán đổi áp dụng đối với khách hàng có đủ các điều
kiện sau: (1) có giấy phép kinh doanh, (2) xuất trình các chứng từ chứng minh nhu cầu
sử dụng ngoại tệ, (3) mở tài khoản ngoại tệ và tài khoản VND ở ngân hàng, (4) trả phígiao dịch theo qui định, (5) duy trì một tỷ lệ đặt cọc tối đa không quá 5% trị giá hợpđồng để bảo đảm việc thực hiện hợp đồng, và (6) ký hợp đồng giao dịch hoán đổi vớingân hàng
Ngày thanh toán – Trong giao dịch hoán đổi, ngày thanh toán bao gồm hai loại ngày
khác nhau: ngày hiệu lực và ngày đáo hạn Ngày hiệu lực là ngày thực hiện thanh toángiao dịch giao ngay trong khi ngày đáo hạn là ngày thực hiện thanh toán giao dịch có
kỳ hạn
Xách định tỷ giá hoán đổi – Một hợp đồng hoán đổi liên quan đến hai loại tỷ giá: tỷ
giá giao ngay và tỷ giá có kỳ hạn Tỷ giá giao ngay là tỷ giá do ngân hàng niêm yết tạithời điểm giao dịch do hai bên thoả thuận Tỷ giá có kỳ hạn được tính trên cơ sở tỷ giágiao ngay, chênh lệch lãi suất giữa VND và ngoại tệ, và số ngày thực tế của hợp đồng
Quy trình thực hiện giao dịch hoán đổi – Tại ngân hàng thương mại quy trình thực
hiện giao dịch hoán đổi tiến hành qua các bước sau đây:
• Khách hàng có nhu cầu thực hiện giao dịch hoán đổi đến liên hệ với phòng kinhdoanh tiền tệ của ngân hàng
• Căn cứ vào cung và cầu ngoại tệ, phòng kinh doanh tiền tệ sẽ chào giá và kỳ hạn cụthể cho khách hàng
• Nếu khách hàng đồng ý giá cả thì hai bên sẽ ký hợp đồng hoán đổi
Có hai trường hợp xảy ra hợp đồng hoán đổi như vừa trình bày trong hai tình huốngtrên đây Ở tình huống 1 ngân hàng mua giao ngay và bán có kỳ hạn Ở tình huống 2ngân hàng bán giao ngay và mua có kỳ hạn
Để thực hiện giao dịch hoán đổi với khách hàng, ở ngày hiệu lực ngân hàng phải thuthập thông tin tỷ giá và lãi suất để xác định tỷ giá và chào cho khách hàng Giả sử vàongày hiệu lực có tỷ giá và lãi suất như sau:
USD/VND: 22456 – 22567
USD: 4,6% – 5,2%
VND: 7,8 % – 10,6%
E Câu hỏi
1 Hợp đồng kỳ hạn là gì? Phân tích cơ chế hoạt động?
2 Hợp đồng tương lai là gì? Phân tích cơ chế hoạt động của hợp đồng?
Trang 233 Phân biệt hợp đồng tương lai và hợp đồng hoán đổi? Hợp đồng nào có tínhlinh hoạt hơn? Vì sao?
4 Nhà đầu tư nên ký hợp đồng quyền chọn kiểu Châu Âu, hay kiểu Mỹ? Vìsao?
5 Hợp đồng quyền chọn là gì? Có bao nhiêu các phân loại hợp đồng quyềnchọn? Ai là người có quyền thực biện / hủy hợp đồng trong hợp đồng quyền chọn
Trang 24CHƯƠNG 3: QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT
A Mục tiêu
- Kiến thức: Sinh viên nắm được các kiến thức về lãi suất, cũng như các cáchtính lãi của Ngân hàng hiện nay, các phương pháp lượng hóa rủi ro lãi suất cũng nhưnhững thiệt hại hay tổn thất có thể phát sinh từ sự biến động của lãi suất Từ đó sinhviên nắm bắt được mục tiêu của quản trị rủi ro lãi suất là tìm cách cố định lãi suất hoặcnếu không cố định được thì phải bù đắp được tổn thất nếu có do lãi suất biến động.Chẳng hạn, dàn xếp sao cho lãi suất thu từ tài sản sinh lãi và lãi suất chi cho huy độngnguồn vốn phải trả lãi đều là lãi suất cố định hoặc thả nổi Khi đó, tự động lãi suất thu
và chi có thể bù đắp lẫn nhau khiến cho biên độ thu nhập lãi được giữ nguyên khi lãisuất thị trường biến động
- Kỹ năng: Khả năng tự nghiên cứu, trình bày nhóm, tự nghiên cứu
- Thái độ: tích cực và có mặt đầy đủ
B Chuẩn bị
- Sinh viên: nghiên cứu tài liệu trước khi đến lớp
- Giảng viên: Giáo trình: Quản trị rủi ro tài chính- TS Nguyễn Minh Kiều; Quảntrị rủi ro tài chính- TS Nguyễn Thị Ngọc Trang
C Phương pháp: Thuyết trình- Đàm thoại.
Diến biến lãi suất ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống hàng ngày của mỗi chủ thể kinh
tế, tác động đến những quyết định của cá nhân như chỉ tiêu(…) Lãi suất cũng tác độngđến những quyết định kinh tế của các doanh nghiệp như: dùng tiền để đầu tư mua thiết
bị mới cho các nhà máy hoặc bỏ tiền vào tài khoản tiền gửi tại ngân hàng Do ảnhhưởng của lãi suất, lãi suất là một biến số được theo dõi chặt chẽ nhất trong nền kinh
tế và diễn biến của nó được đưa tin hầu như hàng ngày trên các phương tiện thông tinđại chúng
Trang 253.1.2 Phân loại lãi suất
a) Căn cứ vào nghiệp vụ ngân hàng
- Lãi suất tiền gửi ngân hàng: là lãi suất ngân hàng trả cho các khoản tiền gửi vào ngânhàng Lãi suất tiền gửi ngân hàng có nhiều mức khác nhau tùy thuộc vào:
+ Loại tiền gửi là nội tệ hay ngoại tệ
+ Loại tìa khoản tiền gửi thanh toán hay tiền gửi tiết kiệm
+ Loại thời hạn là không kỳ hạn, ngắn hạn hay dài hạn
+ Quy mô tiền gửi
- Lãi suất tiền vay ngân hàng: là loại lãi suất mà người đi vay phải trả cho ngân hàng
là người cho vay Lãi suất tiền vay ngân hàng ( còn gọi là lãi suất tín dụng) cũng cónhiều mức tùy theo loại tiền, thời hạn, phương thức, mục đích tiền vay và theo mức độquan hệ giữa ngân hàng và khách hàng
- Lãi suất chiết khấu: áp dụng khi ngân hàng cho khách hàng vay dưới hình thức chiếtkhấu thương phiếu hoặc giấy tờ có giá khác chưa đến hạn thanh toán của khách hàng
Nó được tính bằng tỷ lệ phần trăm trên mệnh giá của tờ có giá và được khấu trừ ngaykhi ngân hàng đưa tiền vay cho khách hàng Như vậy, lãi suất chiết khấu được trảtrước cho ngân hàng chứ không trả lãi sau như lãi suất tín dụng thông thường
- Lãi suất tái chiết khấu: Áp dụng khi ngân hàng trung ương cho các ngân hàng trunggian vay dưới hình thức chiết khấu lại thương phiếu hoặc giấy tờ có giá ngắn hạn chưađến hạn thanh toán của các ngân hàng này Nó cũng được tính bằng tỷ lệ phần trămtrên mệnh giá của giấy tờ có giá và cũng được khấu trừ ngay khi ngâ hàng trung ươngcấp tiền vay cho ngân hàng
Lãi suất tái chiết khấu do ngân hàng trung ương ấn định căn cứ vào mục tiêu, yêu cầucủa chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ và chiều hướng biến động lãi suất trên thịtrường liên ngân hàng
Vì hoạt động tái chiết khấu cung ứng nguồn vốn cho các ngân hàng trung gian nênthông thường lãi suất tái chiết khấu nhỏ hơn lãi suất chiết khấu Tuy nhiên trongtrường hợp cần hạn chế khả năng mở rộng tín dụng của hệ thống ngân hàng, nhắmkiểm chế đẩy lùi lạm phát hoặc phạt các ngân hàng trung gian trong trường hợp viphạm các yêu cầu về thanh toán, ngân hàng trung ương có thể ấn định lãi suất tái chiếtkhấu bằng hoặc thậm chí cao hơn lãi suất chiết khấu của hệ thống ngân hàng
- Lãi suất liên ngân hàng: là lãi suất mà các ngân hàng áp dụng khi cho nhau vay trênthị trường liên ngân hàng Lãi suất liên ngân hàng được hình thành qua quan hệ cungcầu vốn vay trên thị trường liên ngân hàng và chịu sự chi phối bởi lãi suất cho cácngan hàng trung gian vay của ngân hàng trung ương Mức đọ chi phối này phụ thuộc
Trang 26vào sự phát triển của hoạt động thị trường mở và tỷ trọng sử dụng vốn vay ngân hàngtrung ương của các ngân hàng trung gian
- Lãi suất cơ bản: là lãi suất được các ngân hàng sử dụng làm cơ sở để ấn định mức lãisuất kinh doanh của mình
Lãi suất cơ bản được hình thành khác nhau tùy từng nước, thông thường có 4 cách quyđịnh như sau:
+ Do ngân hàng trung ương ấn định
+ Do bản thân các ngân hàng thương mại tự xác định căn cứ vào tình hình hoạtđộng cụ thể của ngân hàng của mình
+ Căn cứ vào lãi suất của một số ngân hàng đứng đầu làm lãi suất cơ bản, rồi (+,-)biên độ dao động theo một tỷ lệ % nhất định để hình thành lãi suất kinh doanh củamình
+ Một số nước lại sử dụng lãi suất liên ngân hàng làm lãi suất cơ bản
+ Tại Việt Nam, lãi suất cơ bản là một công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ củaNHNN VN, lãi suất cơ bản chỉ áp dụng cho Đồng VN, do NHNN công bố, làm cơ sởcho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh Lãi suất cơ bản được xác địnhdựa trên cơ sở lãi suất thị trường liên ngân hàng, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở, lãisuất huy động đầu vào của tổ chức tín dụng và xu hướng biến động cung cầu vốn Các
tổ chức tín dụng không được cho vay với lãi suất cao hơn gấp rưỡi lãi suất cơ bản.b) Căn cứ vào giá trị của tiền lãi
- Lãi suất danh nghĩa (nominal interest rate): là lãi suất tính theo giá trị danh nghĩa củatiền tệ
Hay nói các khác là loại lãi suất chưa trừ đi tỷ lê lạm phát Lãi suất danh nghĩa thườngđược công bố chính thức trong các hợp đồng tín dụng và ghi rõ trên công cụ nợ
- Lãi suất thực (real interest rate): là lãi suất được điều chỉnh lại cho đúng theo nhữngthay đổi về lạm phát
Hay nói cách khác, là lãi suất đã loại trừ đi tỷ lệ lạm phát Quan hệ giữa lãi suất thực
và lãi suất danh nghĩa phản ánh bằng phương trình Fisher (lấy theo tên của nhà kinh tếhọc Irving Fisher đã tìm ra phương trình này:
Lãi suất danh nghĩa= Ls thực + tỷ lệ lạm phát
Vì được điều chỉnh lại cho đúng theo những thay đổi về lạm phát nên lãi suất thựcphản ánh chính xác khoản thu nhập thực tế từ tiền lãi mà người cho vay nhạn được haychi phí thực của việc vay tiền Sự phân biệt lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa có một
ý nghĩa rất quan trọng Bởi lẽ, chính lãi suất thực chứ không phải lãi suất danh nghĩaảnh hưởng đến đầu tư, đến việc tái phân phối tu nhập giữa con nợ và chủ nợ, sự lưuthông về vốn ngắn hạn giữa các nước khác nhau Đối với người có tiền, nhờ đoán biết
Trang 27được lãi suất thực mà họ quyết định nên gửi vào ngân hàng hay mang đi kinh doanhtrực tiếp Còn đối với người cần vốn, nếu dự đoán được tương lai có lạm phát mà trongsuốt thời gian đó lãi suất cho vay không đổi hoặc có tăng nhưng tốc độ tăng khôngbằng lạm phát tăng thì họ có thể yên tâm để kinh doanh mà không sợ lỗ do có trượt giákhi trả nợ
- Lãi suất thực trả (effective interest rate): là lãi suất ghi trên hợp đồng thường là tỷ lên
%
Tuy nhiên việc trả lãi lại có thể diễn ra định kỳ hàng tháng, quý, 6 tháng… do đó, sovới mức lãi suất ghi trên hợp đồng, thì mức lãi suất thực trả (hay thực nhận) sẽ cao hơnmức lãi suất ghi trên hợp đồng ( vì lãi sinh ra lãi)
c) Căn cứ vào tính linh hoạt của lãi suất
- Lãi suất cô định: là lãi suất quy định cố định trong suốt thời hạn vay Nó có ưu điểm
là số tiền lãi được cố định và biết trước nhưng nhược điểm là bị rang buộc vào mộtmức lãi suất nhất định trong một khoảng thời gian dù cho lãi suất thị trường thay đổi
- Lãi suất thả nổi: Là lãi suất được quy định là có thể lên xuống theo lãi suất thị trườngtrong thời hạn tín dụng (báo trước hoặc không báo trước) Lãi suất thả nổi vừa chứađựng cả rủi ro lẫn lợi nhuận
Khi lãi suất tăng lên người vay bị thiệt trong khi người cho vay được lợi, ngược lại vớitrường hợp lãi suất giảm xuống
Đây là công cụ hữu hiệu giúp cho cả nhà đầu tư và người sử dụng công cụ tài chính sửdụng với chi phí hợp lý
d) Căn cứ vào loại tiền cho vay
- Lãi suất nội tệ: Là lãi suất cho vay và đi vay nội tệ
- Lãi suất ngoại tệ: là lãi suất cho vay và đi vay ngoại tệ
Mối liên hệ hai lãi suất này được thể hiện bằng phương trình
rD= rF+∆Ee
Trong đó rD: là lãi suất nội tệ
rF: là lãi suất ngoại tệ
∆Ee: là mức tăng tỷ giá dự tính của đồng ngoại tệ
Phương trình này được hình thành trên cơ sở lập luận: lợi tức dự tính của việc nắm giữcác khoản tiền gửi bằng nội tệ phải bằng lợi tức dự tính của việc nắm giữ các khoảntiển gửi bằng ngoại tệ Nếu tồn tại sự chênh lệch về mức lợi tức dự tính, sẽ xuất hiện
sự di chuyển vốn từ loại tiền gửi này sang loại tiền gửi kia để được hưởng mức lợi tứccao hơn Kết quả của sự di chuyển này là lợi tức dự tính của các khoản tiền gửi sẽđược điểu chỉnh lại dưới ảnh hưởng của quan hệ cung cầu Kết quả là sự cân bằng sẽđược lặp lại Vì mức lợi tức dự tính của việc nắm giữ các khoản tiền gửi bằng nội tệ là
Trang 28lãi suất nội tệ, còn mức lợi tức dự tính của việc nắm giữ các khoản tiền ngoại tệ là lãisuất ngoại tệ cộng với mức tăng giá dự tính của ngoại tệ Phương trình trên chỉ tồn tạitrong điều kiện chế độ tư do ngoại hối, tức là được tự do chuyển đổi từ đồng nội tệsang ngoại tệ và ngược lại Nếu quản lý ngoại hối chặt chẽ thì sẽ vẫn tồn tại chênh lệch
vì vốn không chuyển đổi giưa hai loại tiền được
e) Căn cứ vào nguồn tín dụng trong nước hay quốc tế
- Lãi suất trong nước hay lãi suất địa phương (national interest rate) là lãi suất áp dụngcho các hợp đồng tín dụng trong một quốc gia
- Lãi suất quốc tế (international interest rate) là lãi suất áp dụng trong các hợp đồng tíndụng quốc tế
Các hợp đồng tín dụng quốc tế áp dụng mức lãi suất của thị trường quốc gia nào thì lãisuất thị trường quốc gia đó trở thành lãi suất quốc tế Lãi suất địa phương chịu ảnhhưởng của lãi suất quốc tế Nếu thị trường vốn địa phương mà tự do thì lãi suất đạiphương sẽ lên xuống theo lãi suất quốc tế
LIBOR (London interbank offered rate): lãi suất của liên ngân hàng London công bốvào 11h trưa hàng ngày tại London Còn gọi là ngân hàng bù trừ London, gồm 4 ngânhàng lớn: Barclays, Llouds,Naitonal Westminster và Midland Bốn ngân hàng kiểmsoát khoảng 90% việc thanh toán bù trừ các khoản tiền gửi ngân hàng của Anh Đây làlãi suất cho vay ngắn hạn (1,3,6,12 tháng), thường được sử dụng làm lãi suất thamkhảo trong các hợp đồng tín dụng quốc tế Ngoài Libor còn có lãi suất NIBOR của thịtrường Newyork, TIBOR của thị trường Tokyo, SIBOR của thị trường Singapore
3.1.3 Vai trò của Lãi suất đối với nền kinh tế
Lãi suất là một biến số kinh tế có ý nghĩa quan trọng và ảnh hưởng đến hành vi của tất
cả mọi cá thể tham gia nền kinh tế Xét dưới góc độ kinh tế vi mô, lãi suất chi phốihành vi của doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình Xét dưới góc độ kinh tế vĩ mô, lãi suất
có tác động đến nhiều biến số kinh tế vĩ mô như đầu tư, tiêu dùng, tiết kiêmk, lạmphát, tỷ giá hối đoái Do đó, lãi suất là một công cụ đắc lực mà NHNN sử dụng để điềutiết kinh tế vĩ mô
- Lãi suất với tăng trưởng kinh tế
Lãi suất là một công cụ của chính sách tiền tệ được các NHNN sử dụng nhằm đạt đượccác mục tiêu trung gian về đầu tư, tiết kiệm tiêu dùng, lạm phát, tỷ giá hối đoái Saucùng, các mục tiêu trung gian này sẽ giúp đạt được mục tiêu cuối cùng là tăng trưởngkinh tế Như vậy làm rõ mối quan hệ giữa lãi suất và tăng trưởng kinh tế, cần phân tích
rõ tác động của lãi suất đến từng biến kinh tế vĩ mô- các mục tiêu trung gian của cácchính sách kinh tế
- Lãi suất với đầu tư
Trang 29Đầu tư là biến số quan trọng của kinh tế vĩ mô và có mối quan hệ hai chiều với tăngtrưởng kinh tế Khi gia tăng đầu tư và đầu tư đó hiệu quả thì sẽ kích thích tăng trưởngkinh tế, khi cắt giảm đầu tư hoặc đầu tư kém hiệu quả thì sẽ tác động tiêu cực đến tăngtrưởng kinh tế Ngược lại, khi kinh tế tăng trưởng thì sẽ khuyến khích gia tăng đầu tư
và khi kinh tế suy giảm thì sẽ xuất hiện áp lực thu hẹp đầu tư Có nhiều yếu tố tácđộng đến việc ra quyết định đầu tư, song có ba yếu tố chính là: lãi suất thực tế, lạmphát dự tính và lợi nhuận dự tính
Trong ba yếu tố trên, lãi suất thực là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết địnhđầu tư vì lãi suất chính là chi phí cơ hợi của đầu tư Nếu chi phí cơ hội của một quyếtđịnh đầu tư cao thì đâu tư sẽ giảm và ngược lại, nếu chi phí cơ hội của một quyết địnhđầu tư thấp sẽ tạo động lực để gia tăng đầu tư Như vậy, lãi suất thực và đầu tư có mốiquan hệ tỷ lệ nghịch với nhau Điều này có thể giải thích như sau: nếu mức giá khôngđổi, khi lãi suất ở mức thấp thì tiền phải trả (nếu đi vay để đầu tư) hoặc lợi tức nhậnđược nếu gửi tiền vào ngân hàng (đầu tư bằng vốn tự có) thấp, do đố, đầu tư để xâydựng nhà xưởng, mua sắm máy móc, trang thiết bị sẽ tăng lên vì chi phí cơ hội củaquyết định đầu tư này là thấp Ngược lại, khi lãi suất ở mức cao thì tiền lãi phải trả chongân hàng (nếu đi vay) hoặc tiền lợi tức nhận được (nếu tiền gửi vào ngân hàng) cao,kết quả là đầu tư giảm vì tiền được gửi vào ngân hàng để lấy lợi tức hoặc khách hàng
sẽ vay ít hơn để đầu tư vì chi phí cơ hội của những quyết định đầu tưu lúc này là cao
- Lãi suất với tiết kiệm và tiêu dùng
Tiết kiệm và tiêu dùng cũng là hai biến số được các nhà kinh tế dành nhiều sự quantâm vì vai trò quan trọng của chúng trong nền kinh tế Tiêu dùng là một cấu phần củatổng cầu, tiêu dùng tăng thì tổng cầu tăng và ngược lại Mặc dù tiết kiệm làm giảmtổng cầu nhưng lại là yếu tố đóng góp quan trong trong quá trình huy động vốn chonền kinh tế Thu nhập của hộ gia đình được chia làm hai phần là tiết kiệm và tiêudùng Tỷ lệ giữa tiêu dùng và tiết kiệm trong tổng thu nhập của hộ gia đình là không
cố định và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thu nhập, sở thích, xu hướng tiêu dùng cậnbiên, xu hướng tiết kiệm cận biên, lãi suất
Trong khi lãi suất có mối quan hệ cùng chiều với tiết kiệm thì tiêu dùng và lãi suất lạivận động ngược chiều nhau Nếu lãi suất ở mức cao thì người dân sẽ dành nhiều tiềnhơn để gửi vào ngân hàng vì lúc này lợi tức tiền gửi nhận được là cao, kết quả là tiếtkiệm có xu hướng tăng lên trong khi tiêu dùng có xu hướng giảm xuống vì lãi suát caothì tín dụng tiêu dùng cao Ngược lại, nếu lãi suất ở mức thấp thì sẽ không đủ hấp dẫn
để thu hút nhưungx khoản tiết kiệm từ người dân làm cho tiết kiệm có xu hướng giảmtrong khi ngưoif dẫn sẽ tiêu dùng nhiều hơn vì tín dụng tiêu dùng thấp Đến đây, mộtlần nữa lãi suất lại được xem như một chi phí cơ hội của tiêu dùng, vì khi dành tiền để
Trang 30chi tiêu một món hàng đồng nghĩa với việc xuất hiện một chi phí cơ hội là lợi tức củamón tiền đó nếu được gửi vào ngân hàng Trong trường hợp đi vay để chi tiêu cũngtương tự, tiền lãi phải trả của món tiền đi vay để chi tiêu chính là chi phí cơ hội củaquyết định chi tiêu đó
- Lãi suất với chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Lãi suất và CPI có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, điều này đã được chứng minhtrong cả lý luận và thực tiễn Lãi suất thường tăng trong các thời kỳ lạm phát cao để lãisuất cho vay thực vấn đảm bảo dương và để kiềm chế lạm phát, lãi suất thường giảmxuống nếu nền kinh tế đang trong thời kỳ giảm phát để tăng khả năng tiếp cận nguồnvốn vay cho các doanh nghiệp, từ đó kích thích kinh tế tăng trưởng
Vậy lãi suất tác động đến CPI theo co chế nào? Giả sử nền kinh tế đang trong thời kỳlạm phát cao NHNN sẽ tăng lãi suất chiết khấu đối với NHTM Khi lãi suất chiết khấutăng, các NHTM sẽ giảm các khoản tiền vay chiết khấu với NHNN, dẫn đến mức cungtiền giảm Ngược lại, khi NHNN giảm lãi suất chiết khấu thì các NHTM sẽ vay chiếtkhấu nhiều hơn dẫn đến mức cung tiền tăng Vì vậy, lãi suất thị trường là 8% vàNHNN công bố mức lãi suất chiết khấu đối với các ngân hàng thương mại là 7% NHưvậy NHTM có thể cho vay trên thị trường với lãi suất 8% và nếu cần họ có thể vay củaNHNN để kinh doanh với mức lãi suất 7% (mức lãi suất chiết khấu này đủ để NHTMkinh doanh có lãi) Nếu lãi suất chiết khấu của NHNN tăng lên 10%, các NHTM sẽkhông thể tiếp tục vay NHNN vì lãi suất cho vay của NHTM là 8% thấp hơn lãi suấtchiết khấu 10% Vậy để ứng phó với tình huống rút tiền ồ ạt mà không phải vayNHNN với lãi suất chiết khấu 10% thì các NHTM buộc phải tăng dự trữ tiền mặt Dựtrữ tăng làm số nhân tiền giảm và mức cung tiền giảm Kết quả là mức cung tiền giảm(lượng tiền lưu thông giảm) sẽ làm cho mức giá giảm xống lạm phát được kiềm chế.Trên thị trường tiền tệ, cung tiền giảm sẽ làm tăng lãi suất, lãi suất tăng thì lượng cầutiền giảm xuống
Trong trường hợp NHNN giảm lãi suất chiết khấu xuống dưới mức 8% thì sẽ có tácđộng ngược lại, số nhân tiền tăng lên và mức cung tiền tăng, làm tăng giá cả (CPI tăng,lạm phát tăng lên hoặc tình trạng giảm phát được khắc phục)
- Lãi suất với tỷ giá hối đoái
Với các nhân tố khác không đổi (giá hàng hóa trong nước và ở nước ngoài không đổi),nếu lãi suất nội tệ tăng nhanh hơn lãi suất ngoại tệ sẽ làm cho tỷ giá giảm, tức nội tệlên giá, ngược lại, nếu lãi suất nội tệ giảm nhanh hơn lãi suất ngoại tệ sẽ làm cho tỷ giátăng tức nội tệ giảm giá
- Lãi suất với quá trình phân bổ các nguồn lực
Trang 31Trong kinh tế học, một vấn đề mà bất cứ một ai khi muốn tiếp cận môn học này đềuphải lưu ý đó là khan hiếm nguồn lực Tất cả các nguồn lực trong xã hội không phải vôhạn mà chúng là khan hiếm và vấn đề đặt ra là các nguồn lực phải được phân bổ saocho hiệu quả
Giá cả đóng vai trò quan trọng trong việc phân bổ các nguồn lực Lãi suất là một phạmtrù của giá cả Do đó, lãi suất có vai trò phân bổ các nguồn lực hiệu quả Khi đưa rabất kỳ một quyết định đầu tư nào, một điều cần phải quan tâm là chênh lệch giữa lợitức nhận được và chi phí phải bỏ ra Nếu khoản lợi tức nhận được lớn hơn chi phí phải
bỏ ra thì đó là quyết định đầu tư không hiệu quả hay vốn được phân bổ không hiệuquả
Giả sử có hai yếu tố đầu vào là vốn và lao động và chúng có thể thay thế nhau Đểphân bổ hai yếu tố đầu vào sản xuất trên hiệu quả cần phải so sánh giá của chúng Tiềnlương là giá của lao động và lãi suất chính là giá của vốn Nếu giá (tiền lương) của mộtlao động cao hơn giá (lãi suất) của một đơn vị vốn thì sử dụng vốn có hiệu quả hơn laođộng Ngược lại, nếu giá của lao động thấp hơn giá của một đơn vị vốn thì sử dụng laođộng có hiệu quả hơn sử dụng vốn Như vậy, trong trường hợp này, lãi suất có vai tròtrong phân bổ hiệu quả hai yếu tố đầu vào
- Lãi suất với hoạt động của NHTM
NH là một trong số những phát minh có ý nghĩa rất quan trọng đối với nhân loại Vớichìa khóa trong tay là lãi suất, các NHTM đóng vai trò quan trọng trong việc huy độngnguồn vốn nhàn rỗi từ các hộ gia đình, các doanh nghiệp, các tổ chức khác trong nềnkinh tế để phân bổ đến nơi thiếu vốn, đang cần vốn để mở rộng sản xuất hoặc phục vụcho nhu cầu tiêu dùng Để hoạt động hiệu quả, các NHTM cần phải đặt ra các mức lãisuất huy động và lãi suất cho vay hợp lý Lãi suất huy động không được quá thấp vìnhư thế sẽ không khuyến khích dân chúng gửi tiền vào ngân hàng Kết quả NHTM gặpkhó khăn trong việc huy động vốn để cho vay Một mức lãi suất huy động hợp lý sẽgiúp các NHTM huy động được nguồn vốn nhàn rỗi từ dân chúng Lãi suất co vay củaNHTM phải cao hơn lãi suất huy động và phải bù đắp được các chi phí cũng như rủi rokhác Tuy nhiên, lãi suất cho vay không được quá cao vì như thế các doanh nghiệp,các hộ gia đình sẽ tìm các phương án thay thế khác thay vì phải vay tiền từ ngân hàng.Như vậy, NHTM sẽ gặp khó khăn trong vấn đề cho vay Một mức lãi suất cho vay hợp
lý đủ để bù đắp các chi phí, rủi ro nhưng vẫn đảm bảo khả năng vay vốn cho các doanhnghiệp, các hộ gia đình sẽ giúp các NHTM thu hút được nhiều khách hàng, đóng gópvào quá trình phân bổ vốn hiệu quả cho nền kinh tế
3.1.4 Phương pháp đo lường lãi suất
Trang 32Sự đa dạng trong các thức trả lãi của các công cụ nợ, trả lãi đầu kỳ hay cuối kỳ, trả tất
cả lãi một lần hay chia ra từng phần để trả, mà lãi suất công bố trong các công cụ nàykhông phải lúc nào cũng phản ánh chính xác mức sinh lời từ khoản vốn mà nhà đầu tư.Cùng một mức lãi suất công bố nhưng nếu cách thức trả lãi khác nhau thì số tiền cuốicùng người đầu tư nhận được cũng sẽ khác nhau Vì vậy, cần thiết phải xây dựng mộtphép đo lãi suất chuẩn cho phép xác định chính xác giá cả của quyền sử dụng một đơn
vị vốn vay hay mức sinh lời từ một đồng vốn đầu tư vào công cụ nợ Không chỉ vậy,lãi suất xác định bằng phép đo chuẩn này phải thôgns nhất giữa các công cụ nợ có cáchthức trả lãi khác nhau, tức là các công cụ nợ có cách thức trả lãi khác nhau nếu có cùngmức lãi suất xác định theo phương pháp này thì phải bằng nhau về mức sinh lời
Nếu một ngân hàng huy ododngj vốn (hoặc cho vay) tại thời điểm ngày hôm nay, thìsau một thời gian, khi đến hạn ngân hàng này phải trả (nhận được) một lượng tiền lớnhơn so với số tiền huy động (hoặc cho vay) ban đầu Sự thay đổi số lượng tiền theothời gian biểu hiện giá trị thời gian của tiền tệ Nói cách khác, giá trị chính xác của tiền
tệ phải được xét theo 2 tiêu chí: một là mức lãi suất và thời gian Giá trị thời gian củatiền tệ là một khái niệm hết sức quan trọng trong các hợp đồng tài chính, trong đó cocác hợp đồng kinh doanh ngân hàng Với tầm quan trọng đặc biệt này, chúng ta sẽnghiên cứu các phép đo lãi suất và giá trị thời gian của tiền tệ
a) Lãi suất đơn
- Khái niệm: là lãi suất của một hợp đồng tài chính mà việc thanh toán tiền gốc và tiềnlãi chỉ được tiến hành một lần tại thời điểm hợp đồng hết hạn, trong đó không có yếu
tố lãi sinh ra lãi
Lãi suất đơn được sử dụng chủ yếu đối với các hợp đồng có thời hạn ngắn và chỉ cómột kỳ thanh toán
r: lãi suất được yết %/ năm
t: thời hạn của hợp đồng tính theo năm
Pt số tiền gốc và lãi thanht oán một lần khi đến hạn
Đặt n = 1/t : số vòng quay của hợp đồng trong 1 năm
Ta có công thức liên quan đến lãi suất
r = n*(Pt-P0)/P0 (3.1)
Trang 33Lấy ví dụ minh họa
- Giá trị hiện thời của tiền tệ theo phương thức lãi suất đơn
Giả sử một kỳ phiếu có giá trị đến hạn là Pt, thời hạn đến hạn còn lại là t năm, mức lãisuất thị trường hiện hành là r (%/năm) Hỏi kỳ phiếu được mua bán (chiết khấu) với giá
là bao nhiêu?
Gọi PM giá trị chiết khấu của kỳ phiếu (tức là thị giá, hay giá trị hiện thời)
Áp dụng công thức trên ta có:
Pt= PM (1+r*t)Hay PM= Pt / (1+r*t) (3.2)
Ví dụ:
b) Lãi suất kép
- Khái niệm: hợp đồng tài chính có nhiều kỳ tính lãi, mà lãi phát sinh của kỳ trướcđược gộp chung vào với gốc để tính lãi cho kỳ tiếp theo, phương pháp tính lãi như vậygọi là lãi suất kép, hay lãi sinh ra lãi
- Công thức
Pt= P0 (1+r/n)n*t (3.3)
Trong đó: P0: số tiền gốc (giá trị hiện thời)
n: số lần tính lãi trong năm
r: mức lãi suất %/ năm
Pt: giá trị hợp đồng (gốc và lãi) khi đến hạn
t: thời hạn hợp đồng tính theo năm
Ví dụ
- Giá trị hiện thời của tiền tệ theo phương thức lãi suất kép
Từ công thức (3.3), tính được giá trị hiện thời (hay thị giá) theo phương thức lãi suấtkép như sau:
PM= Pt/ (1+r/n)n*t (3.4)
Trong đó: PM: là thị giá
t: là thời gian còn lại của hợp đồng tính theo năm
r: là lãi suất hiện hành của thị trường
n: là số lần tính lãi trong một năm
Trang 34tài chính quy định việc hoàn trả gốc và lãi thành nhiều kỳ hạn hơn là trả toàn bộ gốc vàlãi một lần tại một thời điểm đến hạn, dẫn đến, mức lãi suất ghi trên hợp đồng và mứclãi suất thực trả là không bằng nhau Ví dụ, một hợp đồng tín dụng quy định thời hạntín dụng là 1 năm, mức lãi suất ghi trên hợp đồng là 12%/ năm, nhưng quy định tra lãi
là định kỳ hàng tháng, quý, hoặc 6 tháng và việc hoàn trả gốc chỉ một lần khi đến hạn
- Lãi suất danh nghĩa: thông thường, lãi suất ghi trên hầu hết các hợp đồngtài chính đều là lãi suất danh nghĩa, thường là %/năm, nhưng các kỳ tính lãi lại khôngnhất thiết phải là một năm, kỳ tính lãi có thể là 3 tháng, …
- Lãi suát thực trả: là mức lãi suất thực sự phát sinh trong một năm, nó phụthuộc vào mức lãi suất danh nghĩa ghi trên hợp đồng và số kỳ tính lãi trong môt nămTrong thực tế, có rất ít hợp đồng tài chính có lãi suất ghi trên hợp đồng là lãi suất thựctrả, vì vậy việc đưa ra khái niệm lãi suất danh nghĩa ghi trên hợp đồng và lãi suất thựctra là rất quan trọng, vì nó cho phép chúng ta so sánh các phép đo lãi suất khác nhau
Ví dụ cùng một mức lãi suất danh nghĩa nhất đình thì:
- Đối với người cho vay, kỳ tính lãi càng mau, thì càng có lợi
- Đối với người đi vay, kỳ tính lãi càng thưa, thì càng có lợi
- Công thức tính lãi suất thực trả
P1= P0 (1+r/n)n
ref= (P1-P0)/P0
ref = (1+r/n)n -1 (3.5)
Trong đó: P0: là tiền gốc (giá trị hiện thời)
r: lãi suất danh nghĩa %/ năm ghi trên hợp đồng
ref: lãi suất thực trả %/năm
n: là số lần tính lãi trong 1 năm
Pt: số tiền gốc và lãi thu được sau 1 năm
- Phân loại:
+ Trả góp thông thường
+ Trả góp ngay
Trang 35+ Trả góp trả chậm
+ Trả góp vĩnh viễn
+) Trả góp thông thường: là hình thức trả góp bao gồm việc thanh toán một khoản tiền
cố định trong những kỳ thanh toán bằng nhau Đặc điểm của phương thức trả gópthông thường là khoảng thời gian từ khi hợp đồng có hiệu lực đến thời điểm trả khoảntiền đầu tiên là bằng khoảng thời gian của các kỳ thanh toán khác Bằng sơ đồ có thểbiểu diễn phương pháp trả góp thông thường như sau:
Công thức tính:
P0= C/r ( 1-1/(1+r)n )
Trong đó: P0; là giá trị hiện thời của hợp đồng trả góp thông thường
r: là lãi suất của một kỳ tra góp (một kỳ thanh toán)
C: khoảng tiền trả cố định, hay khoản tiền trả góp
n: tổng số lần trả góp (tức là số n lần C)
Ví dụ:
+) Trả góp trả ngay: là việc trả góp mà tổng số lần thanh toán vẫn là n nhưng chỉ có
n-1 lần thanh toán, các kỳ thanh toán có thời hạn bằng nhau và giá trị mỗi kỳ thanh toán
là như nhau
Công thức tính:
Giá trị hiện thời của hợp đồng trả góp trả ngay được xác định:
P0= C+C/r (1- 1/ (1+r) n-1)
Trong đó: P0; là giá trị hiện thời của hợp đồng trả góp thông thường
r: là lãi suất của một kỳ tra góp (một kỳ thanh toán)
C: khoảng tiền trả cố định, hay khoản tiền trả góp
n: tổng số lần trả góp (tức là số n lần C)
Ví dụ:
+) Trả góp trả chậm: là phương thức trả có n lần thanh toán và lân thanh toán đầu tiênđược thực hiện tại kỳ thứ k Để tính được giá trị hiện thời của hợp đồng trả góp theophương thức trả chậm tại thời điểm 0 Chúng ta tiến hành các bước sau
- Bước 1: tính giá trị hợp đồng tại thời điểm sau kỳ thứ (k-1)
Trang 36Trong đó: C: số tiền trả góp thanh toán định kỳ
r: lãi suất của một kỳ thanh toán
n: tổng số lần trả góp
k: số kỳ trả chậm (số kỳ ân hạn)
Ví dụ:
+) Trả góp vĩnh viễn: là hợp đồng trả góp không có ngày đáo hạn và hàng năm nhà đầu
tư đều nhận được một khoản lãi nhất định từ hợp đồng
+) Lãi suất hoàn vốn (yield to maturity)
Phương pháp chiết khấu luông tiền có ý nghĩa quan trọng trong việc so sánh mức sinhlời của các công cụ nợ có cách thức trả lãi khác nhau Lý do khiến cho các công cụ nợ
dù có cùng một mức lãi suất công bố nhưng vấn không có mức sinh lời như nhau là dothời điểm nhận vốn và lãi của các công cụ đó không giốn nhau Phương pháp chiếtkhấu luồng tiền sẽ giúp quy các luồng tiền tại các thời điểm khác nhau về các luồngtiền tương đương nhưng cùng một thời điểm Mức lãi suất chiết khấu theo đó, tổng giátrị hiện tại của các khoản thu và chi của một công cụ nợ cân bằng với nhau sẽ phản ánhchính xác mức sinh lời của công cụ nợ đó Lãi suất chiết khấu hay còn được gọi là lãisuất hoàn vốn
+ Lãi suất hoàn vốn của các công cụ tài chính
Khái niệm: là lãi suất làm cân bằng giá trị hiện tại của tất cả các khoản thu trong tươnglai tính tới khi đáo hạn với thị giá của một công cụ tài chính
Căn cứ vào các thức trả gốc và lãi , có thể chia các công cụ nợ thành 4 loại sau:
- Vay đơn: vốn và lãi trả một lần khi đáo hạn
Trang 37Một khoản vay đơn có trị giá là P0, vay trong n năm với mức lãi suất r Vậy số tiềncuôi cùng nhận được là Pt= P0(1+r)n
Để có được khoản tiền Pt trong tương lai thì hiện tại phải bỏ ra một khoản tiền là P0, r*
là lãi suất hoàn vốn ta có
P0=
Thay Pt= P0(1+r)n vào phương trình P0= ta có: r= r*
Như vậy thì lãi suất hoàn vốn bằng với lãi suất công bố của khoản vay
- Vay hoàn trả cố định- trả góp (fixed – payment loan)
Toàn bộ vốn vay và lãi được chi thành những phần bằng nhau và hoàn trả định kỳ(tháng, quý) cho đến hết thời hạn tín dụng
Ký hiệu P0 là tiền gốc cho vay trả góp C là số tiền trả cố dịnh hàng năm, n là số nămtới ngày mãn hạn tín dụng
Cân bằng hiện tại của các khoản thu trong tương lai với P0 ta có
P0=
Với P0, C và n biết trước thì có thể tìm được r*
- Trái phiếu coupon: lãi được trả định kỳ hàng năm, hết hạn tín dụng thì trả
gốc
Ký hiệu P0 : mệnh giá trái phiếu
C: là số tiền cuopon hàng năm C= P0*rc
Rc: lãi suất công bố trên trái phiếu (lãi suất cuopon)
n: là số năm tới ngày đến hạn trái phiếu
: thị giá trái phiếu coupon thời điểm hiện tại
=Khi giá trái phiếu bằng mệnh giá thì lãi suất hoàn vốn sẽ đúng bằng lãi suất cuopon,còn khi giá trái phiếu nhỏ hơn mệnh giá thì lãi suất hoàn vốn lớn hơn lãi suất cuopon
và ngược lại
+ Lãi suất hoàn vốn và tỷ suất lợi tức
Lãi suất hoàn vốn chỉ phản ánh chính xác mức sinh lời từ việc đầu tư vào một công cụ
nợ nếu nhà đầu tư nắm giữ công cụ đó cho đến khi nó đáo hạn (to maturity) Trongtrường hợp thời gian nắm giữ ngắn hơn thời hạn của công cụ nợ, tỷ suất lợi tức mới làphép đo tin cậy về mức sinh lời của việc đầu tư
Trang 38Trên thực tế, không phải lúc nào lãi suất cũng phản ánh đầy đủ thu nhập của nhữngngười đầu tư (người cho vay) Lý do là vì thu nhập đầu tư trong nhiều trường hợpkhông chỉ hình thành từ khoản lãi mà còn từ sự thay đổi giá của các công cụ đầu tư.Chẳng hạn, đối với khoản cho vay thông thường không phải dưới hình thức đầu tư vàotrái khoán thì thu nhập của người cho vay chỉ là tiền lãi của khoản cho vay, nhưng nếuđầu tư vào trái khoán thì thu nhập mà người sở hữu trái khoán thu được khi bán tráikhoán của mình không chỉ là tiền thu được trong khoảng thời gian lưu giữ trái khoán
mà còn cộng với sự thay đổi (có thể tăng hoặc giảm) của giá trị trái khoán Do vậy, đểphản ánh đầy đủ thu nhập của người đầu tư, các nhà kinh tế học đã sử dụng khái niệm
Trong đó: RET: tỷ suất lợi tức do lưu giữ trái khoán từ năm t đến t+1
Pt: giá trái khoán ở thời điểm t
Pt+1: giá trái khoán ở thời điểm t+1
C: tiền lãi trong thời gian lưu giữ trái khoán
Ví dụ: Một trái phiếu có mệnh giá là 1000 USD có lãi suất coupon là 10%/năm, thờihạn 5 năm Trái phiếu được mua với giá 1000 USD và giữ trong 1 năm rồi bán đi
a Giả sử trái phiếu bán được với giá 1200 USD
Tỷ suất lợi tức= ( tiền lãi coupon 1 năm + thay đổi giá trị của trái phiếu)/Giámua
=(1000*10%*1+(1200-1000))/1000= 0.3
Vậy tỷ suất lợi nhuận thu được sau một năm là 30%
b Giả thiết trái phiếu bán được với 800 USD (làm tương tự)
3.2 Quản trị rủi ro lãi suất
3.2.1 Nguồn gốc của rủi ro lãi suất
- Đối với doanh nghiệp: Khách hàng của ngân hàng trong quá trình hoạt động cũngphát sinh những khoản huy động vốn phải trả lãi như vay vốn ngân hàng, phát hànhcác loại tín phiếu và trái phiếu
Nguồn vốn huy động sau đó được đầu tư vào sản xuất kinh doanh nhằm tạo ra lợinhuận để trang trải chi phí huy động vốn Chi phí lãi huy động vốn nói chung phụ