Xuất phát từ lý do trên với mong muốn góp phần nhỏ vào việc giảiquyết các vấn đề bức xúc đang đặt ra trên địa bàn huyện Đông Anh nên tác giả chọn đề tài: “Thực thi chính sách tạo việc là
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THỊ LOAN
THỰC THI CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI
LAO ĐỘNG BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI
HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ CHÍNH SÁCH CÔNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ CHÍNH SÁCH CÔNG
Mã số: 60 34 04 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS VÕ VĂN TUYỂN
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Tất cả các
số liệu trong luận văn được được thu thập công khai, trung thực và chưa
từng được công bố trong bất kỳ luận văn nào khác
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Tiến sĩ Võ Văn Tuyển ngườiThầy đã trực tiếp hướng dẫn khoa học, tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giànhnhững tình cảm tốt đẹp cho tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luậnvăn
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các đồng chí lãnh đạo Ủy bannhân dân Huyện Đông Anh, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hộihuyện Đông Anh, Trung tâm phát triển quỹ đất huyện Đông Anh, Chi cụcthống kê huyện Đông Anh đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoànthành đề tài này
Tôi xin cảm ơn tới gia đình, những người thân, bạn bè đã cổ vũ, độngviên, tiếp thêm nghị lực cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Do thời gian nghiên cứu thực tế có hạn, đồng thời kinh nghiệm nghiêncứu còn hạn chế nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả mongnhận được sự cảm thông, chia sẻ và những ý kiến đóng góp của các nhà khoahọc, quý thầy cô và những người quan tâm đến đề tài
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả
Nguyễn Thị Loan
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC BẢNG BIỂU 6
MỞ ĐẦU 7
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu: 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn 2
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 5
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 5
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 6
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn……… 14
7 Kết cấu của luận văn……… 7
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO VIỆC LÀM VÀ THỰC THI CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP 8
1.1 Một số vấn đề về cơ sở lý luận về tạo việc làm, thực thi chính sách tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp 8
1.2 Kinh nghiệm ở một số địa phương về thực thi chính sách tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp 25
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC THI CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 31
2.1 Khái quát về tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Đông Anh 31
2.2 Khái quát về tình hình thu hồi đất nông nghiệp của huyện Đông Anh từ năm 2010 đến nay 43
2.3 Phân tích thực trạng thực thi chính sách tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội 47
2.4 Đánh giá thực trạng thực thi chính sách tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp huyện Đông Anh, thành phố Hà Nộ………… 66
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN ĐÔNG ANH 70
3.1 Quan điểm của Đảng về tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp 70
3.2 Phương hướng tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội 74
3.3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi chính sách tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội 77
KẾT LUẬN 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 4LĐ –TB & XH Lao động – Thương binh và Xã hội
ODA Nguồn viện trợ phát triển chính thức
Bảng 2.1.3 Tình hình nguồn lao động huyện Đông Anh giai đoạn 41
2011 - 2015Bảng 2.2.1 Cơ cấu sử dụng đất năm 2015 của huyện Đông Anh 45Bảng 2.2.2 Danh sách các dự án thu hồi đất nông nghiệp trên địa 46
bàn huyện Đông Anh giai đoạn từ năm 2010 đến 2016
Bảng 2.4.1 So sánh tỷ lệ cơ cấu việc làm trước và sau khi bị thu 64
hồi đất ở huyện Đông Anh năm 2015
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu:
Vấn đề lao động và việc làm nói chung, việc làm cho người lao động ở
nông thôn nói riêng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước, đã và đang được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt
quan tâm Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã đề ra nhiều chủ trương, chính
sách thiết thực nhằm phát huy tối đa nội lực của lao động ở khu vực này Hệ
thống cơ chế, chính sách về lao động, việc làm được chú trọng, phù hợp với cơ
chế thị trường và từng bước hội nhập với thị trường lao động quốc tế Các văn
bản quản lý nhà nước về lao động, việc làm được bổ sung ngày càng hoàn thiện
Nhiều luật mới ra ời và đi vào thực tiễn đời sống như Luật Lao động, Luật Dạy
nghề, Luật Bảo hiểm xã hội và nhiều văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo ra hành
lang pháp lý về tạo việc làm ở nông thôn Đồng thời, các chương trình mục tiêu
về việc làm được triển khai như: Chương trình phát triển nông nghiệp, nông
thôn; Chương trình phát triển công nghiệp, dịch vụ; Chương trình xây dựng và
phát triển các khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung, khu công nghệ cao và các
chương trình, dự án trọng điểm kinh tế - xã hội được thực hiện, góp phần giải
quyết việc làm, từng bước nâng cao đời sống của người lao động , phát triển khu
vực nông thôn
Huyện Đông Anh nằm ở phía Bắc của Thủ đô Hà Nội, với nhiều tiềm năng
để phát triển sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ Trong những năm
qua huyện Đông Anh phát triển kinh tế nhanh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông
nghiệp Đồng thời đã thu hút được nhiều dự án lớn, có giá trị đầu tư cao, giải
quyết một số lượng lớn về việc làm cho người lao động, từng bước góp phần
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Công
tác giải quyết việc làm luôn được các cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp trênđịa bàn huyện quan tâm
Từ năm 2010 đến nay có trên 150 dự án được triển khai thực hiện ởhuyện Đông Anh với diện tích đất nông nghiệp phải thu hồi là 1.700 ha, số
hộ bị thu hồi đất trên 21.000 hộ, số lao động bị ảnh hưởng do thu hồi trên26.000 lao động Trên địa bàn huyện vẫn tiếp tục đón nhận các dự án củaTrung ương và Thành phố Thực tế hiện nay, việc chuyển quỹ đất nôngnghiệp sang các mục đích sử dụng khác ảnh hưởng rất lớn đến đời sống củangười lao động bị thu hồi đất.Chính vì vậy, lực lượng lao động trong lĩnhvực này cần được quan tâm tạo việc làm, đảm bảo đời sống của người dân,đồng thời giải quyết ổn thoả tâm lý của người lao động sau khi thu hổi đất,đây là vấn đề cấp thiết cần giải pháp thực hiện
Xuất phát từ lý do trên với mong muốn góp phần nhỏ vào việc giảiquyết các vấn đề bức xúc đang đặt ra trên địa bàn huyện Đông Anh nên tác
giả chọn đề tài: “Thực thi chính sách tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội” làm luận văn tốt nghiệp của mình.
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Tạo việc làm cho người lao động, đặc biệt người lao động sau thu hồi đấtnông nghiệp là vấn đề mang tính thiết thực và bức thiết ở nước ta hiệnnay,do vậy đã có nhiều công trình của nhiều tác giả trong nước nghiên cứu
và công bố
Năm 1997, hai tác giả Trần Hữu Chung và Nguyễn Hữu Dũng đã xuất bảncuốn sách “Chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam” NXB Chính trị quốc gia[6] Cuốn sách đề cập đến chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam trong thời
kỳ đẩy mạnh CNH – HĐH Các tác giả đã phân tích, đưa ra đánh giá về thựctrạng việc làm nói chung và trong lĩnh vực nông nghiệp nói riêng;
Trang 6từ đó đã chỉ ra những nguyên nhân chủ yếu của thực trạng thiếu việc làm ở
nước ta, đặc biệt ở vùng nông thôn Đồng thời, đã khái quát các dòng di
chuyển lao động trên thị trường lao động, nhất là người lao động di chuyển
từ nông thôn ra thành thị để tìm việc Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra hệ thống
quan điểm, giải pháp giải quyết việc làm trong quá trình phát triển CNH –
HĐH hiện nay
Công trình nghiên cứu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
(2005) về “Thực trạng thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu
hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng
kinh tế - xã hội, nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia”[2] Nghiên cứu được
tiến hành phân tích đánh giá thực trạng về thu nhập, đời sống việc làm của
người có đất bị thu hồi trên địa bàn 07 tỉnh, thành phố Đó là Bắc Ninh, Hà
Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng,Bình Dương, Cần Thơ, Tp Hồ Chí Minh Qua kết
quả nghiên cứu cho thấy những hộ gia đình sau khi bị thu hồi đất gặp nhiều
khó khăn trong đời sống, đặc biệt là về việc làm Trước thực trạng này,
nghiên cứu đã đề xuất các phương hướng, giải pháp đi cùng với các điều
kiện giải quyết việc làm, tạo ra thu nhập, ổn định đời sống của người có đất
bị thu hồi
Năm 2005, “Thị trường lao động và định hướng nghề nghiệp cho người
lao động” của TS Nguyễn Hữu Dũng, Nhà xuất bản Lao động – Xã hội [14]
Tác giả đã phân tích một cách sâu sắc các nội dung có liên quan đến lý luận
về thị trường lao động, mối quan hệ giữa người lao động với thị trường lao
động và định hướng nghề nghiệp cho người lao động; thực trạng thị trường
lao động ở nước ta, cũng như thực trạng định hướng nghề nghiệp cho người
lao động trong thời gian qua Đưa ra các dự báo cung cầu của thị trường lao
động và các định hướng nghề nghiệp nhằm tạo việc làm cho người lao động
Đây là công trình nghiên cứu đưa ra cách nhìn toàn diện về thị trường laođộng và định hướng nghề nghiệp cho người lao động của nước ta
Năm 2011, Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Nhường “Chínhsách an sinh xã hội với người nông dân sau khi thu hồi đất để phát triển khucông nghiệp (nghiên cứu tại Bắc Ninh)” [24] Đề tài tập trung phân tíchnhững nội dung lý luận về chính sách an sinh xã hội đối với người nông dân
bị thu hồi đất nông nghiệp qua nghiên cứu tình huống ở tỉnh Bắc Ninh Kếtquả nghiên cứu đã cho thấy sự cần thiết phải bảo đảm an sinh xã hội trong đó
có tạo việc làm cho người nông dân sau khi bị thu hồi đất sản xuất Sử dụng
mô hình SWOT đề tài tổng hợp các điểm mạnh, điểm yếu và nguyên nhân, từ
đó tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện chính sách
an sinh xã hội đối với người nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp
Năm 2012, Nguyễn Đình Tuấn, Học viện Chính trị - Hành chính đã hoànthành luận văn thạc sĩ với đề tài: “Giải quyết việc làm cho người nông dân bị thuhồi đất trong quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá ở tỉnh Thanh Hoá”
[34] Kết quả nghiên cứu của đề tài đã khẳng định sự cần thiết phải giải quyếtviệc làm cho người nông dân bị thu hồi đất trong quá trình CNH, ĐTH Luậnvăn cho thấy thực trạng giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất ởtỉnh Thanh Hoá, từ đó đề xuất một hệ thống giải pháp đồng bộ có tính khả thitrong giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất để phát triển các khucông nghiệp, khu đô thị ở tỉnh Thanh Hoá
Các công trình nghiên cứu khoa học trên đã đề cập đến vấn đề tạo việclàm cho lực lượng lao động nói chung, lao động bị thu hồi mất đất nôngnghiệp nói riêng Tuy nhiên chưa có công trình nào đề cập và phân tích mộtcách có hệ thống vấn đề thực thi chính sách tạo việc làm cho người lao động
bị thu hồi mất đất nông nghiệp ở huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội Dovậy, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu đề tài luận văn này để đề cập những vấn
Trang 7đề còn đang bỏ trống trên đây và đề xuất giải pháp cho vấn đề còn đang bỏ
trống đó
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những lý luận cơ bản về chính sách tạo việc làm cho
người lao động bị thu hồi đất, luận văn tiến hành đánh giá thực trạng công
tác thực thi chính sách tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông
nghiệp trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội Từ đó đề xuất các
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi chính sách tạo việc làm cho người
lao động bị thu hồi đất trên địa bàn huyện
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu và hệ thống hóa cơ sở lý luận về tạo việc làm, chính sách tạo
việc làm, thực thi chính sách tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất
nông nghiệp
- Đánh giá thực trạng thực thi chính sách tạo việc làm cho người lao
động bị thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội từ
năm 2010 đến nay
- Đề xuất hoàn thiện các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi chính sách
cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Đông Anh, thành phố
Hà Nội
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1.Đối tượng nghiên cứu
Công tác thực thi chính sách tạo việc làm cho người lao động bị thu
hồi đất nông nghiệp tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội
4.1 Phạm vi nghiên cứu
+ Về không gian: Người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp ở huyệnĐông Anh, thành phố Hà Nội Đồng thời, tác giả có tham khảo và so sánh vớimột số địa phương khác
+ Về thời gian: Dựa trên các tài liệu đã được công bố trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến nay của huyện Đông Anh
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duyvật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê Nin; tưtưởng Hồ Chí Minh Những đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản ViệtNam về tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu và thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả sửdụng phương pháp nghiên cứu tài liệu lý luận và các phương pháp phân tích,
so sánh, thống kê toán học dựa trên những tư liệu thu thập được, so sánh vàminh hoạ bằng bảng thống kê
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần hệ thống hóa lý luận về Góp phần làm sáng tỏ thêm một số lý luận về thực thi chính sách tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp
Luận văn là sự vận dụng lý luận nghiên cứu về thực thi chính sách đối với lĩnh vực tạo việc vào một trường hợp cụ thể là: người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp tại huyện Đông Anh, Hà Nội
Trang 86.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ bổ sung, gợi mở, góp phần nâng
cao hiệu quả công tác thực thi chính sách tạo việc làm cho người lao động
bị thu hồi đất nông nghiệp tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội
Luận văn đưa ra các giải pháp, giúp cho các cơ quan chức năng làm
tốt công tác thực thi chính sách tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi
đất nông nghiệp của huyện Đông Anh nói riêng, cả nước nói chung
Là nguồn tư liệu cho cấp chính quyền huyện Đông Anh tham khảo
trong quá trình thực thi chính sách của mình
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo,
phần nội dung luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về tạo việc làm và thực thi chính sách tạo
việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp;
Chương 2: Thực trạng thực thi chính sách tạo việc làm cho người lao
động bị thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội;
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi chính sách tạo
việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Đông Anh,
1.1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Việc làm, người lao động, tạo việc làm
Khái niệm việc làm
Có nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra quan điểm về khái niệm việc làm.Tuy nhiên ở mỗi thời điểm và không gian khác nhau thì lại có cách hiểukhông giống nhau về việc làm Hiện nay có một số quan điểm về việc làmchủ yếu sau:
Theo tổ chức Lao động thế giới (ILO) thì việc làm là những hoạt độnglao động được trả công bằng tiền hoặc hiện vật
Theo điều 13, chương 2 Bộ Luật Lao động: “Mọi hoạt động tạo ranguồn thu nhập và không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”.[31, tr42] Theo quy định này các hoạt động được xác định là việc làm baogồm:
- Tất cả các hoạt động tạo ra của cải, vật chất hoặc tinh thần, không bị pháp luật cấm, được trả công dưới dạng tiền hoặc hiện vật;
- Những công việc tự bản thân làm mang lại lợi ích cho bản thân hoặctạo thu nhập cho gia đình, cộng đồng, kể cả những việc không được trả công bằng tiền hoặc hiện vật
Khái niệm việc làm của Bộ Luật Lao động bao gồm một phạm vi rất rộng,
từ những công việc chính thức được thực hiện trong nhà máy, xí nghiệp đến cáchoạt động lao động hợp pháp tại khu vực phi chính thức đều được coi
Trang 9là việc làm Khái niệm này mang một ý nghĩa pháp luật – xã hội to lớn khi nó
đã xóa bỏ sự phân biệt đối xử lao động giữa các thành phần kinh tế, động
viên mọi tổ chức, cá nhân tạo việc làm cho người lao động Đồng thời cũng
thể hiện đặc trưng của Nhà nước pháp quyền là khuyến khích mọi người
tham gia làm những việc mà không bị pháp luật ngăn cấm
Trong quá trình tạo việc làm, mục tiêu cuối cùng là hướng tới việc làm
đầy đủ, việc làm hợp lý
Việc làm đầy đủ được hiểu là sự thỏa mãn nhu cầu về việc làm cho bất
kỳ ai có khả năng lao động trong nền kinh tế quốc dân Cụ thể: Việc làm đầy
đủ ở trạng thái mỗi người có khả năng lao động muốn làm việc thì có thể tìm
được việc làm trong một khoảng thời gian tương đối ngắn Đương nhiên, để
đạt tới mức độ đảm bảo việc làm đầy đủ phải có một quá trình nhất định Quá
trình ấy ngắn hay dài phụthuộc vào trình độ, hoàn cảnh khách quan và chủ
quan ở mỗi quốc gia, mỗi địa phương Ở những quốc gia có điểm xuất phát
càng thấp thì trong quá trình phát triển, vấn đề đảm bảo việc làm đầy đủ cho
người lao động càng khó khăn và cấp thiết
Việc làm hợp lý được hiểu là sự thỏa mãn nhu cầu làm việc cho bất kỳ ai
có khả năng lao động trong nền kinh tế quốc dân và phù hợp với trình độ, nguyện
vọng, sở thích của họ.Việc làm hợp lý không những hàm chứa nội dung việc làm
đầy đủ mà còn hướng tới việc phù hợp với khả năng và nguyện vọng của người
lao động Việc làm phù hợp có năng suất lao động và hiệu quả kinh tế xã hội còn
cao hơn so với việc làm đầy đủ Do vậy, trong quá trình thực hiện việc làm đầy
đủ, cần từng bước, từng bộ phận thực hiện việc làm hợp lý Việc làm hợp lý phản
ánh sự phù hợp về mặt số lượng và chất lượng của các yếu tố con người với
điều kiện vật chất của quá trình sản xuất và xã hội, sự hợp lý giữa lợi ích cá nhân
người lao động và lợi ích của xã hội
Người lao động
Theo Điều 03 của Bộ Luật Lao động nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam năm 2012: “Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khảnăng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sựquản lý, điều hành của người sử dụng lao động” [31, tr 3]
Trên thực tế, ngoài nhóm đối tượng được quy định là người lao động
ở trên vẫn có nhu cầu làm việc nhưng với mục đích nghiên cứu và nhiệm vụnghiên cứu, luận văn tập trung hướng tới đối tượng người lao động quy địnhtrong Điều 03 Bộ Luật Lao động 2012 cụ thể là người lao động trong độ tuổilao động từ 15 đến 60 tuổi đối với nam và từ 15 đến 55 tuổi đối với nữ
Tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp
Theo PGS.TS Trần Xuân Cầu (2013): “Tạo việc làm là quá trình tạo điềukiện kinh tế xã hội cần thiết để người lao động có thể kết hợp giữa sức laođộng và tư liệu sản xuất, nhằm tiến hành quá trình lao động, tạo ra hàng hóa
và dịch vụ theo yêu cầu thị trường” [5, tr.377]
Việc làm là trạng thái phù hợp giữa hai yếu tố sức lao động và tư liệu sảnxuất bao gồm cả về mặt số lượng và chất lượng Để tạo ra việc làm thực sựcòn cần có môi trường thuận lợi cho sự kết hợp của hai yếu tố trên Tạo việclàm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp có thể được hiểu trênmột số khía cạnh sau:
Một là, tạo ra số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất Số lượng và chất
lượng của tư liệu sản xuất phụ thuộc vào vốn đầu tư và tiến bộ khoa học kỹthuật áp dụng trong sản xuất và khả năng quản lý, sử dụng đối với các tư liệusản xuất đó
Hai là, tạo ra số lượng và chất lượng sức lao động Số lượng lao động phụ
thuộc vào quy mô, tốc độ tăng dân số, các quy định về độ tuổi lao động và sự
Trang 10di chuyển của lao động Chất lượng lao động phụ thuộc vào sự phát triển của
giáo dục đào tạo và sự phát triển của y tế, thể thao và các yếu tố khác
Ba là, hình thành môi trường cho sự kết hợp các yếu tố sức lao động và
tư liệu sản xuất Nó bao gồm các chính sách phát triển kinh tế- xã hội, chính
sách thu hút và khuyến khích đầu tư…
Trên thị trường việc làm chỉ hình thành khi người lao động và người sử
dụng lao động gặp gỡ và tiến hành trao đổi Do vậy tạo việc làm cần được
xem xét cả phía người lao động, người sử dụng lao động và cả vai trò của
Nhà nước
Như vậy, tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp
là là tổng thể các biện pháp, các chính sách kinh tế - xã hội từ vi mô đến vĩ
mô tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, tạo điều kiện để người lao
động sau thu hồi đất sản xuất nông nghiệp có thể có việc làm.
1.1.1.2 Khái niệm và nội dung chính sách tạo việc làm cho người lao
động bị thu hồi đất nông nghiệp
Khái niệm chính sách tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất
nông nghiệp
Đến nay, khái niệm chính sách tạo việc làm cho người lao động bị thu
hồi đất nông nghiệpvẫn chưa được chuẩn hóa, chưa có một nhà khoa học
hay tổ chức lý luận nào đưa ra khái niệm chuẩn mực
Trong khuôn khổ nghiên cứu này, chính sách tạo việc làm cho người
lao động bị thu hồi đất nông nghiệp có thể được hiểu là tổng thể các quan
điểm, tư tưởng, các giải pháp mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các đối
tượng và khách thể quản lý nhằm giải quyết vấn đề chính sách, thực hiện
những mục tiêu về tạo việc làm cho người lao động sau thu hồi đất nông
nghiệp.
Chính sách tạo việc làm là một trong những chính sách xã hội cơ bảncủa mọi quốc gia nhằm góp phần đảm bảo an toàn, ổn định và phát triển xãhội Ở nước ta, quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa, đẩy mạnh Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước đang đặt rahàng loạt vấn đề bức xúc liên quan đến việc làm và chính sách tạo việc làm.Điều 13, Bộ Luật Lao động khẳng định: “Giải quyết việc làm, đảm bảo chomọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệmcủa Nhà nước, của các doanh nghiệp và của toàn xã hội” [31, tr67] Theo sốliệu mà Tổng cục thống kê công bố, dân số trung bình nước ta năm 2016ước tính là 93 triệu người, so với năm 2015, lực lượng lao động từ 15 tuổitrở lên của cả nước năm 2016 là 54,36 triệu người, tăng 654,3 nghìn người
so với cùng kỳ năm trước Lực lượng lao động ở khu vực nông thôn chiếm
tỷ trọng cao 68,1% trong lực lượng lao động chung của cả nước Lực lượnglao động trong độ tuổi lao động ước tính là 47,55 triệu người, tăng 227,5nghìn người so với cùng kỳ năm trước
Lực lượng lao động dồi dào là thế mạnh, đồng thời là tiềm năng củaviệc phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên cũng tạo ra sức ép lớn đối vớichính quyền các cấp về tạo việc làm cho người lao động Nếu không cóchính sách việc làm một cách đúng đắn và kịp thời thì sẽ gây lãng phí rất lớnnguồn nhân lực quốc gia, đồng thời để lại hậu quả khó lường đối với sự pháttriển của đất nước Chính sách tạo việc làm vừa có ý nghĩa về kinh tế, vừa có
ý nghĩa về mặt chính trị và xã hội Thực hiện tốt chính sách việc làm, nguồnnhân lực được sử dụng có hiệu quả thì hiện tượng thất nghiệp sẽ giảm đi, đikèm đó là các chính sách bảo hiểm xã hội sẽ giảm chi phí cho các trợ cấp thấtnghiệp Ngược lại, khi chính sách tạo việc làm chưa được giải quyết tốt,nhất là trong thời kỳ kinh tế suy thoái thì nạn thất nghiệp tăng lên, khiến chotình trạng đói nghèo, các tệ nạn xã hội cũng dễ
Trang 11dàng phát sinh, sẽ không thể tránh khỏi sự gia tăng của các gánh nặng đối với
chính sách về bảo trợ xã hội, an sinh xã hội
Hệ thống chính sách tạo việc làm cho người lao động sau thu hồi
đất nông nghiệp
Chính sách tạo việc làm cho người lao động sau thu hồi đất nông
nghiệp bao gồm một hệ thống chính sách bộ phận với các mục tiêu và giải
pháp chính sách tác động trực tiếp hoặc gián tiếp nhằm tạo việc làm cho
người lao động khi không còn đất canh tác
Tùy theo cách tiếp cận khác nhau có thể có các chính sách bộ phận
khác nhau, trong khuôn khổ luận văn một số chính sách bộ phận được đề cập
đến của hệ thống bao gồm :
- Chính sách đào tạo nghề cho người lao động sau thu hồi đất nông
nghiệp;
- Chính sách hỗ trợ phát triển làng nghề;
- Chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn tạo việc làm mới;
- Chính sách hỗ trợ đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cho người
lao động sau thu hồi đất nông nghiệp
1.1.1.3 Khái niệm và quy trình thực thi chính sách tạo việc làm cho
người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp
Khái niệm thực thi chính sách tạo việc làm cho người lao động bị
thu hồi đất nông nghiệp
Thực thi chính sách công là quá trình đưa chính sách công vào thực tiễn
đời sống xã hội thông qua việc ban hành các quy định, thủ tục, chương trình
và thực hiện chúng nhằm đạt được mục tiêu chính sách
Thực thi chính sách tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất
nông nghiệp chính là quá trình triển khai các biện pháp nhằm đạt được mục
tiêu giải quyết việc làm cho người lao động, đem lại những biến đổi trên các
lĩnh vực của đời sống xã hội, phục vụ lợi ích của người dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp.
Trong quá trình thực thi chính sách, các nguồn lực vật chất, tài chính,khoa học công nghệ và con người được đưa vào các hoạt động có tính địnhhướng để đạt các mục tiêu đã đề ra Đây là quá trình kết hợp giữa con ngườivới các nguồn lực vật chất, tài chính, khoa học công nghệ nhằm sử dụng cácnguồn lực này một cách có hiệu quả theo những mục tiêu đã đề ra
Chủ thể thực thi chính sách trước hết và quan trọng nhất là các cơ quanhành chính Nhà nước, bởi đây là các cơ quan có nhiệm vụ quản lý và tổ chứctriển khai các công việc hàng ngày của Nhà nước trên các lĩnh vực Chính sáchcông cũng là những nhiệm vụ mà Nhà nước đề ra trong đời sống kinh tế
- xã hội Vì vậy việc quản lý tổ chức thực thi do các cơ quan hành chính đảmnhận là hợp lý Tuy nhiên, các cơ quan Lập pháp, Tư pháp cũng như các tổchức chính trị xã hội, các đoàn thể cũng có vai trò quan trọng trong việc huyđộng và tổ chức lực lượng tham gia triển khai chính sách
Trên thực tế, thực thi chính sách được coi là giai đoạn tổng hợp củaquy trình chính sách Nhiều chính sách do cơ quan Nhà nước ở trung ương
đề ra và giao cho địa phương thực hiện nhưng khi chính sách về tới địaphương lại phải tiến hành nghiên cứu áp dụng nó phù hợp với thực tế của địaphương Điều này thể hiện giai đoạn thực thi chính sách bao hàm luôn cả nộidung hoạch định chính sách Hơn nữa, trong quá trình thực hiện chính sách,phải tiến hành đánh giá chính sách để có những điều chỉnh cho phù hợp vớimục tiêu Lúc này giai đoạn thực thi bao gồm cả những công việc thuộc vềđánh giá chính sách
Trang 12 Quy trình triển khai thực thi chính sách tạo việc làm cho người lao
động bị thu hồi đất nông nghiệp
Để đưa chính sách vào thực tiễn, các chủ thể thực thi căn cứ vào thẩm
quyền của mình ban hành các văn bản, các chương trình để cụ thể hóa mục
tiêu và biện pháp của chính sách trên địa bàn
Thứ nhất, về xây dựng và ban hành văn bản, chương trình, dự án thực
thi chính sách công gồm các hoạt động
- Nghiên cứu nội dung chính sách để xác định những văn bản, chương
trình cần được ban hành hoặc phê duyệt
- Xây dựng kế hoạch soạn thảo và ban hành các văn bản thực thi chính
sách; xây dựng kế hoạch lập và phê duyệt các chương trình thực thi
chính sách
- Tổ chức triển khai thực hiện các kế hoạch trên bảo đảm ban hành được
các văn bản, chương trình có chất lượng, hợp pháp, đúng thời gian, tiết
kiệm và hiệu quả
Thứ hai, sau khi các văn bản, chương trình được ban hành và phê
duyệt các chủ thể thực thi được giao trách nhiệm tổ chức thực hiện văn bản,
chương trình thực thi chính sách, gồm các nội dung hoạt động
- Xây dựng kế hoạch tổ chức thi hành văn bản hoặc lập kế hoạch thực
hiện chương trình
- Tuyên truyền, phổ biến nội dung văn bản, chương trình
- Tập huấn văn bản, bồi dưỡng những kiến thức và kỹ năng cần thiết để
triển khai văn bản, chương trình
- Bảo đảm cơ sở vật chất, kinh phí, tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực
triển khai thi hành văn bản, thực hiện chương trình
- Chỉ đạo, tổ chức kiểm tra, đôn đốc việc thi hành văn bản, việc thực
hiện chương trình
Thứ ba, công tác sơ kết, tổng kết thực hiện văn bản, chương trình thựcthi chính sách công Định kì các chủ thể thực thi chính sách công tiến hành
sơ kết, tổng kết thực hiện chính sách theo trình tự từ dưới lên trên
- Các cơ quan được giao thi hành văn bản thực thi chính sách công nàothì tiến hành sơ kết, tổng kết việc thi hành văn bản đó và báo cáo lên
cơ quan cấp cao hơn Trong báo cáo cần thể hiện rõ quá trình triểnkhai thực hiện, những kết quả đạt được, những hạn chế, nguyên nhân
và đề xuất những kiến nghị đối với cấp trên
- Trên cơ sở các báo cáo sơ kết, tổng kết, báo cáo đánh giá giữa kỳ, báocáo kết thúc của các cơ quan, tổ chức thực thi chính sách cấp dưới, cơquan, tổ chức thực thi chính sách cao nhất tổng hợp thành báo cáo sơkết, tổng kết thực thi chính sách Cơ quan chịu trách nhiệm thực thichính sách cuối cùng này báo cáo và giải trình về kết quả thực thichính sách trước cơ quan hoạch định chính sách và nhân dân
1.1.2 Vai trò của chính sách tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp
Tạo việc làm cho người lao động không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn
là vấn đề chính trị - xã hội, nối liền kinh tế với xã hội Chính sách tạo việclàm cho người lao động nói chung và người lao động bị thu hồi đất nôngnghiệp nói riêng phù hợp có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế,chính trị và xã hội
Đối với kinh tế
Chính sách tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp sẽgóp phần khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, các tiềm năng kinh tế,tránh lãng phí nguồn lực xã hội Lao động trong khu vực nông thôn chiếm hơn70% lực lượng lao động cả nước Hàng năm lực lượng lao động này đã đónggóp đáng kể cho tổng sản phẩm nội địa (GDP) của đất nước Nếu không
Trang 13sử dụng lực lượng lao động này vào sản xuất sẽ gây lãng phí tài nguyên con
người - nguồn lực quan trọng nhất để phát triển đất nước Với những phẩm
chất đáng quý của nguồn nhân lực Việt Nam, nếu có những chính sách phù
hợp sẽ khuyến khích, tạo cơ hội cho lực lượng này tham gia vào các khu vực
ngoài sản xuất nông nghiệp như dịch vụ, công nghiệp và xuất khẩu lao động
ra nước ngoài Đồng thời với chính sách tạo việc làm hợp lý còn cho phép sử
dụng có hiệu quả các nguồn lực khác như tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn,
công nghệ kĩ thuật Tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông
nghiệp sẽ góp phần tích cực trong việc phân bổ lao động một cách hiệu quả,
hợp lý.Từ đó, góp phần thực hiện thành công chủ trương Công nghiệp hóa
-Hiện đại hóa của Đảng và Nhà nước ta
Đối với chính trị
Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương lần thứ bảy (Khóa XII) của Đảng
đã xác định vị trí của nông nghiệp, nông thôn và nông dân là cơ sở để ổn
định chính trị đất nước trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa và hội nhập kinh tế Thế giới Vì vậy, tạo việc làm cho người lao động
không những góp phần phát triển kinh tế- xã hội mà còn ảnh hưởng đến sự
ổn định chính trị Một chính sách không hợp lý sẽ không thu phục được lòng
tin của nhân dân Do vậy, việc ban hành và thực thi chính sách tạo việc làm
hợp lý, giải quyết tình trạng thiếu việc làm cho người dân sau thu hồi đất sẽ
góp phần củng cố và duy trì lòng tin của hàng chục triệu lao động vào sự
lãnh đạo của Đảng và Nhà nước
Đối với xã hội
Chính sách của Nhà nước có vai trò tạo lập cân đối trong phát triển Cách
thức tạo lập được thực hiện từ nhiều vai trò khác nhau của chính sách như
khuyến khích tiềm năng phát triển, hỗ trợ lĩnh vực còn yếu kém Đồng thời
chính sách tạo lập môi trường thích hợp cho các hoạt động kinh tế, xã hội,
giúp cho các thực thể vận động phát triển theo đúng quy luật Chính sách tạoviệc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp giúp con người nângcao vai trò của mình trong quá trình phát triển kinh tế, giảm tình trạng thấtnghiệp Sau thu hồi đất nông nghiệp người lao động không có việc làm làmột trong những nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội như : Trộm cắp, lừađảo, mại dâm… Từ đó khiến các quan hệ gia đình, làng xã rạn nứt và xuốngcấp nghiêm trọng Tạo việc làm cho người lao động, nhất làlao động ở lứatuổi thanh niên sau khi bị thu hồi đất góp phần hạn chế các tệ nạn xã hội dokhông có công ăn việc làm gây ra và giải quyết các vấn đề mà nhu cầu xã hộiđòi hỏi Khi con người có việc làm, thông qua các hoạt động lao động sẽthỏa mãn được các nhu cầu về vật chất, tinh thần, góp phần nâng cao đờisống và ổn định xã hội
Trang 141.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực thi chính sách tạo việc làm cho
người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
BÊN NGOÀI BÊN TRONG
1.1.3.1 Nhóm yếu tố bên trong
Một là, vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên Nếu như ở địa phương có vị
trí địa lý thuận lợi sẽ giúp giao lưu, trao đổi hành hóa, kinh tế phát triển, đồngthời tạo ra nhiều việc làm cho người lao động Ngược lại, vị trí địa lý kém thuậnlợi cũng gây khó khăn không nhỏ cho quá trình thực thi, khiến chính sách mất đicác cơ hội để được dễ dàng thành công trong thực tế Tương ứng với điều kiện
về tài nguyên thiên nhiên cũng vậy, một địa phương phong phú về tài nguyênkhoáng sản, tài nguyên biển, đất sẽ là tiền đề tốt để thực thi chính sách về chuyểndịch cơ cấu kinh tế, phát triển công nghiệp, tạo ra nhiều việc làm cho người laođộng Tuy nhiên, việc thiếu thốn tài nguyên thiên nhiên cũng gây hạn chế để pháttriển kinh tế Vì vậy Đảng và nhà nước ta cần có các biện pháp, chính sách tạotạo việc làm phù hợp với điều kiện của từng địa phương, từ đó khai thác thếmạnh sẵn có của địa phương và tận lực giảm đi các hạn chế về vị trí địa lý và tàinguyên thiên nhiên
Hai là, chất lượng hoạch định chính sách Hoạch định chính sách là bước
khởi đầu trong chu trình chính sách, đây là bước đặc biệt quan trọng Hoạch địnhchính sách đúng đắn, khoa học sẽ xây dựng được chính sách tốt, là tiền đề đểchính sách đó đi vào cuộc sống và mang lại hiệu quả cao Ngược lại, hoạch địnhsai cho ra đời chính sách không phù hợp với thực tế, thiếu tính khả thi sẽ manglại hậu quả không mong muốn trong quá trình quản lý Những tổn hại này khôngchỉ tạm thời, cục bộ, mà nó ảnh hưởng lâu dài, liên quan tới
Trang 15nhiều lĩnh vực, ngành nghề trong quá trình thực thi chính sách tạo việc làm cho
người lao động Trong việc hoạch định chính sách công cần phải có sự tổng kết,
phân tích, đánh giá tình hình, tác động ảnh hưởng tới quá trình thực hiện chính
sách, các biện pháp thực hiện chính sách và từ đó làm căn cứ để lựa chọn
phương án chính sách phù hợp với thực tế Muốn thực thi chính sách hiệu quả
cần thiết phải hoàn thiện việc hoạch định chính sách của Nhà nước
Ba là, trình độ phát triển kinh tế xã hội: Nền kinh tế có ổn định, phát
triển bền vững, thu nhập bình quân đầu người và trình độ học vấn của dân
cư có cao, xã hội ổn định thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động triển
khai chính sách tạo việc làm Đi kèm đó, việc nhận biết các điều kiện về trình
độ phát triển kinh tế cùng nhiều phong tục, tập quán của đời sống dân cư trên
địa bàn sẽ giúp hạn chế những đặc tính có thể gây cản trở cho quá trình chính
sách,đồng thời phát huy tối đa những đặc tính phù hợp với quá trình thực
hiện chính sách
Bốn là, năng lực của cơ quan và cán bộ thực thi chính sách Chất lượng
của đội ngũ cán bộ, công chức có tác động, ảnh hưởng trực tiếp tới mọi hoạt
động, sự vận hành của chính sách Thực tế đã cho thấy, ở cơ quan, đơn vị
hoặc địa phương nào có đội ngũ cán bộ, công chức làm việc năng nổ, tận tụy,
có trách nhiệm từ cấp trên đến cấp dưới thì hiệu suất thực thi chính sách
thường đạt cao Ngược lại, nếu còn tồn tại người thiếu ý thức trách nhiệm,
chỉ chăm chăm vun vén cho lợi ích của bản thân, thậm chí, lợi dụng chức vụ,
vị trí công tác để tư lợi thì sẽ trở thành lực cản kìm hãm sự phát triển lành
mạnh về mọi mặt của chính sách
1.1.3.2 Nhóm yếu tố bên ngoài
Một là, thu hút vốn đầu tư nước ngoài Trong những năm qua, hoạt động đầu
tư và nâng cao hiệu quả đầu tư đã đạt nhiều kết quả quan trọng, thúc đẩy sản
xuất, xuất khẩu, nâng cao trình độ khoa học công nghệ, phát triển cơ sở hạ
tầng, tạo việc làm và thu nhập cho người lao động, tạo ra năng lực sản xuấtmới cho nền kinh tế, góp phần thực hiện các mục tiêu của chính sách tạo việclàm đã đề ra Tuy nhiên, hoạt động đầu tư thời gian qua hiệu quả chưa cao,chưa tạo được động lực cần thiết thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và ổn địnhkinh tế vĩ mô; Trong đó, nguyên nhân chủ yếu là do một số rào cản xuất phát
từ thể chế kinh tế, tổ chức hệ thống và quản lý kinh tế, các yếu tố đầu vàocủa sản xuất và tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về đầu tư đã làm ảnhhưởng đến việc nâng cao hiệu quả đầu tư, gây khó khăn trong việc thực thimột số nội dung của chính sách tạo việc làm
Hai là, sự đồng tình, ủng hộ của người dân Hồ Chí Minh đã nói: “Dễ
mười lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong” Các cơquan Nhà nước chịu trách nhiệm chỉ đạo, điều hành công tác tổ chức thực thichính sách, còn các tầng lớp nhân dân là đối tượng thực hiện chính sách.Nhân dân vừa là người trực tiếp tham gia thực hiện hóa mục tiêu chính sáchlại vừa trực tiếp thụ hưởng những lợi ích mang lại từ chính sách Vì vậy, mộtchính sách đáp ứng được nhu cầu thực tế của xã hội về mục tiêu và biệnpháp thừa hành thì nó sẽ nhanh chóng đi vào lòng dân, được nhân dân ủng
hộ Ngược lại, một chính sách không thiết thực với đời sống nhân dân,không phù hợp với điều kiện, trình độ hiện có của dân sẽ bị tẩy chay hoặc bỏrơi, không được thực hiện
Ba là, sự hỗ trợ của các nhà lãnh đạo cấp trên Việc thực thi chính sách được
triển khai từ trung ương đến địa phương Việc triển khai các hoạt động của chínhsách ở cấp huyện khi được sự ủng hộ của các nhà lãnh đạo cấp trên về các điềukiện hỗ trợ chính sách như nhân lực và tài chính trở thành động lực thúc đẩychính sách thành công Đồng thời, với sự theo dõi, giám sát của nhà lãnh đạo cấptrên đối với việc triển khai sẽ kịp thời ban hành các quyết
Trang 16định hỗ trợ kịp thời cho chính sách, góp phần giảm bớt các sai lầm và đẩy lùi
khó khăn
Bốn là, ảnh hưởng của việc cung cấp thông tin quản lý kịp thời Trong
quản lý, thông tin được coi là chất liệu của đầu vào, là yếu tố quyết định đến
chất lượng sản phẩm của quản lý Còn trong quá trình thực thi chính sách
thông tin không chỉ là chất liệu mà còn là dẫn liệu trong toàn bộ quá trình
đến kết quả của chính sách Không có thông tin và thông tin không chính xác
thì không thể tạo nên bất kỳ kết quả nào của chính sách Chúng ta có thấy
được vai trò quan trọng của thông tin qua nhận định của V.I.Lê-nin: “Không
có thông tin thì không có thắng lợi trong bất kỳ lĩnh vực nào, cả khoa học, kĩ
thuật và sản xuất”
1.1.4 Đặc trưng của người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp
Có thể thấy xuất phát từ nhu cầu của sự phát triển thì việc thu hồi đất
sản xuất nông nghiệp để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị là cần
thiết và đúng đắn, nhằm phục vụ cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá Tuy nhiên, đối với người lao
động bị thu hồi đất nông nghiệp thường là người nông dân đang tiến hành
canh tác trên đất bị thu hồi do vậy họ chịu những tác động không hề nhỏ đến
việc làm và đời sống Việc quan tâm đến những đặc trưng của họ để từ đó có
những hoạt động triển khai chính sách là việc cấp thiết Vì vậy, người lao
động bị thu hồi đất nông nghiệp thường mang những nét đặc trưng sau:
Thứ nhất, đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất chủ yếu, người lao động
gắn bó với canh tác nông nghiệp qua nhiều thế hệ.Ở Việt Nam, xuất phát
điểm của quá trình CNH-HĐH đất nước là một nước có nền kinh tế chủ yếu
dựa vào sản xuất nông nghiệp, sản xuất lương thực bảo đảm cho sự sinh tồn
của dân cư Vì vậy, nhiều thế hệ người nông dân cha truyền con nối, gắn bó
với đất nông nghiệp một cách sâu sắc Quy mô việc làm cho đến nay vẫn chủ
yếu là quy mô làm việc manh mún, theo từng hộ gia đình Mỗi hộ gia đìnhchỉ giải quyết được việc làm cho ba đến bốn lao động theo mùa vụ Phâncông lao động khu vực nông nghiệp kém phát triển điều này tạo ra áp lựcbuộc người dân phải sống dựa vào đất nông nghiệp – con đường cơ bản đểduy trì sự sống
Thứ hai, phần lớn người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp chưađược đào tạo chuyên môn Với tư duy làm nông nghiệp đơn giản “con trâu
đi trước cái cày theo sau” nên người nông dân ít có sự học hỏi một cách bàibản đối với các hoạt động sản xuất Lao động của nông dân vẫn mang tínhchất là lao động giản đơn Sản xuất nông nghiệp vẫn chủ yếu gắn với tựnhiên, chịu sự tác động của tự nhiên, đất đai là yếu tố chính, giữ vai trò quyếtđịnh đến sản xuất nông nghiệp Mặc dù có hàng ngàn năm canh tác lúa nướcnhưng cho đến nay mọi công cụ lao động phục vụ cho sản xuất vẫn chỉ làcác dụng cụ cầm tay thô sơ Trong các khâu của ngành trồng trọt người nôngdân vẫn tiến hành bằng các phương pháp thủ công Mặc dù có sự cơ giới hoámột số khâu như dùng máy cày, máy gặt đập liên hợp nhưng không mang lạihiệu quả do tình trạng sản xuất manh mún còn phổ biến, đồng thời thiếu lựclượng thợ bảo dưỡng, sửa chữa khi hỏng hóc và các thiết bị, chi tiết, phụtùng thay thế để duy trì hệ thống máy
Thứ ba, thu nhập thấp khiến đời sống của người lao động bị thu hồiđất nông nghiệp gặp khó khăn
Người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp đa số phụ thuộc trực tiếpvào hoạt động sản xuất nông nghiệp như trồng lúa, ngô, hoa màu… Phần lớnthu nhập thường bấp bênh dựa trên sản lượng và giá cả của nông sản trongtừng mùa vụ Giá cả nông sản không ổn định,thường thì các năm được mùanông sản thì giá lạigiảm, cùng với đó môi trường sinh thái biến đổi, nhiều
Trang 17thiên tai xảy ra ảnh hưởng trực tiếp đến việc trồng trọt, chăn nuôi khiến thu
nhập của người nông dân thấp, ít có sự tăng trưởng
Thứ tư, trình độ hiểu biết về chính sách, pháp luật còn hạn chế
Công việc đồng áng hàng ngày, đồng thời cùng sinh hoạt trong dòng
họ, làng xã làm cho cuộc sống của người nông dân yêu thương, đùm bọc
trong giới hạn của luỹ tre làng Sống lâu trong lệ làng cùng tâm lý “lão nông
tri điền, phép vua thua lệ làng”, trong sản xuất không có kỷ luật lao động
nghiêm ngặt nên họ cũng ít hoặc thường không quan tâm đến chính sách,
pháp luật Đồng thời, họ cũng ít có cơ hội tiếp xúc với sự thay đổi liên tục
của các văn bản pháp luật, từ đó càng gây hạn chế hơn đối với sự hiểu biết về
pháp luật
1.2 Kinh nghiệm ở một số địa phương về thực thi chính sách tạo việc
làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp
1.2.1 Kinh nghiệm của huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng
Huyện Thuỷ Nguyên ở phía Bắc thành phố Hải Phòng, là huyện có nền
nông nghiệp chiếm vị trí chủ đạo, làm nông nghiệp tới hơn 80% Tuy nhiên,
trước yêu cầu phát triểnviệc thu hồi đất nông nghiệp để phục vụ các dự án
công nghiệp trên địa bàn đã khiến tỉ lệ thiếu việc làm của người nông dân
tăng cao Để giảm sức ép lao động, việc làm, huyện Thuỷ Nguyên tập trung
cao cho việc thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp và cơ cấu kinh
tế nông thôn, khôi phục làng nghề truyền thống và phát triển làng nghề
mới…Hàng năm tạo ra lượng việc làm mới cho trên một nghìn lao động ở
nông thôn bị thu hồi đất nông nghiệp
Huyện uỷ, HĐND, UBND huyện luôn xác định tạo việc làm cho người
lao động nông thôn, đặc biệt là người nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp là một
chương trình cấp bách, coi đó là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị
Các tổ chức chính trị - xã hội như Mặt trận Tổ quốc, Hội Nông dân,
Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ nữ, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh đãtích cực tuyên truyền các nội dung của chính sách tạo việc làm tới người laođộng, vận động và hướng dẫn họ tham gia các hoạt động sản xuất kinhdoanh để tạo việc làm
Tập trung phát triển nhiều mô hình tạo việc làm ở các lĩnh vực,cụ thểnhư vận động lập trang trại, thuê mặt nước để nuôi trồng thuỷ sản dọc hệthống các sông trên địa bàn huyện Đi cùng với đó là đẩy mạnh hoạt độngkhuyến nông, khuyến ngư, tăng cường chuyển giao kỹ thuật, mở các lớphuấn luyện kỹ thuật bồi dưỡng bổ túc nghề
1.2.2 Kinh nghiệm của huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh
Trên địa bàn huyện Yên Phong, Bắc Ninh tập trung khu công nghiệpYên Phong I với diện tích 665,2 ha và cụm công nghiệp Đông Thọ với diệntích 48,76 ha, đã góp phần rất lớn vào sự phát triển kinh tế của huyện Songcũng đặt ra những thách thức lớn về việc làm do trong quá trình hình thànhcác công nghiệp dẫn đến thu hồi đất của người lao động
Để giải quyết vấn đề trên, huyện Yên Phong đã đặt ra mục tiêu tronggiai đoạn 2011 - 2016 là mỗi năm tạo việc làm mới cho từ 3 nghìn lao động
Dự kiến trong 5 năm sẽ tạo việc làm cho trên 15 nghìn lao động Thực hiệncác mục tiêu trên, Yên Phong đã đưa ra một số biện pháp cơ bản:
Chủ trương xây dựng kế hoạch chuyển đổi nghề nhằm tạo việc làmngay từ sau khi duyệt quy hoạch các khu công nghiệp UBND các cấp trựctiếp tham khảo ý kiến của các hộ nông dân bị tác động từ đó xây dựng kếhoạch dưới sự thông qua của HĐND cùng cấp xây dựng Việc đền bù và thuhồi đất chỉ được thực hiện khi có kế hoạch chuyển đổi nghề và tạo việc làmđược cấp có thẩm quyền phê duyệt
Tạo việc làm thông qua chương trình phát triển công nghiệp Huyện
có văn bản quy định đối với các doanh nghiệp được giao đất tại các khu công
Trang 18nghiệp trên địa bàn giải toả phải có trách nhiệm tiếp nhận người lao động bị
thu hồi đất nông nghiệp vào làm việc tại doanh nghiệp Đồng thời có thông
báo công khai về nhu cầu tuyển dụng tại bảng thông tincủa khu công nghiệp,
tạo điều kiện cho người lao động dễ dàng tiếp cận thông tin về tuyển dụng
việc làm của doanh nghiệp
Huyện chủ động thành lập quỹ hỗ trợ đào tạo nghề và tạo việc làm để hỗ
trợ tài chính một cách kịp thời cho người lao động học nghề Tổng mức kinh phí
hỗ trợ cho đào tạo nghề và tạo việc làm đối với nông dân bị thu hồi đất giai đoạn
từ 2011-2015 được tỉnh Bắc Ninh phê duyệt cho Yên Phong là 2,4 tỷ đồng
Ngoài mức hỗ trợ nông dân chuyển đổi nghề sau khi thu hồi đất sản xuất nông
nghiệp, huyện còn hỗ trợ học nghề ngắn hạn cho nông dân Mức hỗ trợ tính theo
số học viên thực tế tốt nghiệp khoá học, với quy định tối đa không quá
300.000đ/người/thángvà không quá 1.500.000đ/người/khoá học Tuy nhiên với
mức hỗ trợ này được đánh giá là thấp, trên thực tế không thể nào đào tạo những
nghề mà doanh nghiệp cần như nghề hàn, nghề điện, nghề sửa chữa ô tô
Với lao động dưới 35 tuổi, được đào tạo nghề hoàn toàn mới để cung cấp
cho các doanh nghiệp trên địa bàn huyện HĐND huyện phê duyệt kế hoạch đào
tạo nghề có địa chỉ, sau khi người lao động được tiếp nhận, học nghề Kết thúc
khoá học học viên có năng lực sẽ được trực tiếp các doanh nghiệp tiếp nhận theo
đơn đặt hàng với UBND huyện Mô hình kết hợp giữa UBND huyện, người lao
động, doanh nghiệp và cơ sở đào tạo với việc xác định nhu cầu tuyển dụng, yêu
cầu về nghề nghiệp trên cơ sở cam kết tuyển dụng của doanh nghiệp đã tạo ra
chính sách đào tạo nghề hiệu quả, đảm bảo người lao động có khả năng làm việc
đồng thời đúng thời gian, nhu cầu tuyển dụng
Trước tác động của chính sách hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề, tạo
việc làm trên địa bàn huyện Yên Phong tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ
37% năm 2010 lên 45% năm 2014
1.2.3 Kinh nghiệm của huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội
Trên cơ sở các văn bản quy định về tạo việc làm của Chính phủ và thànhphố Hà Nội, huyện Hoài Đức đã tổ chức thực hiện khá thành công một số nộidung tạo việc làm cho đối tượng người lao động vùng thu hồi đất nông nghiệp.UBND huyện thành lập Ban điều hành Đề án Hỗ trợ người lao động bị thu hồiđất học nghề và tạo việc làm để triển khai các nội dung chính sách
Huyện phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hộihỗ trợ cho người laođộng thuộc diện bị thu hồi đất vay vốn để sản xuất kinh doanh, tự tạo việclàm Đồng thời, sau khi vay vốn người lao động được hỗ trợ không mất lãisuất trong 5 năm đầu tiên để yên tâm sản xuất, kinh doanh
Ban điều hành Đề án tiến hành thu thập và xử lý thông tin về việc làm vàphối hợp với Phòng Chính sách lao động việc làm của Sở Lao động – Thươngbinh và Xã hội Thành phố Hà Nội tổ chức các phiên giao dịch việc làm Đặc biệtthành lập được các điểm tư vấn nghề và việc làm cho người lao động ngay tại
cơ sở Từ năm 2010 đến nay, huyện Hoài Đức thường niên tổ chức các phiêngiao dịch việc làm tại Nhà văn hoáhuyện Các phiên giao dịch đã thu hút hàngtrăm doanh nghiệp đóng trên địa bàn với hàng nghìn lượt người lao động có nhucầu tìm kiếm việc làm Trong phiên giao dịch đầu tiên đạt kết quả phỏng vấn1.745 lượt, tuyển dụng trực tiếp được 683 lao động và
453 lao động được hẹn phỏng vấn lần hai
1.2.4 Những bài học kinh nghiệm thực thi chính sách tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp đối với huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội
Qua nghiên cứu kinh nghiệm thực tế về thực thi chính sách tạo việc làmcho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp có thể rút ra được một số bài học
về tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất ở huyện Đông Anh như sau:Thứ nhất, cần hệ thống chính sách một cách đồng bộ về tạo việc làmcho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp Từ đó, các địa phương có sự
Trang 19triển khai phù hợp với điều kiện tại địa bàn, nhằm phát huy hiệu quả các giải
pháp chính sách, tạo được việc làm, ổn định cuộc sống cho người lao động
sau thu hồi đất nông nghiệp
Thứ hai, trong hệ thống chính sách tạo việc làm cho người lao động bị
thu hồi đất nông nghiệp thì chính sách đào tạo nghề có vai trò quan trọng
Chính sách này chính là cầu nối tạo cơ hội cho người lao động chuyển sang
làm việc trong các lĩnh vực phi nông nghiệp với thu nhập cao hơn Hơn nữa,
thông qua việc hỗ trợ đã giúp cho người nông dân được học nghề, góp phần
nâng cao được tay nghề và cải thiện tác phong lao động Ngoài ra, họ có cơ
hội được tiếp cận các phương tiện khoa học công nghệ hiện đại, giúp giảm
bớt sức lao động nhưng lại nâng cao năng suất công việc
Thứ ba, khi thực hiện chính sách tạo làm tiến hành thực hiện đồng bộ các
chính sách khác cùng với chính sách đào tạo nghề như chính sách chuyển đổi cơ
cấu kinh tế nông nghiệp, chính sách hỗ trợ tài chính, vay vốn phát triển làng nghề
truyền thống và chính sách xuất khẩu lao động Từ đó đa dạng hoá các hình thức
tạo việc làm, phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn một cách toàn diện, đẩy
mạnh thâm canh tăng năng suất cây trồng, vật nuôi giúp tạo việc làm tại chỗ trên
địa bàn Đồng thời trên cơ sở phát huy nội lực trong nước, mở rộng hợp tác quốc
tế để kí kết các hợp đồng xuất khẩu lao động, mở ra cơ hội cho người lao động bị
thu hồi đất nông nghiệp được làm việc ở các thị trường lao động nước ngoài
như Nhật Bản, Hàn Quốc, Maylaysia
Thứ tư, chính sách tạo việc làm cho người lao động là chính sách đầu tư
cho phát triển con người cả trong ngắn hạn và tương lai Đặc biệt tạo việc làm
cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp càng có vai trò quan trọng, không
những giúp ổn định cuộc sống về vật chất mà còn giúp họ ổn định tâm lýsau khi
họ không còn tư liệu sản xuất đặc biệt,vì vậy chính sách việc làm tại khu vực
nông thôn cần được xây dựng phù hợp với chiến lược; đón đầu các
ngành nghề sẽ được phát triển tại địa phương, có như vậy người lao độngmới thực sự có việc làm và yên tâm lao động phát triển kinh tế, nâng cao đờisống
Thứ năm, trách nhiệm thực hiện chính sách tạo việc làm cho người laođộng bị thu hồi đất không chỉ của các cơ quan quản lý nhà nước vì vậy việc
xã hội hoá, thu hút sự tham gia của các chủ thể khác như các doanh nghiệp,nhà đầu tư, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và người lao động
là hoàn toàn cần thiết Cụ thể, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chứcthành viên đối với việc tuyên truyền, vận động người lao động bị mất đấtnông nghiệp tích cực tham gia thực thi chính sách đóng vai trò quan trọngvới sự thành công của chính sách
Ở mỗi địa phương với các điều kiện riêng về tự nhiên, kinh tế, xã hộithì các giải pháp về tạo việc làm lại mang đặc trưng riêng, phù hợp với tiềmnăng và phát huy các lợi thế Tuy nhiên, trong xu thế phát triển chung hiệnnay, huyện Đông Anh cần tham khảo, vận dụng linh hoạt những bài họckinhnghiệm được rút ra ở các địa phương để có thể vận dụng, nhằm tạo ranhiều việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn
Trang 20Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC THI CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM CHO
NGƯỜI LAO ĐỘNG BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN
ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 2.1 Khái quát về tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Đông Anh
2.1.1 Về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Đông Anh là huyện ngoại thành nằm ở vị trí cửa ngõ phía Bắc của Thủ đô
Hà Nội với diện tích tự nhiên 18.213,9ha (182,14km2) Đông Anh có ranh giới tự
nhiên với các quận/huyện khác của Hà Nội chủ yếu là các con sông, đó là sông
Hồng, sông Đuống ở phía Nam huyện, là ranh giới giữa Đông Anh với khu vực
nội thành và sông Cà Lồ ở phía Bắc huyện, là ranh giới giữa
Đông Anh với huyện Sóc Sơn Cụ thể địa giới hành chính của huyện ĐôngAnh được xác định như sau:
+Phía Bắc giáp huyện Sóc Sơn, Hà Nội
+ Phía Nam giáp quận Từ Liêm Bắc, quận Tây Hồ và quận Long Biên, HàNội
+ Phía Đông Bắc giáp huyện Yên Phong và thị xã Từ Sơn, tỉnh BắcNinh; phía Đông Nam giáp huyện Gia Lâm, Hà Nội
+ Phía Tây giáp huyện Mê Linh, Hà Nội
Đông Anh có diện tích thuộc loại lớn trong các huyện ngoại thành HàNội, đứng thứ bảy, sau huyện Ba Vì, Sóc Sơn, Chương Mỹ, Mỹ Đức, ThạchThất, Ứng Hòa
Với diện tích tự nhiên khá rộng, lại nằm hoàn toàn ở khu vực phía Bắcsông Hồng và tiếp giáp với nội thành nên Đông Anh có vị trí và vai trò chiếnlược trong định hướng phát triển đô thị của Thủ đô Hà Nội những năm tới.2.1.1.2 Điều kiện tự nhiên
xã Nguyên Khê và một phần xã Xuân Nộn Tỷ lệ diện tích đất cao chiếm13,4%, tỷ lệ diện tích đất vàn chiếm 56,2% tổng diện tích toàn huyện.Các xã có địa hình tương đối thấp (trũng) nằm ở phía Đông Nam củahuyện (giáp với huyện Gia Lâm và tỉnh Bắc Ninh)như Mai Lâm, Cổ Loa, Dục
Tú, Liên Hà, Vân Hà Cốt đất thấp nhất huyện là +3,5m, tại khu vực lòng
Trang 21sông Thiếp và một số xã kể trên Tỷ lệ diện tích đất trũng chiếm 30,4% diện
tích toàn huyện
Trên địa bàn huyện, địa hình đất cao thấp chênh lệch nhau khá lớn, nên
hình thành một câu cổ ngữ lạ nói lên tác động trực tiếp của đặc điểm địa hình
“Quậy ủ Chủ tươi/Quậy cười Chủ khóc” Có nghĩa là: Gặp lúc lụt lội, vùng
trũng (Quậy) khổ, thì vùng cao (Chủ) đỡ hơn Nhưng khi khô hạn thì vùng
cao (Chủ) khổ, còn vùng trũng (Quậy) lại mát mặt
Đặc điểm địa hình trên là yếu tố quan trọng để định hình sự phát triển
nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi và quy hoạch các vùng
chuyên canh sản xuất: vùng đất cao nên tập trung trồng cây ăn quả, vùng đất
vàn trồng rau, hoa; vùng trũng trồng lúa hoặc cải tạo để nuôi trồng thủy sản
Địa hình của huyện Đông Anh tương đối bằng phẳng nhưng cũng khá
đa dạng, rất phù hợp đối với việc phát triển toàn diện kinh tế - xã hội huyện
trong những năm tới Toàn địa bàn huyện phù hợp với việc phát triển thảm
xanh thiên nhiên, xây dựng các công trình hạ tầng dân dụng, công nghiệp, đô
thị Đối với từng khu vực thì khu vực phía Đông và Đông Nam của huyện có
thể phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái; khu vực Tây Nam và Đông Bắc
của huyện có thể phát triển các khu công nghiệp tập trung quy mô lớn; khu
vực phía Tây, Tây Bắc và trung tâm huyện có thể phát triển đô thị với tỷ lệ
diện tích đất xanh lớn, cùng với vùng nông nghiệp của huyện tạo nên vành
đai xanh cho khu vực nội thành Hà Nội hiện nay, hướng đến sự phát triển đô
thị bền vững và hài hòa với môi trường thiên nhiên
b, Đặc điểm khí hậu, thời tiết
Đông Anh - Hà Nội nằm ở vùng đồng bằng Sông Hồng, có chung chế độ
khí hậu của miền Bắc nước ta, đó là khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa Khoảng từ
tháng 5 đến tháng 10 hàng năm là mùa nóng, nhiều mưa, khí hậu ẩm ướt Từ
tháng 11 đến tháng 4 năm sau là mùa lạnh, có thời kỳ đầu thời tiết khô
lạnh và thời kỳ sau lạnh nhưng độ ẩm cao do mưa phùn Giữa hai mùa cótính chất tương phản trên là các giai đoạn chuyển tiếp, tạo nên khí hậu bốnmùa phong phú: xuân, hạ, thu, đông
Nhiệt độ trung bình hàng năm của Đông Anh khoảng 250C, nhiệt độtuyệt đối cao khoảng 400C, nhiệt độ tuyệt đối thấp là 2,70C Hai tháng nóngnhất trong năm là tháng 6 và tháng 7, nhiệt độ trung bình tháng cao nhấtkhoảng 300C Hai tháng lạnh nhất là tháng 12 và tháng 1, nhiệt độ trung bìnhcủa tháng thấp nhất khoảng 180C
Nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới ẩm nên số ngày mưa trong nămtương đối lớn, khoảng 145 ngày/năm; lượng mưa trung bình hàng nămkhoảng 1.300-1.600mm Từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm tập trung tới85% lượng mưa của cả năm (thời gian này còn gọi là mùa mưa) Thườngtháng 7, tháng 8 hàng năm có lượng mưa lớn nhất, trung bình tháng khoảng250-350mm Cũng trong khoảng tháng 5 đến tháng 8 hàng năm có thể có bão
từ phía Đông (xuất phát ngoài biển) đổ vào với tốc độ khoảng 30-34m/s, áplực lớn nhất 120kg/m2
Những tháng đầu mùa lạnh (tháng 11-12) là thời tiết khô, hầu nhưkhông có mưa Những tháng cuối mùa lạnh (tháng 1-3) có nhiều mưa phùn,khí hậu ẩm ướt.Với khí hậu trên, độ ẩm trung bình của Đông Anh là 84%,mức độ dao động về độ ẩm của các tháng trong năm nằm trong khoảng 80-87%
Nhìn chung, thời tiết của Đông Anh thuận lợi cho hoạt động sản xuất nôngnghiệp, nhất là các loại cây lương thực, rau, cây ăn quả, hoa Song, điều kiện thờitiết cũng gây trở ngại nhất định cho cây trồng, như các đợt giông bão mùa hè vàgió mùa Đông Bắc mùa đông hay tính hai mặt của mưa phùn mùa xuân, vừathích hợp cho sự phát triển của cây trồng, nhưng đồng thời cũng là điều kiện chosâu bọ, nấm mốc phát triển.Bão lụt, mưa phùn, gió mùa
Trang 22Đông Bắc cũng là những điều kiện thời tiết gây nhiều khó khăn cho sinh hoạt
và đời sống của nhân dân
c, Các nguồn tài nguyên
Tài nguyên đất
Tài nguyên lớn nhất của huyện Đông Anh hiện nay là đất đai với quỹ
đất có thể sử dụng để phát triển công nghiệp và đô thị hiện còn rất lớn
Đông Anh là huyện ngoại thành có diện tích thuộc loại lớn của Thủ đô
Hà Nội Hơn nữa, toàn bộ diện tích Đông Anh là đất đồng bằng và bán sơn
địa, rất phù hợp để phát triển nông nghiệp, công nghiệp và đô thị Quỹ đất có
thể sử dụng để phát triển công nghiệp và đô thị của Đông Anh hiện nay vào
loại lớn nhất trong các huyện ngoại thành Hà Nội
Hiện tại, khoảng 52% diện tích đất của huyện Đông Anh là đất nông
nghiệp, chủ yếu là đất trồng lúa và cây hàng năm khác như ngô, sắn, lạc, đậu
(chiếm 48% tổng diện tích đất của huyện) Diện tích đất nông nghiệp dành
cho trồng cây lâu năm chỉ chiếm 1% và đất cho nuôi trồng thủy sản chỉ
chiếm khoảng 3% tổng diện tích đất của huyện Đất phi nông nghiệp chiếm
khoảng 46% tổng diện tích đất của huyện, trong đó chủ yếu là đất ở (11,7%)
và đất chuyên dùng (21,8%) Đất chưa sử dụng trên địa bàn huyện hiện còn
354,4 ha, chiếm gần 2% diện tích của huyện
Tài nguyên nước
- Nước mặt: nước mặt được tạo nên do mưa và được tích trữ tại các
sông, hồ trên địa bàn.
Lượng mưa trung bình cả năm khoảng 1.600-1.800mm, trong đó 85% tập
trung vào mùa mưa từ khoảng tháng 5 đến tháng 10 Mưa phùn về cuối đông và
trong mùa xuân ít có ý nghĩa về cung cấp nước nhưng có ý nghĩa làm tăng độ ẩm
của đất và không khí Mực nước cao nhất ở mùa mưa lên cốt +11 trong vòng 3
ngày, tuy nhiên do khả năng thoát nước tự nhiên khá tốt nên ít
xảy ra úng ngập trên toàn địa bàn huyện, chỉ có hiện tượng úng ngập cục bộmột số điểm tại các xã vùng trũng phía Đông Nam Mưa tạo nên nguồn nướcmặt tích tụ tại các sông, hồ, đầm trên địa bàn huyện, gồm:
+ Sông Hồng chạy theo ranh giới giữa Đông Anh với huyện Từ Liêm
và quận Tây Hồ, đoạn chảy qua Đông Anh dài 15km Sông Hồng có ý nghĩađặc biệt quan trọng với Hà Nội nói chung và Đông Anh nói riêng
+ Sông Đuống bắt nhánh với sông Hồng, chạy theo ranh giới giữaĐông Anh với huyện Gia Lâm, đoạn chạy qua Đông Anh dài 8,5km từ xãXuân Canh đến xã Mai Lâm
Sông Hồng và sông Đuống là hai con sông cung cấp nước cho sản xuấtnông nghiệp của huyện, đồng thời tạo thành dải đất phù sa bãi sông được bồi đắphàng năm khá lớn phục vụ sản xuất nông nghiệp ngắn ngày Tuy nhiên, đây là haicon sông có chế độ thủy văn khá phức tạp, vào mùa mưa mực nước sông rất thấtthường, dễ gây lụt lội ảnh hưởng đến mùa màng; gây xói lở ảnh hưởng đến đờisống của người dân ở khu vực bãi sông Vì thế, bên cạnh việc khai thác các điềukiện thuận lợi do các con sông này đem lại cũng phải chú ý củng cố đê điều, khắcphục tác động bất lợi của chúng
+ Sông Cà Lồ chạy theo ranh giới giữa Đông Anh với huyện Sóc Sơn,đoạn chảy qua Đông Anh dài 9km, có lưu lượng nước lớn và khá ổn định.Đây không phải là con sông cung cấp lượng phù sa lớn, nhưng là nguồn cung cấp nước tưới chủ yếu cho một số xã phía Bắc huyện Đông Anh.+ Sông Thiếp là sông nội huyện, bắt nguồn từ xã Tiền Phong (huyện
Mê Linh) chảy qua địa phận 10 xã của huyện Đông Anh và đổ ra sông NgũHuyện Khê
+ Đầm Vân Trì: là một đầm lớn, diện tích 130ha, mực nước trung bình6m, cao nhất 8,5m và thấp nhất 5m, được nối thông với sông Thiếp Ngoài hệ
Trang 23thống sông, đầm Vân Trì có vai trò quan trọng trong việc điều hòa nguồn
nước mặt trên địa bàn huyện Đông Anh
- Nước ngầm: Nước ngầm trên địa bàn huyện Đông Anh bắt đầu từ độ
sâu 20m; tuy nhiên nguồn nước ngầm có trữ lượng lớn ở độ sâu 94 m Nước
ngầm có hàm lượng sắt từ 7 đến 11mg/lít Nước ngầm có ý nghĩa quan trọng
trong việc cung cấp nước cho sản xuất, đặc biệt cho đời sống của người dân
Nước ngầm ở Đông Anh có chất lượng tốt, trữ lượng cao, đồng thời luôn
được bổ sung, cung cấp từ nguồn nước giàu có của sông Hồng
Có thể nói, nước ngầm là một trong những tài nguyên thiên nhiên quý
giá và quan trọng của huyện Đông Anh phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã
hội và đời sống sinh hoạt của người dân trên địa bàn huyện trong tương lai
Tài nguyên du lịch, nhân văn
Đông Anh là một trong những chiếc nôi của văn hiến Thăng Long - Hà
Nội, rất giàu truyền thống và bản sắc văn hóa Đông Anh có tài nguyên du
lịch phong phú, độc đáo, giá trị, gồm các danh thắng; di tích lịch sử; các lễ
hội truyền thống; các loại hình nghệ thuật dân gian…
Cổ Loa là di tích lịch sử nổi tiếng nằm trên địa phận huyện Ðông Anh,
cách trung tâm Hà Nội khoảng 17 km về phía Tây Bắc, là một vùng thành trì
lớn, một dấu tích vật chất về kiến trúc quân sự và thành cổ cách đây hơn hai
thiên niên kỷ Cổ Loa là thủ đô thứ hai của Việt Nam, sau Phong Châu (là thủ
đô thời các vua Hùng, thuộc tỉnh Phú Thọ)
Ngoài Cổ Loa, trên địa bàn Đông Anh còn có nhiều di tích lịch sử, văn
hoá nổi tiếng khác như Đền Sái, địa đạo Nam Hồng
Đông Anh cũng có những khu vực có cảnh quan thuận lợi để phát triển
du lịch, như đầm Vân Trì, cảnh vật ven sông Cà Lồ
Trên địa bàn huyện Đông Anh hàng năm có rất nhiều lễ hội truyền
thống, trong đó có những lễ hội lớn, có tiềm năng khai thác du lịch như: Hội
đền An Dương Vương (hay còn gọi là Hội Cổ Loa); Hội rước vua giả ĐềnSái (xã Thuỵ Lâm); Hội làng Dục Tú (xã Dục Tú); Hội làng Xuân Nộn (xãXuân Nộn); Hội bà Máy hay còn gọi là lễ hội Giỗ (xã Liên Hà); Hội làng CổDương (xã Tiên Dương); Hội làng Quan Âm (xã Bắc Hồng); Hội làngĐường Yên (xã Xuân Nộn); Hội làng Sơn Du; Hội làng Xuân Trạch (xãXuân Canh); Hội làng Quậy; Hội làng Phúc Hậu (xã Dục Tú); Hội làng Thụy
Hà (xã Bắc Hồng)
Đông Anh cũng có nhiều làng nghề nổi tiếng, trong đó có các nghề đặcsắc như chạm khảm trang trí đồ gỗ Vân Hà, bún Mạch Tràng Tới ĐôngAnh, du khách có thể tham quan các làng nghề truyền thống và thưởng thứccác món ăn tiêu biểu, riêng có của mảnh đất lịch sử này
2.1.2 Về điều kiện kinh tế
Giá trị sản xuất các ngành kinh tế không tính liên doanh trên địa bànnăm 2015 tăng 1,48 lần so với năm 2011, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt8,3% Giá trị gia tăng các ngành kinh tế thuộc Huyện quản lý tăng 1,45 lần sovới năm 2011, tốc độ
tăng trưởng bình quân 7,8% Thu nhập đầu người khu vực nông thôn năm
2015 ước đạt 32 triệu đồng/người/năm
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngành Thươngmại dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành Công nghiệp - Xây dựng, Nông nghiệp.Ngành Thương mại - Dịch vụ chiếm 14,46%, tăng 3,63%; Công nghiệp -Xây dựng chiếm 81,58% giảm 2,42%; Nông - Lâm - Thủy sản chiếm 3,96%,giảm 1,19%, trong đó:
- Thương mại, dịch vụ phát triển và tăng trưởng khá, cơ bản đáp ứng được nhucầu sản xuất và tiêu dùng của nhân dân Tốc độ tăng trưởng bình quân đạt11,5% Hệthống chợ, trung tâm thương mại đã được quy hoạch; tập trung chỉđạo thực hiện chuyển đổi mô hình quản lý kinh doanh khai thác chợ theo
Trang 24phương thức xã hội hóa, đã chuyển đổi được 17 chợ đưa vào hoạt động có
hiệu quả Hoạt động dịch vụ vận tải, bưu chính viễn thông, tín dụng ngân
hàng phát triển mạnh Công tác quản lý thị trường được tăng cường, ngăn
chặn, xử lý kịp thời, nghiêm minh các hoạt động sản xuất và kinh doanh trái
pháp luật
- Ngành Công nghiệp-Xây dựng: Chịu nhiều tác động của suy giảm kinh tế
và khủng hoảng tài chính, song ngành Công nghiệp - Xây dựng trên địa bàn
huyện vẫn có mức tăng trưởng khá, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn
2010–2015,trong 5 năm đạt 8,3% Nhiều giải pháp hỗ trợ sản xuất, tháo gỡ
khó khăn cho doanh nghiệp, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu đã phát huy
hiệu quả Đặc biệt giá trị sản xuất khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng
khá, gấp 1,5 lần so với năm 2010 Các cụm công nghiệp vừa và nhỏ, làng
nghề hoạt động có hiệu quả, sản phẩm được tiêu thụ mạnh trên thị trường
- Ngành Nông nghiệp: Mặc dù giảm về tỷ trọng nhưng được phát triển theo
hướng nâng cao chất lượng, sản xuất hàng hóa, phát triển nông nghiệp sạch,
sinh thái và đô thị có giá trị kinh tế cao Các chương trình hỗ trợ ứng dụng
tiến bộ khoa học kỹ thuật vào phát triển sản xuất thực hiện có hiệu quả như:
giống, thuốc bảo vệ thực vật, đầu tư hạ tầng, đẩy mạnh cơ giới hóa, chuyển
đổi cơ cấu cây trồng theo quy hoạch, phát triển, mở rộng các vùng sản xuất
chuyên canh; mô hình kinh tế trang trại chăn nuôi tập trung, quy mô lớn, đa
dạng các loại vật nuôi không ngừng tăng lên(có 3 mô hình chăn nuôi, 03 mô
hình rau, củ, quả đạt tiêu chuẩn VietGap, được Thành phố đánh giá là một
trong những huyện đứng đầu công tác phát triển chăn nuôi Tỷ trọng ngành
trồng trọt giảm từ 45,48% năm 2010 xuống còn 40,64% năm 2015; ngành
chăn nuôi tăng từ 54, 52% năm 2010 lên 59,36% năm 2015
Tổng thu ngân sách Nhà nước huyện trung bình hàng năm đạt 1.789
tỷ đồng; tổng chi ngân sách huyện trung bình mỗi năm đạt 1.730 tỷ đồng
Thu tiền sử dụng đất và đấu giá quyền sử dụng đất đất trung bình hàngnăm đạt 371,6 tỷ đồng
2.1.3 Về dân số - lao động
a Dân số:
Tổng số dân trên địa bàn huyện Đông Anh đến cuối năm 2015 khoảng35,05 vạn người, chiếm khoảng 5,2% dân số Thủ đô Hà Nội Mật độ dân sốnăm 2015 là 1,924 người/1.000m2 (1.924 người/km2) Đông Anh là huyện
có dân số lớn thứ nhất trong các huyện ngoại thành và có số dân đứng thứ haitrong các quận/huyện của Hà Nội (sau quận Đống Đa)
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của huyện Đông Anh giai đoạn 2011-2015(khoảng 1,4-1,5%/năm) cao hơn so với giai đoạn 2006 -2010 trước đó(khoảng 1,2-1,3%/năm) Đông Anh hiện có khoảng 65.000 phụ nữ trong độtuổi sinh đẻ có chồng (từ 18-49 tuổi) Trung bình có 6.000 trẻ em được sinh
ra mỗi năm trong giai đoạn 2011-2015 Số trẻ em từ 16 tuổi trở xuống(những người sống phụ thuộc) của huyện Đông Anh chiếm khoảng 30% dân
số toàn huyện
Có thể nói, quy mô dân số lớn là một nguồn lực đáng kể trong quátrình phát triển của huyện Đông Anh Nhưng trong những năm gần đây, tỷ lệsinh và tỷ lệ tăng dân số tự nhiên có chiều hướng tăng, tỷ lệ sinh con thứ bakhá cao Nếu tỷ lệ tăng dân số tự nhiên không được kiểm soát thì sẽ lại gâytrở ngại lớn cho quá trình phát triển của huyện Vì thế, việc kiểm soát tốc độtăng dân số tự nhiên cần là nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới
b Lao động:
- Về số lượng:
Tổng số nguồn lao động của huyện Đông Anh chiếm gần 60% số dân.Tuy nhiên, tỷ lệ này có xu hướng giảm nhẹ Điều này được lý giải bởi mứctăng dân số tự nhiên cao những năm gần đây khiến số trẻ em và những người
Trang 25chưa đến tuổi lao động tăng tỷ trọng trong tổng dân số Nguồn lao động đông
đảo chính là nguồn lực quan trọng bậc nhất để thực hiện quy hoạch phát triển
kinh tế - xã hội của huyện Đông Anh những năm tới đây
Tỷ lệ lao động hoạt động kinh tế luôn chiếm khoảng 98% trong tổng số
nguồn lao động trên địa bàn huyện Đông Anh giai đoạn 2011-2015 Về cơ
bản, Đông Anh đã huy động tốt đội ngũ lao động vào các hoạt động sản xuất
kinh doanh trên địa bàn thời gian qua
Bảng 2.1.3: Tình hình nguồn lao động trên địa bàn huyện Đông Anh giai
Nguồn: Phòng Lao động Thương binh Xã hội Huyện Đông Anh
Bên cạnh số lượng, cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực của huyện Đông Anh đang được cải thiện rõ rệt trong những năm gần đây
- Về cơ cấu: Cơ cấu nguồn lao động huyện Đông Anh có sự chuyển
dịch tích cực trong giai đoạn 2011-2015 Tỷ lệ lao động nông nghiệp trongtổng số lao động giảm mạnh, tỷ lệ lao động công nghiệp được duy trì và tỷ lệlao động dịch vụ tăng nhanh, biểu hiện sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đangdiễn ra mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đi liền với quá trình đô thị hóa trên địa bàn huyện Cụ thể:
+ Tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm từ gần 65% năm 2011 xuống 59% năm 2015
+ Tỷ lệ lao động công nghiệp duy trì ở mức 29-30%
+ Tỷ lệ lao động dịch vụ tăng từ 4,6% năm 2011 lên 12% năm 2015.Tuy nhiên, để đảm bảo một sự phát triển bền vững thì việc giảm tỷ lệlao động nông nghiệp cần phải là một quá trình chủ động với phương án vàcác giải pháp chuyển đổi nghề nghiệp rõ ràng, có tính khả thi chứ không chỉđơn thuần là sự giảm số lao động nông nghiệp do bị thu hồi đất sản xuấttrong quá trình đô thị hóa
- Về chất lượng: Chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố quyết định vị trí,
vai trò của nguồn lực này đối với sự phát triển Việc khẳng định nguồn nhân lựcđóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của Đông
Trang 26Anh tới đây có cơ sở ở chỗ chất lƣợng nguồn nhân lực của huyện đang ngày
càng đƣợc nâng cao
Số lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật đang giảm dần trong
khi số lao động là công nhân kỹ thuật và lao động trung học chuyên nghiệp tăng
lên Lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên - hầu hết là lao động quản lý
trong các doanh nghiệp và cán bộ trong các cơ quan, tổ chức trên địa bàn - cũng
tăng nhanh Điều này cũng phù hợp với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
dịch chuyển lao động từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ
Đồng thời, sự gia tăng số lao động có trình độ chuyên môn cũng là điều kiện thúc
đẩy sự phát triển các khu, cụm công nghiệp và đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa trên địa bàn huyện
Tuy nhiên, tỷ lệ lao động qua đào tạo của huyện Đông Anh hiện còn
thấp, chƣa tới 50% Nhìn chung, chất lƣợng nguồn nhân lực chƣa theo kịp
để đáp ứng tốt yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển toàn diện,
bền vững kinh tế - xã hội huyện Đông Anh Trong quá trình đô thị hoá, mỗi
năm có hàng nghìn lao động từ khu vực nông nghiệp chƣa đƣợc đào tạo,
nâng cao chất lƣợng kịp thời để chuyển dịch sang khu vực công nghiệp và
dịch vụ Điều này tiềm ẩn những vấn đề về đời sống và việc làm cần đƣợc
quan tâm giải quyết
2.2 Khái quát về tình hình thu hồi đất nông nghiệp của huyện Đông Anh
từ năm 2010 đến nay
2.2.1 Quỹ đất huyện Đông Anh
Đông Anh là huyện ngoại thành có diện tích thuộc loại lớn của Thủ đô
Hà Nội Hơn nữa, toàn bộ diện tích Đông Anh là đất đồng bằng và bán sơn
địa, rất phù hợp để phát triển nông nghiệp, công nghiệp và đô thị Quỹ đất có
thể sử dụng để phát triển công nghiệp và đô thị của Đông Anh hiện nay vào
loại lớn nhất trong các huyện ngoại thành Hà Nội
Hiện tại, khoảng 52% diện tích đất của huyện Đông Anh là đất nôngnghiệp, chủ yếu là đất trồng lúa và cây hàng năm khác nhƣ ngô, sắn, lạc, đậu(chiếm 48% tổng diện tích đất của huyện) Diện tích đất nông nghiệp dànhcho trồng cây lâu năm chỉ chiếm 1% và đất cho nuôi trồng thủy sản chỉchiếm khoảng 3% tổng diện tích đất của huyện Đất phi nông nghiệp chiếmkhoảng 46% tổng diện tích đất của huyện, trong đó chủ yếu là đất ở (11,7%)
và đất chuyên dùng (21,8%) Đất chƣa sử dụng trên địa bàn huyện hiện còn354,4 ha, chiếm gần 2% diện tích của huyện
Bảng 2.2.1: Cơ cấu sử dụng đất năm 2015 của huyện Đông Anh