A. PHẦN MỞ ĐẦU 2 B. PHẦN NỘI DUNG 2 I. Cơ sở lý luận 2 1. Khái niệm 2 2. Đặc điểm 4 3. Ý nghĩa 4 4. Cơ sở của việc công nhận, cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam 5 a. Theo các hiệp định tương trợ tư pháp song phương giữa Việt Nam và các quốc gia khác 5 b. Theo pháp luật Việt Nam 6 II. Thực tiễn về công nhận và cho thi hành tại bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam 9 1. Thực tiễn 9 2. Thuận lợi và khó khăn 11 a. Thuận lợi 11 b. Khó khăn 12 3. Kiến nghị 13 C. PHẦN KẾT LUẬN 14 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 1M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC
A PHẦN MỞ ĐẦU 2
B PHẦN NỘI DUNG 2
I Cơ sở lý luận 2
1 Khái niệm 2
2 Đặc điểm 4
3 Ý nghĩa 4
4 Cơ sở của việc công nhận, cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam 5
a Theo các hiệp định tương trợ tư pháp song phương giữa Việt Nam và các quốc gia khác 5
b Theo pháp luật Việt Nam 6
II Thực tiễn về công nhận và cho thi hành tại bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam 9
1 Thực tiễn 9
2 Thuận lợi và khó khăn 11
a Thuận lợi 11
b Khó khăn 12
3 Kiến nghị 13
C PHẦN KẾT LUẬN 14
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
1
Trang 2A PHẦN MỞ ĐẦU
Trong giai đoạn hiện nay, không một quốc gia nào có thể tồn tại và phát triển một cách biệt lập mà không quan hệ, giao lưu, hợp tác với các quốc gia khác Do đó, quan hệ hợp tác quốc tế đã và đang trở thành nhu cầu nội tại của mỗi quốc gia Ở Việt Nam cùng với việc mở rộng và phát triển quan hệ quốc tế của nước ta đã và đang xuất hiện ngày một nhiều các vụ việc tranh chấp về dân
sự, hôn nhân và gia đình, lao động mà một bên đương sự là công dân, pháp nhân Việt Nam; nhiều vụ án được Tòa án nước ngoài giải quyết và gửi bản án, quyết định đến Việt Nam kèm theo đơn yêu cầu công nhận và thi hành tại nước ta các bản án, quyết định đó Việc công nhận và thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài nhằm đảm bảo khả năng thi hành các bản án, quyết định dân
sự đã được cơ quan tài phán nước ngoài tuyên cũng như đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người được thi hành án, tránh tình trạng về cùng một vụ việc nhưng lại
bị xét xử hai lần Đồng thời, việc công nhận và thi hành bản án, quyết định dân
sự của Tòa án nước ngoài còn có ý nghĩa quan trọng trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, pháp lý Đây còn là một căn cứ pháp luật quan trọng để xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án đối với các yêu cầu giải quyết khi vụ việc có yếu tố nước ngoài
B PHẦN NỘI DUNG
I Cơ sở lý luận
1 Khái niệm
“Việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài là việc Tòa án của một nước thừa nhận sự giải quyết các vụ việc dân
sự có yếu tố nước ngoài được ghi nhận trong các bản án, quyết định của Tòa án nước khác là hợp pháp và thừa nhận quyền và nghĩa vụ của các bên phát sinh từ
Trang 3nội dung bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài ở mức độ như bản
án, quyết định dân sự của Tòa án trong nước 1 ”
Trên thế giới, có hai hệ thống công nhận và cho thì hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài:
“Hệ thống cấp phép: là hệ thống các nước quy định việc cấp phép công
nhận và thi hành bản án, quyết định dân sự nước ngoài, chủ yếu ở các nước thuộc hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa: Pháp, Đức và nhiều nước Châu Âu,
Mỹ Latinh… Bản án của Tòa án nước ngoài muốn được công nhận và thi hành trên lãnh thổ của các nước này thì phải qua thủ tục tố tụng đặc biệt để đạt được quyết định chấp nhận
Hệ thống không cấp phép: Theo pháp luật của hệ thống này thì bản án dân
sự của Tòa án nước ngoài là cơ sở để mở phiên tòa mới, rút gọn tại Tòa án các nước này và từ đó tìm ra cơ sở để suy đoán bản án có lợi cho ai Sự suy đoán có thể được kiểm nghiệm trên cơ sở các kháng cáo của đương sự.2”
Ở Việt Nam, một bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài nếu muốn được công nhận và thi hành thì cần phải trải qua những thủ tục tố tụng đặc biệt được quy định tại Chương XXXVI của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; trong các hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và các nước cũng các văn bản pháp luật khác
Như vậy, có thể thấy, việc công nhận và thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài ở Việt Nam khá tương tự với hệ thống cấp phép
1Trường Đại học kiểm sát Hà Nội, Giáo trình luật tương trợ tư pháp, Nxb Chính trị quốc gia –
sự thật, Hà Nội, 2016, trang 80
2Trường Đại học kiểm sát Hà Nội, Giáo trình luật tương trợ tư pháp, Nxb Chính trị quốc gia –
sự thật, Hà Nội, 2016, trang 80 - 81
3
Trang 42 Đặc điểm
Việc công nhận và thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài có những đặc điểm riêng như sau:
Vấn đề công nhận, cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài chỉ được đặt ra trong trường hợp bản án, quyết định đó đã có hiệu lực pháp luật Chỉ trong một số trường hợp hãn hữu, bản án, quyết định dân sự cần phải thi hành ngay mới được xem xét cho thi hành khi bản án, quyết định dân sự về thực chất vụ việc chưa có hiệu lực
Không chỉ cho công nhận và thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài, Tòa án còn có thể không công nhận, không cho thi hành bản án của nước ngoài dựa trên yêu cầu của đương sự Bản án, quyết định dân sự chỉ được xem xét công nhận và cho thi hành nếu tuân thủ đầy đủ các điều kiện của Điều ước quốc tế cũng như pháp luật quốc gia Về mặt nội dung, yêu cầu công nhận
và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài trải dài trên nhiều lĩnh vực: dân sự, hôn nhân gia đình… Sau khi được công nhận, bản án, quyết định dân sự của Tòa án sẽ được xem là nguồn chứng cứ, chứng minh
3 Ý nghĩa
Thứ nhất, việc công nhận, cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa
án nước ngoài sẽ đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của người thi hành bản án thông qua việc đảm bảo khả năng thi hành của bản án, quyết định Đồng thời, giảm thiểu tiền bạc, công sức của các bên khi tránh được việc xét xử cùng một vụ việc 2 lần song kết quả không thay đổi
Thứ hai, trên phương diện chính trị, việc công nhận, cho thi hành bản án,
quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài giúp thúc đẩy và thắt chặt quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia: thể hiện tính độc lập trong chủ quyền của mỗi quốc gia thông qua việc thể hiện quyền tài phán; không những bảo hộ được quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân trong nước mà còn bảo hộ được quyền và lợi ích hợp
Trang 5pháp của các cá nhân, tổ chức nước ngoài; từ đó, khiến các nhà đầu tư nước ngoài an tâm thực hiện đầu phát triển kinh tế trong nước
Hiện nay, trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế thì việc công nhận và thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài đã trở thành một xu thế tất yếu: ngày càng có nhiều tập đoàn đa quốc gia hình thành, đầu tư vào nhiều lĩnh vực kinh tế trọng điểm của nhiều quốc gia, đồng thời, các giao dịch thương mại quốc
tế ngày càng tăng về quy mô lẫn số lượng Điều này đặt ra một thực tế: nếu như một quốc gia cho phép bản án, quyết định của quốc khác tùy ý thực hiện trên lãnh thổ mình, thì họ sẽ mất đi quyền tài phán – chủ quyền quốc gia; còn nếu không cho phép việc thực hiện bản án, quyết định của Tòa án quốc gia khác sẽ tạo nên rào cản cho việc phát triển kinh tế, giao lưu thương mại Bằng việc công nhận và cho thi hành bản án của Tòa án nước ngoài, quốc gia sẽ giải quyết được
tệ đoan đó: có thể không công nhận, không cho thi hành những bản án không phù hợp với luật pháp quốc gia, bảo vệ quyền tài phán, đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế quốc gia phát triển
4 Cơ sở của việc công nhận, cho thi hành bản án, quyết định dân
sự của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam
Ở Việt Nam, việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự và các hiệp định tương trợ tư pháp song phương
a Theo các hiệp định tương trợ tư pháp song phương giữa Việt Nam và các quốc gia khác
Tính đến tháng 7 năm 2017, Việt Nam đã ký 17 Hiệp định và 1 thỏa thuận song phương về tương trợ tư pháp về dân sự3 Hầu hết trong đó đều quy định về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, tập
3 Theo số liệu của Cục lãnh sự, Bộ Ngoại Giao Việt Nam, được đăng tải trên trang web:
https://lanhsuvietnam.gov.vn/Lists/BaiViet/B%C3%A0i%20vi%E1%BA%BFt/DispForm.aspx?List=dc7c7d75-6a32-4215-afeb-47d4bee70eee&ID=414 ngày 20/7/2017
5
Trang 6trung vào các nội dung: phạm vi công nhận và thi hành; điều kiện công nhận và thi hành; nội dung đơn yêu cầu công nhận và thi hành; thủ tục công nhận và thi hành; việc chuyển tiền và tài sản để đảm bảo thi hành quyết định
Đây là cơ sở để Tòa án các quốc gia và Việt Nam xem xét tiếp nhận, gửi đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án Tuy nhiên, cần phải hiểu rằng không phải tất cả mọi trường hợp tất cả các bản án từ các quốc gia đã ký hiệp ước song phương tương trợ tư pháp về dân sự ở Việt Nam đều được công nhận và cho thi hành khi có yêu cầu Các bản án đó phải tuân thủ những quy tắc nhất định theo pháp luật và dựa trên nguyên tắc có đi có lại
b Theo pháp luật Việt Nam
Để đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế, Việt Nam đã gấp rút ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, cập nhật những văn bản đã lỗi thời, không còn phù hợp, và quy định về công nhận, cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài cũng không ngoại lệ Cụ thể: Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi,
bổ sung năm 2014) quy định bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài đã được Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam theo thủ tục thi hành án dân sự; Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 dành hẳn một chương quy định chi tiết về việc công nhận, cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài
Theo đó, tại Điều 423 quy định về phạm vi các bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam:
“Điều 423 Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài được
công nhận và cho thi hành tại Việt Nam
1 Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài sau đây được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam:
Trang 7a) Bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài được quy định tại điều ước quốc tế mà nước
đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
b) Bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chưa cùng là thành viên của điều ước quốc tế có quy định về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại;
c) Bản án, quyết định dân sự khác của Tòa án nước ngoài được pháp luật Việt Nam quy định công nhận và cho thi hành.
2 Quyết định về nhân thân, hôn nhân và gia đình của cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài cũng được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam như bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều này.”
Tuy nhiên, một số bản án sẽ có thể không được công nhận nếu như thuộc một trong những trường hợp được quy định tại Điều 439 Bộ luật Tố tụng dân sự:
“Điều 439 Những bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam
1 Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không đáp ứng được một trong các điều kiện để được công nhận quy định tại điều ước quốc tế
mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
2 Bản án, quyết định dân sự chưa có hiệu lực pháp luật theo quy định của pháp luật của nước có Tòa án đã ra bản án, quyết định đó.
7
Trang 83 Người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của người đó đã vắng mặt tại phiên tòa của Tòa án nước ngoài do không được triệu tập hợp lệ hoặc văn bản của Tòa án nước ngoài không được tống đạt cho họ trong một thời hạn hợp lý theo quy định của pháp luật của nước có Tòa án nước ngoài đó để họ thực hiện quyền tự bảo vệ.
4 Tòa án nước đã ra bản án, quyết định không có thẩm quyền giải quyết
vụ việc dân sự đó theo quy định tại Điều 440 của Bộ luật này.
5 Vụ việc dân sự này đã có bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án Việt Nam hoặc trước khi cơ quan xét xử của nước ngoài thụ lý vụ việc, Tòa án Việt Nam đã thụ lý và đang giải quyết vụ việc hoặc đã có bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước thứ ba đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành.
6 Đã hết thời hiệu thi hành án theo pháp luật của nước có Tòa án đã ra bản án, quyết định dân sự đó hoặc theo pháp luật thi hành án dân sự của Việt Nam.
7 Việc thi hành bản án, quyết định đã bị hủy bỏ hoặc đình chỉ thi hành tại nước có Tòa án đã ra bản án, quyết định đó.
8 Việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”
Các bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài chỉ được thi hành khi đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành Với các quốc gia mà Việt Nam đã ký kết hiệp ước song phương tương trợ tư pháp về dân sự có quy định về công nhận, cho thi hành bản án, quyết định dân sự, những bản án, quyết định dân sự đến từ những quốc gia này sẽ đương nhiên được công nhận khi
Trang 9không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam và không có đơn yêu cầu không công nhận bản án, quyết định Việc không công nhận bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành chỉ đặt ra khi có đơn yêu cầu không công nhận
Thủ tục xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài được quy định chi tiết tại Mục
1 Chương XXXVI Bộ luật Tố tụng dân sự 2015
II Thực tiễn về công nhận và cho thi hành tại bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam
1 Thực tiễn
Trước năm 1993, chưa có một văn bản pháp lý nào quy định về việc công nhận, cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam Ở thời điểm này, Việt Nam cũng chỉ mới ký hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự với một số quốc gia Đông Âu thuộc khối xã hội chủ nghĩa, như: Liên Xô (1981, sau đó được Liên Bang Nga kế thừa), Ba Lan (1993), Tiệp Khắc (1982, được Cộng hòa Czech và Slovakia kế thừa), Bulgaria (1986), Hungary (1985)và riêng Cuba (1984) không thuộc Đông Âu song là nước thuộc khối Xã hội chủ nghĩa Có thế thấy, việc ký kết và thực hiện các hiệp định này mang nhiều màu sắc chính trị hơn, nhằm thắt chặt quan hệ các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa, do đó thiếu vắng sự hợp tác giữa Việt Nam và những quốc gia phương Tây trong lĩnh vực này
Đến ngày 17/4/1993, Pháp lệnh công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài được Ủy ban Thường vị Quốc Hội thông qua Sau đó, ngày 28/7/1995 Chủ tịch nước đã ký quyết định gia nhập Công ước New York 1958 về việc công nhận và thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài Công ước này đã được và Pháp lệnh công nhận và cho thi hành tại
9
Trang 10Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 14/9/1995 cụ thể hóa Trong khoảng thời gian từ 1993 đến năm
2004, hai Pháp lệnh này chính là cơ sở pháp lý để Tòa án Việt Nam xem xét, cho công nhận và thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài; quyết định nước ngoài tại Việt Nam
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 ra đời đã luật hóa những nội dung thuộc hai pháp lệnh kể trên Chúng được quy định tại Phần thứ sáu của Bộ luật tố tụng dân sự 2004: “Thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài” với 31 điều (từ Điều 342 đến Điều 373) quy định một cách chi tiết không chỉ về thủ tục, trình tự xét công nhận và cho thi hành mà cả các quy định mang tính nguyên tắc
cơ bản của việc công nhận và cho thi hành Kể từ đây, các Bộ luật tố tụng dân sự tiếp theo kế thừa và hoàn thiện hơn những quy định về việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài như: Bộ luật Tố tụng dân
sự 2004 sửa đổi, bổ sung 2011 và Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 – bộ luật hiện hành Cũng trong khoảng thời gian này, Luật tương trợ tư pháp năm 2007 ra đời hoàn thiện những quy định về cho công nhận, thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam được quy định trong bộ luật Tố tụng dân sự
Đi đôi với hoàn thiện những văn bản pháp luật, quá trình ký kết những hiệp định song phương tương trợ tư pháp về dân sự cũng được thúc đẩy Tính đến nay, Việt Nam đã ký kết hiệp định tương trợ tư pháp về lĩnh vực dân sự với
184 quốc gia, gồm: Angieri (2010), Ba Lan (1993), Belarus (2000), Bulgari (1986), Kazakhstan (2011), Campuchia (2013), Cuba (1984), Hungary (1985), Indonesia (2013), Lào (1998), Liên Xô (Liên bang Nga kế thừa – 1981), Mông
Cổ (2000), Pháp (1999), Tiệp Khắc (Cộng hòa Czech và Slovakia kế thừa –