1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Phân tích quy định về miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước và xây dựng tình huống để làm minh họa.

17 279 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 34,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 1 A. MỞ ĐẦU 1 B. NỘI DUNG 1 I. Những quy định chung về miễn, giảm nghĩa vụ THA đối với khoản thu nộp NSNN 1 1. Cơ sở của việc miễn, giảm nghĩa vụ THA đối với khoản thu nộp NSNN 1 2. Nguyên tắc miễn, giảm nghĩa vụ THA đối với khoản thu nộp NSNN 3 3. Ý nghĩa của việc miễn, giảm nghĩa vụ THA đối với khoản thu nộp NSNN 4 II. Trường hợp được miễn, giảm nghĩa vụ THA và thủ tục đề nghị và xét miễn, giảm nghĩa vụ THA 5 1. Trường hợp được miễn, giảm nghĩa vụ THA đối với khoản thu nộp NSNN 5 1.1. Trường hợp được miễn nghĩa vụ THA 5 1.2. Trường hợp được giảm nghĩa vụ THA 8 2. Thủ tục đề nghị và xét miễn, giảm nghĩa vụ THA 8 2.1. Xác minh điều kiện để xét miễn, giảm thi hành án 8 2.2. Cơ quan thi hành án dân sự lập hồ sơ đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét việc xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án 9 2.3. Thụ lý hồ sơ xét, miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự 11 2.4. Tổ chức phiên họp xét miễn, giảm thi hành án 12 2.5. Ra quyết định miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự 12 2.6. Giải quyết kháng nghị đối với QĐ xét miễn, giảm nghĩa vụ THADS 13 III. Tình huống minh họa 14 C. KẾT LUẬN 15 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

Trang 1

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

A.MỞ ĐẦU

Các chủ thể có quyền và nghĩa vụ thi hành án phải thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình khi bản án, quyết định dân sự của Tòa án có hiệu lực pháp luật Tuy nhiên trên thực tế, có nhiều trường hợp việc thi hành không thể thực hiện được do người phải thi hành án qua một thời gian dài vẫn không có tài sản

để thi hành án và khả năng để họ có tài sản để thi hành án là không có Nếu cứ nhất định buộc người phải thi hành án phải thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự sẽ mất rất nhiều thời gian, công sức để xác minh, theo dõi điều kiện thi hành án của họ Ngoài ra, cũng có trường hợp tài sản của người phải thi hành án

có giá trị nhỏ nhưng tổ chức thi hành án thì chi phí lại có thể cao và như thế thì hiệu quả thi hành án dân sự sẽ rất thấp Xuất phát từ thực tế đó, để đảm bảo hiệu quả của công tác thi hành án dân sự và sớm ổn định được các quan hệ xã hội, pháp luật thi hành dân sự đã quy định về miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự của người phải thi hành án trong một số trường hợp nhất định Theo đó,

để tìm hiểu rõ về vấn đề này, tôi xin được “phân tích quy định về miễn, giảm

nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước và xây dựng tình huống để làm minh họa”.

B.NỘI DUNG

I Những quy định chung về miễn, giảm nghĩa vụ THA đối với khoản thu nộp NSNN

1 Cơ sở của việc miễn, giảm nghĩa vụ THA đối với khoản thu nộp NSNN

Thi hành án dân sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình giải quyết vụ việc dân sự, theo đó, nhằm mục đích đưa BA,QĐ dân sự của Tòa án ra thực hiện trên

Trang 2

thực tế Tuy nhiên, trên thực tế, có rất nhiều trường hợp việc thi hành không thể thực hiện được, nếu cứ nhất định buộc người phải thi hành án dân sự thực hiện thì việc thi hành sẽ kéo dài Do đó, để đảm bảo hiệu quả của công tác thi hành

án dân sự và sớm ổn định được các quan hệ xã hội, pháp luật thi hành án dân sự

đã quy định về miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự của người thi hành án trong một số trường hợp nhất định Trong đó:

Miễn nghĩa vụ thi hành án dân sự là trường hợp người phải thi hành án có

nghĩa vụ nộp một khoản tiền, tài sản để thu nộp ngân sách nhà nước theo BA,QĐ của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng chưa thực hiện hoặc đã thực hiện được một phần mà có đủ điều kiện do pháp luật quy định nên được Tòa án

có thẩm quyền quyết định miễn thi hành toàn bộ các khoản thu nộp ngân sách nhà nước còn lại

Giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự là trường hợp người phải thi hành án có

nghĩa vụ nộp một khoản tiền, tài sản để thu nộp ngân sách nhà nước theo BA,

QĐ của Tòa án có hiệu lực pháp luật nhưng chưa được thực hiện hoặc đã thực hiện một phần mà có đủ điều kiện do pháp luật quy định nên được Tòa án có thẩm quyền quyết định giảm thi hành một phần các khoản thu nộp ngân sách nhà nước.1

Hiện nay, việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự được quy định tại:

Các điều từ Điều 61 đến Điều 64 LTHADS 2008 (sửa đổi, bổ sung

2014);

 Thông tư liên tịch số12/2015/TTLT-BTP-BTC-TANDTC-VKSNDTC Hướng dẫn việc miễn, giảm nghĩa vụ THA đối với khản thu, nộp NSNN

Cơ sở của việc quy định về miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự trong pháp luật thi hành án dân sự chính là dựa vào tình hình thực tế về tài sản của người phải thi hành án dân sự, về thời gian mà bản án, quyết định vẫn chưa thể được thi hành, về giá trị khoản thu nộp ngân sách nhà nước và dựa vào hiệu quả của công tác thi hành án dân sự

Trang 3

2 Nguyên tắc miễn, giảm nghĩa vụ THA đối với khoản thu nộp NSNN

Theo quy định tại Thông tư liên tịch số 12/2015/TTLT-BTP-BTC-TANDTC-VKSNDTC Hướng dẫn việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với

khoản thu, nộp ngân sách nhà nước thì nguyên tắc xét miễn, giảm thi hành án được quy định như sau:

Thứ nhất, việc xét miễn, giảm THA phải được thực hiện một cách khách quan, công khai, minh bạch, đúng đối tượng, đúng thời hạn và các quy định của pháp luật về thi hành án dân sự, pháp luật có liên quan Đây là nguyên tắc mới được bổ sung trong quy định về miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu, nộp ngân sách nhà nước, nhằm tạo sự công bằng trong việc thi hành án

Thứ hai, chi phí cho việc xét miễn, giảm thi hành án được lấy từ kinh phí hoạt động của cơ quan thực hiện việc miễn, giảm thi hành án, do đó, người được xét miễn, giảm thi hành án không phải nộp chi phí liên quan đến việc xét miễn, giảm.2

So với những quy định trước đây của pháp luật về miễn giảm thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước thì quy định này của TTLT đã có sự chi tiết và cụ thể hơn

Trước đây, tại Điều 3 Thông tư liên tịch số 10/2010/TTLT-BTP-BTC-BCA-VKSNDTC-TANDTC cũng đã có quy định về nguyên tắc miễn giảm, cụ thể

như sau:

“1 Đối với người đã được giảm một phần hình phạt tiền mà lại phạm tội mới nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì Toà án chỉ xét giảm lần đầu sau khi người đó đã chấp hành được hai phần ba mức hình phạt tiền.

2 Người được xét miễn, giảm thi hành án không phải nộp các chi phí liên quan đến việc xét miễn, giảm Chi phí cho việc xét miễn, giảm thi hành án

2 Điều 3 Thông tư liên tịch số 12/2015 Hướng dẫn việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước về nguyên tắc xét miễn giảm thi hành án

Trang 4

được lấy từ kinh phí trong hoạt động của các cơ quan liên quan đến việc xét miễn, giảm.”

Như vậy, có thể thấy, quy định TTLT số 12 đã kế thừa quy định tại TTTL số 10 và bổ sung việc xét miễn, giảm thi hành án phải được thực hiện khách quan, công khai, minh bạch, đúng đối tượng, đúng thời hạn và các quy định của pháp luật về thi hành án dân sự, pháp luật có liên quan Việc bổ sung quy định này đã góp phần giúp cho việc miễn giảm thi hành án được thực hiện đúng pháp luật, bảo đảm được mục đích của nó

Bên cạnh đó tại khoản 5 Điều 61 Luật THADS 2008 sửa đổi bổ sung

2014 cũng có quy định nguyên tắc miễn giảm như sau: “Người phải thi hành án quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này chỉ được xét miễn hoặc giảm một lần trong 01 năm đối với mỗi bản án, quyết định.” Như vậy, thay vì quy định việc

xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án được tiến hành thường xuyên như luật cũ thì luật sửa đổi bổ sung đã ấn định luôn chỉ được xét miễn giảm một lần trong một năm đối với mỗi bản án, quyết định Việc quy định rõ ràng như vậy đã giúp cho các chủ thể áp dụng pháp luật dễ dàng hơn trong việc thực hiện nhiệm vụ

3 Ý nghĩa của việc miễn, giảm nghĩa vụ THA đối với khoản thu nộp NSNN

Thứ nhất, việc miễn, giảm nghĩa vụ THA đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước thể hiện tính nhân đạo sâu sắc của Đảng, Nhà nước trong quá trình thực thi pháp luật nói chung và trong lĩnh vực THADS nói riêng, cụ thể, trong nhiều trường hợp, người phải THA không thể tự lo cuộc sống hằng ngày của mình, nên việc miễn khoản thu nộp NSNN thật sự có ý nghĩa

Thứ hai, giải quyết được tình trạng án tồn đọng kéo dài từ năm này đến năm khác do người phải THA không có điều kiện THA

II.Trường hợp được miễn, giảm nghĩa vụ THA và thủ tục đề nghị và xét miễn, giảm nghĩa vụ THA

Trang 5

1 Trường hợp được miễn, giảm nghĩa vụ THA đối với khoản thu nộp NSNN

1.1.Trường hợp được miễn nghĩa vụ THA

Thứ nhất, người phải THA được xét miễn nghĩa vụ THA nếu đáp ứng

đầy đủ các điều kiện sau:

Một là, người THA không có tài sản hoặc có tài sản nhưng tài sản đó theo quy định của pháp luật không được xử lý để thi hành án hoặc không có thu nhập hoặc có thu nhập chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người phải thi hành

án và người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng Trong đó, tài sản theo quy định pháp luật không được xử lý để thi hành án có thể kể đến một số tài sản như sau:

Nhà ở duy nhất của cá nhân và gia đình người bị cưỡng chế có diện tích tối thiểu theo quy định của pháp luật về cư trú; đồ dùng thờ cúng; di vật, huân chương, huy chương, bằng khen; tài sản phục vụ quốc phòng và an ninh; tài sản đang được cầm cố, thế chấp hợp pháp…3

Hai là, hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước có giá trị dưới 2.000.000 đồng hoặc hết thời hạn 10 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 5.000.000 đồng.4

Trước đây, khi Luật Thi hành án dân sự 2008 chưa được sửa đổi, bổ sung thì luật chỉ mới quy định trường hợp người THA không có tài sản thi hành

án sẽ được xét miễn nghĩa vụ thi hành án khi hết thời hạn do luật định Tuy nhiên, với sự thay đổi liên tục của xã hội, thì xuất hiện nhiều trường hợp khác cũng cần được xem xét miễn nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu, nộp ngân sách nhà nước mà không chỉ có mỗi trường hợp người thi hành án không có tài sản Do đó, để khắc phục sự thiếu sót của quy định củ, Luật thi hành án 2008 (sửa đổi, bổ sung 2014) đã bổ sung những trường hợp như người THA có tài sản nhưng tài sản đó theo quy định của pháp luật không được xử lý để thi hành án hoặc không có thu nhập hoặc có thu nhập chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho

3 Điều 19 Nghị định 166/2013/NĐ-CP quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính

4 Khoản 1 Điều 61 Luật Thi hành án dân sự 2008 (sửa đổi, bổ sung 2014) về điều kiện miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước

Trang 6

người phải thi hành án và người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng cũng được xét miễn nghĩa vụ THA khi đáp ứng được cả điều kiện về thời hạn được quy

định tại điểm b khoản 1 Điều 61

Ngoài ra, Khoản 1 Điều 61 Luật THADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung 2014) đã mở rộng mức xét miễn nghĩa vụ THA mà không yêu cầu “đã thi hành được một phần” khi hết thời hạn 05 năm: nâng mức nghĩa vụ phải thi hành từ mức “án phí không có giá ngạch” lên thành “khoản thu, nộp NSNN có giá trị dưới 2 triệu đồng”hoặc hết thời hạn 10 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành

án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 5.000.000 đồng Quy định này mở rộng khá nhiều diện được xét miễn thi hành mà không cần thi hành được một phần nghĩa vụ

Thứ hai, được xét miễn nghĩa vụ đối với người phải THA không còn tài sản để thi hành phần nghĩa vụ còn lại đối với các khoản thu nộp NSNN khi đáp

ứng đủ các điều kiện sau:

Một là, khi người thi hành án không có tài sản hoặc có tài sản nhưng tài sản đó theo quy định của pháp luật không được xử lý để thi hành án hoặc không

có thu nhập hoặc có thu nhập chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người phải thi hành án và người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng

Hai là, hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị dưới 5.000.000 đồng hoặc hết thời hạn 10 năm,

kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 10.000.000 đồng

Bên cạnh đó, để giải quyết tình trạng người phải THA lâm vào hoàn

cảnh khó khăn do thiên tai, lũ lụt, hỏa hoạn, tại Khoản 4 Điều 61 Luật Thi hành

án dân sự đã bổ sung quy định phù hợp với nguyên tắc xét miễn hình phạt của

Bộ luật Hình sự, đó là: Người phải THA đã tích cực thi hành được một phần án phí hoặc thi hành được một phần tiền phạt theo quy định của Bộ luật Hình sự về miễn chấp hành phần tiền phạt còn lại nhưng lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể tiếp tục thi hành được phần nghĩa vụ còn lại hoặc lập công lớn thì

Trang 7

được xét miễn thi hành phần nghĩa vụ còn lại Trong đó, theo quy định tại điểm

b khoản 2 Điều 4 Thông tư 12/2015 có hướng dẫn cụ thể về “Người phải thi

hành án lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài” và “Người phải thi hành án lập công lớn” như sau:

Người phải thi hành án lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo

dài là người bị giảm sút hoặc mất thu nhập, mất toàn bộ hoặc phần lớn tài sản do

tai nạn, ốm đau, thiên tai, hỏa hoạn hoặc sự kiện bất khả kháng khác dẫn đến không đảm bảo hoặc chỉ đảm bảo được cuộc sống tối thiểu cho bản thân người

đó và người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng từ mười hai tháng trở lên, kể từ thời điểm xảy ra sự kiện đó đến thời điểm xét miễn, giảm thi hành án.

Người phải thi hành án lập công lớn là người đã có hành động giúp cơ

quan nhà nước có thẩm quyền phát hiện, truy bắt, điều tra tội phạm; cứu được người khác trong tình thế hiểm nghèo hoặc cứu được tài sản của Nhà nước, của

tập thể, của công dân trong thiên tai, hỏa hoạn hoặc sự kiện bất khả kháng khác;

có phát minh, sáng chế hoặc sáng kiến có giá trị lớn được các cơ quan nhà nước

có thẩm quyền xác nhận

Như vậy, trường hợp này khác với trường hợp trên ở chỗ: đối với trường hợp thứ hai người thi hành án đã thi hành được một phần của BA, QĐ của Tòa

án, tuy nhiên, phần nghĩa vụ còn lại không thể tiếp tục thực hiện do gặp những vấn đề mà nhóm đã nêu trên Trong đó, việc thi hành một phần khoản thu, nộp ngân sách nhà nước hoặc một phần án phí được quy định cụ thể trong Thông tư

số 12/2015 là đã thi hành được ít nhất bằng 1/50 khoản thu, nộp ngân sách nhà nước hoặc khoản án phí phải thi hành theo bản án, quyết định của Tòa án.5

1.2.Trường hợp được giảm nghĩa vụ THA

Trường hợp được xét giảm nghĩa vụ thi hành án đối với người thi hành

án chỉ đặt ra khi người phải THA đã thi hành được một phần nghĩa vụ THA của mình nhưng sau đó họ không còn hoặc có tài sản nhưng tài sản đó theo quy định

5 Khoản 1 Điều 4 Thông tư 12/2015/TTLT-BTP-BTC-TANDTC-VKSNDTC Hướng dẫn việc miễn, giảm nghĩa vụ THA đối với khản thu, nộp NSNN

Trang 8

của pháp luật không được xử lý để thi hành án hoặc không có thu nhập hoặc có thu nhập chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người phải thi hành án và người

mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng và khi đáp ứng được một trong các điều kiện sau đây:

Một là, hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, mỗi lần giảm không quá một phần tư số tiền còn lại phải thi hành án

Hai là, hết thời hạn 10 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ trên 100.000.000 đồng, mỗi lần giảm không quá một phần năm số tiền còn lại phải thi hành án nhưng tối đa không quá 50.000.000 đồng

2 Thủ tục đề nghị và xét miễn, giảm nghĩa vụ THA đối với khoản thu nộp NSNN

Thủ tục xét miễn, giảm thi hành án đối với khoản thu ngân sách nhà nước được thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số12/2015/TTLT-BTP-BTC-TANDTC-VKSNDTC ngày 15/09/2015 Gồm những bước sau:

2.1 Xác minh điều kiện để xét miễn, giảm thi hành án

Khi đã có quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án đối với người phải thi hành án của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự Đồng thời có đủ

điểu kiện về thời hạn, mức tiền quy định tại Điều 61 LTHADS và điều kiện quy định tại Khoản 1 Điều 4 Thông tư liên tịch 12/2015 thì Chấp hành viên phải tiến

hành xác minh điều kiện để xét miễn, giảm thi hành án để lập hồ sơ đề nghị xét miễn giảm thi hành án trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày có căn cứ có điều kiện

để được miễn giảm thi hành án

Ngoài ra, còn có hai căn cứ để cơ quan thi hành án tiến hành xác minh điều kiện miễn, giảm thi hành án:

Một là, người phải thi hành án có nghĩa vụ thi hành các khoản thu nộp ngân sách nhà nước muốn được xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự thì phải làm đơn xin miễn, giảm thi hành án và nộp cho cơ quan thi hành án dân sự

Điểm b khoản 1 ĐIều 5 Thông tư liên tịch số 12/2015 quy định, theo đó người

Trang 9

phải thi hành án có thể gửi đơn đề nghị xét miễn giảm cho cơ quan thi hành án bằng hai cách: Hoặc là nộp trực tiếp tại cơ quan thi hành án, hoặc là gửi qua đường bưu điện cho cơ quan thi hành án dân sự

Hai là,Viện kiểm sát có thể yêu cầu lập hồ sơ đề nghị xét miễn giảm nghĩa

vụ thi hành án cho người phải thi hành án trong trường hợp có căn cứ xác định

rõ người phải thi hành án có đủ điều kiện để được miễn giảm thi hành án nhưng

cơ quan thi hành án dân sự không lập hồ sơ Đây là quy định mới trong thông tư

12, trước đây thông tu số 10 không quy định rõ Viện Kiểm Sát có thể yêu cầu lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm, mà chỉ quy định trong một số điều luật của BLHS về việc VKS có thể đề nghị xét miễn giảm việc chaaps hành hình phạt

tiền còn lại (Khoản 2 Điều 58, Khoản 3 Điều 76 BLHS 1999)

Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày có kết quả xác minh, cơ quan thi hành án dân sự phải thông báo bằng văn bản cho người phải thi hành án đã

có đơn đề nghị xét miễn, giảm thi hành án hoặc Viện kiểm sát đã yêu cầu lập hồ

sơ đề nghị xét miễn, giảm thi hành án biết, nêu rõ lý do chưa đủ điều kiện xét miễn, giảm

Việc xác minh điều kiện thi hành án để xét miễn giảm thực hiện theo quy định tại Điều 44 Luật Thi hành án dân sự Đối với người đang chấp hành hình

phạt tù ngoài việc xác minh thực hiện theo Điều 44 Luật THADS, khoản 3 Điều

5 Thông tư liên tịch số 12/2015 cũng hướng dẫn cụ thể việc xác minh tại nơi

người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù

2.2 Cơ quan thi hành án dân sự lập hồ sơ đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét việc xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án

Việc lập hồ sơ do Chấp hành viên chịu trách nhiệm, sau khi có kết quả xác minh, nếu người phải thi hành án có đủ điều kiện xét miễn, giảm thì trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày có kết quả Và báo cáo thủ trưởng cơ quan Thi hành

án dân sự để chuyển Viện kiểm sát cùng cấp thực hiện kiểm sát theo quy định pháp luật

Hồ sơ đề nghị Tòa án xét miễn giảm bao gồm những tài liệu sau:

Trang 10

“1 Văn bản đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án của Thủ trưởng

cơ quan thi hành án dân sự hoặc của Viện trưởng Viện kiểm sát trong trường hợp đề nghị xét miễn, giảm khoản tiền phạt;

2 Bản án, quyết định của Toà án, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án dân sự;

3 Biên bản xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án được thực hiện trong thời hạn không quá 03 tháng trước khi đề nghị xét miễn, giảm;

4 Tài liệu khác chứng minh điều kiện được xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án của người phải thi hành án, nếu có;

5 Ý kiến bằng văn bản của Viện kiểm sát cùng cấp trong trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án.”

Tài liệu khác quy định tại khoản 4 Điều 62 LTHADS có thể là: Chứng từ

thu- chi tiền thi hành án; giấy xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ cấp huyện trở lên trong trường hợp người phải thi hành án bị tai nạn, đau ốm kéo dài; giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã trong trường hợp người phải thi hành án bị thiệt hại tài sản do thiên tai, hỏa hoạn hoặc sự kiện bất khả kháng khác; giấy xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp người phải thi hành án lập công lớn; phiếu xác nhận của cơ sở giam giữ nơi người phải thi hành án đang chấp hành án phạt tù đối với các thông tin được quy

định tại Khoản 3 Điều 5 Thông tư liên tịch 12/2015; quyết định của Thủ trưởng

cơ quan Thi hành án dân sự về việc người phải thi hành án chưa có điều kiện thi

hành án quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 44a Luật Thi hành án dân sự; Tài

liệu chứng minh khác liên quan đến điều kiện xét miễn, giảm thi hành án (nếu có)

Hồ sơ chuyển Viện Kiểm sát bao gồm: Bản án, quyết định của Toà án, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án dân sự; Biên bản xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án được thực hiện trong thời hạn không quá 03 tháng trước khi đề nghị xét miễn, giảm; Tài liệu khác chứng minh điều kiện được xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án của người phải thi hành án (nếu

Ngày đăng: 22/03/2019, 13:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w