Mặt khách quan của tội phạm có những biểu hiện là hành vi khách quan của tội phạm, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, ngoài ra còn có các điều ki
Trang 1MỤC LỤC
Trang
ĐỀ BÀI
BÀI LÀM
1 Hãy phân tích các dấu hiệu mặt khách quan
của tội phạm mà C đã thực hiện?
2 Hãy phân tích lỗi của C trong trường hợp này?
3 Giả sử C là người chưa thành niên thì C có phải chịu
trách nhiệm hình sự về hành vi đã thực hiện không?
2
3
3
4
5
Trang 2Sau khi tìm hiểu hệ thống các câu hỏi trong bài tập cá nhân 2, em xin lựa chọn câu 3 để hoàn thiện bài tập cá nhân của mình
ĐỀ BÀI
Khoảng 19 giờ ngày 07/3/2009, Nguyễn Văn C (SN 1970) cùng Đinh Văn X
và một số người khác ngồi uống rượu tại nhà chị Trần Thị H Trong lúc uống rượu, C và X xảy ra xô xát X tức giận đánh 02 cái vào mặt C Sau đó C và mọi người ra về còn X ngủ lại tại nhà H Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, C quay lại nhà H để yêu cầu X phải xin lỗi Khi đến nhà H, C gọi cửa nhưng H không mở, C liền nhặt 01 đoạn gậy tre dài 70cm, đường kính 04cm rồi đạp cửa xông vào nhà Thấy X đang nằm ngủ trên giường, C dùng gậy đánh vào đầu X, X vùng dậy chạy nhưng C vẫn đuổi theo, tiếp tục dùng gậy đánh vào đầu và người X gây thương tích 8% Ngày 17/4/2009, X làm đơn yêu cầu khởi tố C về việc đã đánh mình gây thương tích C bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích theo
khoản 1 Điều 104 BLHS Hỏi:
1 Hãy phân tích các dấu hiệu mặt khách quan của tội phạm mà C đã thực
hiện?
2 Hãy phân tích lỗi của C trong trường hợp này?
3 Giả sử C là người chưa thành niên thì C có phải chịu trách nhiệm hình sự về
hành vi đã thực hiện không?
Trang 31 Hãy phân tích các dấu hiệu mặt khách quan của tội phạm mà C đã thực hiện?
Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan Mặt khách quan của tội phạm có những biểu hiện là hành vi khách quan của tội phạm, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, ngoài ra còn có các điều kiện bên ngoài của việc thực hiện hành vi phạm tội
+) Hành vi khách quan của tội phạm được hiểu là những “biểu hiện” của con
người ra bên ngoài thế giới khách quan dưới những hình thức cụ thể nhằm đạt những mục đích có chủ định và mong muốn Theo luật hình sự Việt Nam, hành vi khách quan của tội phạm có ba đặc điểm sau:
Hành vi khách quan của tội phạm có tính nguy hiểm cho xã hội
Trong tình huống này có tình tiết “thấy X đang nằm ngủ trên giường, C dùng gậy đánh vào đầu X, X vùng dậy chạy nhưng C vẫn đuổi theo, tiếp tục dùng gậy đánh vào đầu và người X gây thương tích 8%” Hành vi dùng gậy đánh vào đầu và người X của C đã xâm hại đến quan hệ nhân thân được luật hình sự bảo vệ Vì vậy, hành vi trên là hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội
Hành vi khách quan của tội phạm là hoạt động có ý thức và ý chí
Trong tình huống này, có thể thấy hành vi dùng gậy đánh vào đầu và người X của C là hoạt động có ý thức và ý chí Có ý thức vì hành vi trên được ý thức của C kiểm soát Có ý chí vì hành vi trên được ý chí của C điều
Hành vi khách quan của tội phạm là hành vi trái pháp luật hình sự
Hành vi dùng gậy đánh vào đầu và người X của C thỏa mãn đầy đủ những đặc điểm của hành vi khách quan của tội cố ý gây thương tích theo khoản 1 Điều
104 BLHS Do vậy, hành vi của C là hành vi trái pháp luật hình sự
Hành vi của C là hành động (phạm tội) Hành động này là động tác đơn giản (dùng gậy đập vào đầu và người X) xảy ra trong thời gian ngắn và thông qua công
cụ là gậy tre tác động vào X
+) Hậu quả nguy hiểm cho xã hội là thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho
quan hệ xã hội là khách thể bảo vệ của luật hình sự
Trong tình huống này, thiệt hại do hành vi của C gây ra là thiệt hại về thể chất, rõ hơn là hành vi dùng gậy đánh vào đầu và người của C đã gây thương tích 8% cho X
+) Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả nguy
hiểm cho xã hội có thể được hiểu là mối quan hệ giữa các hiện tượng trong đó một hiện tượng được gọi là nguyên nhân (là hành vi khách quan) làm phát sinh một hiện tượng khác là kết quả (là hậu quả của tội phạm)
Trang 4Những căn cứ cho phép khẳng định sự tồn tại quan hệ nhân quả giữa hành vi
và hậu quả đã xảy ra như sau:
Hành vi trái pháp luật phải xảy ra trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội về mặt thời gian
Trong tình huống này, C đánh X, sau đó X bị thương tích 8% Hành vi của C xảy ra trước hậu quả và điểu này là căn cứ đầu tiên cần thiết cho việc kiểm tra sự tồn tại của mối quan hệ nhân quả
Hành vi trái pháp luật độc lập hoặc trong mối liên hệ tổng hợp với một hoặc nhiểu hiện tượng khác phải chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả nguy hiểm cho xã hội
Trong tình huống này, hành vi đánh X của C có khả năng gây thương tích cho X
Hậu quả nguy hiểm đã xảy ra phải đúng là sự hiện thực hóa khả năng thực
tế làm phát sinh hậu quả của hành vi trái pháp luật
Hành vi đánh X của C có khả năng gây thương tích cho X đã xảy ra đúng trên thực tế và X đã bị thương tích 8%
+)Những nội dung biểu hiện khác của mặt khách quan của tội phạm.
Trong trường hợp này:
Công cụ: 1 đoạn gậy tre dài 70 cm, đường kính 04cm
Thời gian: khoảng 21 giờ 30 phút ngày 07/3/2009
2 Hãy phân tích lỗi của C trong trường hợp này?
Ta có thể khẳng định lỗi của C trong trường hợp này là lỗi cố ý trực tiếp Lỗi là thái độ tâm lí của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý Lỗi cố ý trực tiếp là lỗi của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho
xã hội, nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra (Điều 9 BLHS)
Trong trường hợp này, ta đi xét 2 dấu hiệu sau:
Về lí trí: Khi C dùng gậy đập vào đầu và người X thì C biết được hành vi của mình là gây nguy hiểm cho X Và để đánh X thì C đã sử dụng công cụ là gậy tre Đây là tình tiết tạo nên tính tất gây thiệt hại của hành vi Và khi C dùng gậy đập vào đầu và người X thì C dự kiến được hành vi của mình sẽ gây thương tích cho X Thấy trước được X sẽ bị thương tích bởi hành vi của mình là kết quả và là
sự cụ thể hóa sự nhận thức tính chất nguy hiểm cho xã hội về hành vi cố ý gây thương tích của X Mặt khác, C nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình là cơ sở cho việc thấy trước được hậu quả của hành vi do C gây
ra là tình trạng thương tích của X Vậy C nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã
Trang 5hội của hành vi của mình và thấy trước hậu quả của hành vi đó cho nên hành vi của C là cố ý
Về ý chí: Trong trường hợp này, hậu quả X bị thương tích của hành vi phạm tội mà C đã thấy trước hoàn toàn phù hợp với mục đích làm thương X - phù hợp với mong muốn của C Ta có thể khẳng định như vậy vì tình tiết “C dùng gậy đánh vào đầu X, X vùng dậy chạy nhưng C vẫn đuổi theo, tiếp tục dùng gậy đánh vào đầu và người X” Ở đây, hành vi đuổi theo của C đã cho ta thấy được mong muốn
X bị thương tổn của C
Vậy xét về 2 dấu hiệu lí trí và ý chí ta khẳng định lại lỗi của C trong trường hợp này là lỗi cố ý trực tiếp
3 Giả sử C là người chưa thành niên thì C có phải chịu trách nhiệm hình
sự về hành vi đã thực hiện không?
Trong trường hợp C là người chưa thành niên thì ta có có 3 trường hợp cần phân tích
Với trường hợp C đủ 16 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 18 tuổi
Theo khoản 1 Điều 12 BLHS “Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm” Do đó, trong trường hợp này thì C phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đã thực hiện
Với trường hợp C đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi
Theo khoản 2 Điều 12 BLHS “Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”
Theo dữ kiện đề bài, C bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích theo khoản 1 Điều 104 BLHS Theo khoản 1 Điều 104 BLHS, mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội cố ý gây thương tích là 3 năm Và theo khoản 3 Điều 8 BLHS, tội của C là tội ít nghiêm trọng Vậy, trong trường hợp này thì C không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đã thực hiện
Với trường hợp C dưới 14 tuổi
Tuy trong BLHS không quy định đối với người dưới 14 tuổi nhưng ta khẳng định trong trường hợp này thì C không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi
đã thực hiện
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 61 Bộ luật hình sự (sửa đổi,bổ sung năm 2009), Nxb Lao động - Xã hội.
2 Giáo trình luật hình sự Việt Nam, Trường đại học Luật Hà Nội, Nxb Công
an nhâ dân, năm 2007
3 PGS.TS Nguyễn Nọc Hòa, Mô hình luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, năm 2003
4. “Mặt khách quan của tội phạm”,
http://luathoc.cafeluat.com/showthread.php/46154-Mat-khach-quan-cua-toi-pham#ixzz2PvnHFKXn, ngày truy cập 6/4/2013