Nhóm ra rễ trung bình: bao gồm các loài chỉ sử dụng chất kíchthích với nồng độ thấp cũng có thể ra rễ với tỉ lệ cao, nhóm này gồm 65 loài.Tuy vậy, sự phân chia này chỉ có ý nghĩa tương
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
VŨ XUÂN BẮC
“NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT KÍCH THÍCH RA RỄ IAA ĐẾN
SỰ HÌNH THÀNH CÂY HOM NGŨ GIA BÌ (Schefflera octophylla (Lour.)
Harms) TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Lâm nghiệp Khoa : Lâm nghiệp Khóa học : 2014 - 2018
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
VŨ XUÂN BẮC
“NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT KÍCH THÍCH RA RỄ IAA ĐẾN
SỰ HÌNH THÀNH CÂY HOM NGŨ GIA BÌ (Schefflera octophylla (Lour.)
Harms) TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Lâm nghiệp Khoa : Lâm nghiệp Khóa học : 2014 - 2018 Giảng viên hướng dẫn : TS Lê Sỹ Hồng
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thântôi Các số liệu là kết quả nghiên cứu hoàn toàn trung thực, chưa công bốtrên các tài liệu khác, nếu có gì sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Thái Nguyên, ngày 30 tháng 5 năm 2018
XÁC NHẬN CỦA GVHD Người viết cam đoan
TS Lê Sỹ Hồng Vũ Xuân Bắc
XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên
đã sửa chữa sai sót sau khi Hội đồng chấm yêu cầu
(Ký, họ và tên)
Trang 4của thầy giáo TS Lê Sỹ Hồng đã giúp đỡ và hướng dẫn tận tình cho tôi
trong suốt thời gian thực tập để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Cuối cùng tôi xin chân thành bày tỏ sự biết ơn tới gia đình , bạn bè vàngười thân đã quan tâm giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực tập
Trong quá trình nghiên cứu do có những lý do chủ quan và kháchquan nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Tôi rấtmong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn sinhviên để giúp tôi hoàn thành khóa luận được tốt hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 30 tháng 5 năm 2018
Sinh viên thực tập
Vũ Xuân Bắc
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tổng hợp chỉ tiêu nhiệt độ, độ của không khí trong thời
gian thực hiện thí nghiệm tại thành phố Thái Nguyên 22Bảng 3.1: Bảng phân tích phương sai 1 nhân tố ANOVA 29Bảng 4.1: Tỷ lệ sống của hom cây Ngũ gia bì ở các công thức thí nghiệm 30
Bảng 4.2: Các chỉ tiêu ra rễ của hom cây Ngũ gia bì ở các công
thức thí nghiệm 32Bảng 4.3: Các chỉ tiêu ra chồi của hom cây Ngũ gia bì ở các CTTN 38
Trang 6nghiệm 31
Hình 4.2.1: Ảnh ra rễ của hom cây Ngũ gia bì ở các CTTN 33Hình 4.2.2: Biểu đồ biểu diễn tỷ lệ (%) ra rễ của hom cây Ngũ gia
bì ở các công thức thí nghiệm 34Hình 4.2.3: Biểu đồ biểu diễn số rễ trên hom cây Ngũ gia bì ở các CTTN 35
Hình 4.2.4: Biểu đồ biểu thị chiều dài rễ TB/ hom cây Ngũ gia bì ở
các công thức thí nghiệm 36Hình 4.2.5: Biểu đồ biểu thị chỉ số ra rễ của hom cây Ngũ gia bì ở
các công thức thí nghiệm 37Hình 4.3.1: Ảnh ra chồi của hom cây Ngũ gia bì ở các CTTN 39Hình 4.3.2: Biểu đồ biểu diễn tỷ lệ (%) ra chồi của hom cây Ngũ gia
bì ở các công thức thí nghiệm 40Hình 4.3.3: Biểu đồ biểu diễn số chồi trên hom cây Ngũ gia bì ở các
CTTN 41Hình 4.3.4: Biểu đồ biểu thị chiều dài chồi trung bình/ hom cây Ngũ
gia bì ở các công thức thí nghiệm 42Hình 4.3.5: Biểu đồ biểu thị chỉ số ra chồi của hom cây Ngũ gia bì ở
các công thức thí nghiệm 43
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC HÌNH iv
MỤC LỤC v
PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1 1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.4 Ý nghĩa của đề tài 3
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học 4
2.1.1 Cơ sở tế bào học 4
2.1.2 Cơ sở di truyền học 5
2.1.3 Cơ sở phát sinh phát triển cá thể 6
2.1.4 Sự hình thành rễ của hom giâm 6
2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom 7
2.1.6 Những yêu cầu kỹ thuật cơ bản khi giâm hom 14
2.2 Những nghiên cứu trên thế giới 14
2.3 Những nghiên cứu ở Việt Nam 16
2.4 Đặc điểm cây Ngũ gia bì 18
2.5 Tổng quan khu vực nghiên cứu 21
2.5.1 Vị trí địa lý địa hình 21
2.5.2 Đặc điểm khí hậu, thời tiết 22
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 23
Trang 83.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 23
3.3 Nội dung nghiên cứu 23
3.4 Phương pháp nghiên cứu 23
3.4.1 Công tác chuẩn bị giâm hom 25
3.4.2 Thu thập và xử lý số liệu 27
PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 30
4.1 Kết quả về ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích sinh trưởng IAA đến tỷ lệ hom sống của cây Ngũ gia bì 30
4.2 Kết quả ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích IAA đến khả năng ra rễ của hom cây Ngũ gia bì 32
4.2.1 Tỷ lệ ra rễ của hom cây Ngũ gia bì ở các công thức thí nghiệm
34 4.2.2 Số rễ trung bình trên hom cây Ngũ gia bì ở các công thức thí nghiệm 35
4.2.3 Chiều dài rễ trung bình trên hom cây Ngũ gia bì ở các công thức thí nghiệm 36
4.2.4 Chỉ số ra rễ của hom cây Ngũ gia bì ở các công thức thí nghiệm
37 4.3 Kết quả ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích IAA đến khả năng ra chồi của hom cây Ngũ gia bì 38
4.3.1 Tỷ lệ ra chồi của hom cây Ngũ gia bì ở các công thức thí nghiệm
39 4.3.2 Số chồi trung bình trên hom cây Ngũ gia bì ở các công thức thí nghiệm 41
4.3.3 Chiều dài chồi trung bình trên hom cây Ngũ gia bì ở các công thức thí nghiệm 42
4.3.4 Chỉ số ra chồi của hom cây Ngũ gia bì ở các công thức thí nghiệm .43
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
45 5.1 Kết luận 45
5.2 Tồn tại 46
5.3 Kiến nghị 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO
47
Trang 9PHỤ LỤC
Trang 10PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây Ngũ gia bì chân chim hay còn gọi là chân chim bảy lá, chân chim
hoa trắng, đáng, lằng, sâm nam, chân vịt (Schefflera octophylla (Lour.)
Harms), là một loài t h ự c v ậ t có ho a t rong h ọ C u ồn g c uồ n g (Araliaceae) Câymọc hoang và được trồng ở nhiều địa phương tại Việt Nam Loài này được(L.) Frodin mô tả khoa học đầu tiên năm 1990 publ 1991
Loài này có dạng thân gỗ, có kích thước nhỏ đến trung bình, cao tớihơn 10m đến 15m Lá kép chân vịt, gồm 6- 8 lá chét, mọc so le, cuống có bẹdài 8-35 cm Cụm hoa chùm tụ tán, mọc ở kẽ lá hay đầu cành; hoa nhỏ, màutrắng Quả mọng, hình cầu, khi chín màu tím đen, đường kính 3-4mm Hoa
nở từ mùa thu thu đến đầu đông, sau đó là kết trái Đây là loài bán rụng láhoặc thường xanh
Loài này phân bố rộng rãi ở Việt Nam, miền nam Trung Quốc (P h ú cK
i ế n , Q u ả n g Đôn g , u ả n g Q T â y ,Q u ý C h â u , H ồ N a m ,G i a n g T â y ,T â yT
ạ ng ,V â n N a m ,C hi ết G i a n g ), Đài Loan, và Hồng Kông, T h ái L an Ấ nĐ
ộ , l a y siMa a , Nh ật Bản ( k y us h u , q u ầ n đ ảo R y uk y u ) Chúng phân bố ở độcao từ 100m lên đến 2100m
Thành phần hoá học chính Saponin, tinh dầu
Trang 11Loài này có tác dụng kháng virus, chữa cảm lạnh thông thường[ 8 ] đ aulưng, nhức xương, tê bại tay chân, phù thũng Bộ phận dùng là vỏ thân, lá.Ngày dùng 10-20g, dạng thuốc sắc hoặc ngâm rượu
Một loại cây cảnh thông dụng nhưng cực nhiều lợi ích mà không phải
ai cũng biết đó là cây chân chim hay ngũ gia bì Không chỉ làm tươi xanhkhông gian, tạo cảm giác minh mẫn, thư thái cho gia đình mà chân chim còngiúp đuổi bay lũ muỗi đáng ghét khỏi không gian sống của bạn!
Xuất phát từ giá trị nêu trên, nên được nhiều người dân trồng, để đápứng được nguồn giống cây Ngũ gia bì có thể tạo ra bằng phương pháp nhângiống vô tính Giâm hom là một trong những biện pháp nhân giống, tuynhiên trong nhân giống bằng hom có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng
ra rễ của hom giâm Chất IAA là một trong những chất kích thích cho hom
ra rễ trong nhân giống bằng hom, nhưng ở nồng độ bao nhiêu thì phù hợp làmột vấn đề còn bỏ ngỏ
Xuất phát từ vấn đề trên tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ IAA đến sự hình thành cây hom
Ngũ gia bì (Schefflera octophylla (Lour.) Harms), tại trường Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên”.
1.2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài góp phần tạo giống cây con Ngũ gia bì cung cấp cho trồng câyphong cảnh, cải thiện môi trường sống, dược liệu
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định được nồng độ thuốc kích thích ra rễ IAA thích hợp nhất chogiâm hom cây Ngũ gia bì
Trang 121.4 Ý nghĩa của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Là tài liệu trong học tập, cho những nghiên cứu tiếp theo và là cơ sởtrong những đề tài nghiên cứu trong các lĩnh vực có liên quan
- Giúp cho sinh viên áp dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn
- Nắm được phương pháp nghiên cứu
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
- Có được kỹ năng nhân giống cây bằng phương pháp giâm hom
- Áp dụng kết quả nghiên cứu trong nhân giống cây Ngũ gia bì bằngphương pháp giâm hom
Trang 134
Trang 142.1 Cơ sở khoa học
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Nhân giống dinh dưỡng là hình thức nhân giống dựa trên cơ sở củasinh sản sinh dưỡng Cây phân sinh được tạo ra từ một bộ phận của cây mẹbằng hàng loạt quá trình nguyên nhiễm nên có khả năng phát triển thành câymới có đặc điểm di truyền giống cây mẹ
Thực vật có hai hình thức sinh sản chủ yếu là sinh sản vô tính và sinhsản hữu hình Sinh sản hữu hình là hình thức sinh sản trong đó có sự kết hợpgiữa hai giao tử đực và giao tử cái đơn bội để trở thành hợp tử lưỡng bội.Hợp tử phát triển thành cá thể mới Sinh sản vô tính là hình thức sinh sảnkhông qua thụ tinh, có bao gồm sự kết hợp vô tính và các dạng khác củasinh sản dinh dưỡng
Theo nghĩa rộng thì nhân giống sinh dưỡng bao gồm nhân giống bằnghom, chiết cành, ghép cây, nuôi cấy mô phân sinh,…
Nhân giống bằng hom là phương pháp có hệ số nhân giống lớn tươngđối rẻ tiền nên đươc dùng phổ biến trong nhân giống cây rừng, cây cảnh vàcây ăn quả [2]
Nhân giống bằng hom là phương pháp dùng một phần lá, một đoạnthân, một đoạn cành hoặc đoạn rễ để tạo ra cây mới gọi là cây hom, cây hom
có dặc tính di truyền như của cây mẹ Vấn đề quyết định trong giâm hom làlàm cho hom ra rễ, trong công thức thí nghiệm hom ra rễ càng nhiều thínghiệm càng thành công
2.1.1 Cơ sở tế bào học
Dựa vào đơn vị cấu trúc cơ bản của cây rừng, trong đó tế bào là cơ sởquan trọng mang đầy đủ thông tin di truyền cho các quá trình phát triển củathực vật
Trang 15Khả năng hình thành rễ và thân phụ thuộc vào đặc điểm di truyềncủa loài cây, bộ phận của cây lấy làm giống cũng như loài tế bào đãphân hóa của cây.
để chia làm 3 nhóm:
Nhóm dễ ra rễ: bao gồm các loại cây không cần sử dụng chất kíchthích vẫn có tỷ lệ ra rễ cao, nhóm này gồm 29 loài như: Đa, Sung, Tre, Nứa,Dương…
Nhóm khó ra rễ: bao gồm các loài hầu như không ra rễ hoặc là phảidùng chất kích thích ra rễ mà vẫn cho tỉ lệ ra rễ thấp, nhó này gồm 26 loàinhư các chi: Malus sp, Prunus sp Ở nước ta, Bách tán cũng thuộc loài rấtkhó ra rễ
Nhóm ra rễ trung bình: bao gồm các loài chỉ sử dụng chất kíchthích với nồng độ thấp cũng có thể ra rễ với tỉ lệ cao, nhóm này gồm 65 loài.Tuy vậy, sự phân chia này chỉ có ý nghĩa tương đối, vì thế theo khả nănggiâm hom có thể chia thực vật thành 2 nhóm chính là:
Nhóm sinh sản chủ yếu bằng hom, cành: Gồm nhiều loài cây thuộc
họ Dâu tằm, một số loài thuộc họ Liễu, với những loài cây này, khi giâmhom không cần xử lý thuốc hom vẫn ra rễ bình thường
Nhóm sinh sản chủ yếu bằng hạt: khả năng ra rễ của hom giâm bị hạnchế bởi các mức độ khác nhau Những loài cây dễ ra rễ như Thông đỏ, 40-50tuổi vẫn ra rễ 80-90% [3]
Trang 162.1.3 Cơ sở phát sinh phát triển cá thể
Quá trình sinh trưởng và phát triển của cá thể đều do bộ gen và môitrường xung quanh quyết định, môi trường ở đây là môi trường bên ngoài vàmôi trường bên trong ảnh hưởng đến tế bào chất Quá trình phát triển của cáthể được thể hiện qua các giai đoạn: Non trẻ, chuyển tiếp, thành thục, khảnăng ra chồi rễ của các bộ phận là rất khác nhau
Trong sinh sản sinh dưỡng (giâm hom) cũng hay gặp hiện tượngTopophysis (hiện tượng bảo lưu cục bộ) đó là hiện tượng bảo lưu duy trì sựphát triển hình thái và đặc điểm sinh học của bộ phận được lấy làm vật liệugiống trong nhân giống sinh dưỡng, những cây con được tạo ra từ chồi ngọn
sẽ mọc thẳng (hiện tượng này thường gặp ở chi Bách Tán)
2.1.4 Sự hình thành rễ của hom giâm
Rễ bất định là rễ sinh ra ở bất kỳ bộ phận nào của cây ngoài hệ rễ của
nó, rễ bất định có thể sinh ra tự nhiên (Ví dụ: Đa, Si khi ra rễ là mọc từ cành
và đâm dài xuống đất, còn cây Cau, Dừa thì rễ lại mọc ra từ giữa các thân)
Có 2 loại rễ bất định là: Rễ tiềm ẩn và rễ mới sinh, rễ tiềm ẩn là rễ cónguồn gốc tự nhiên trong thân, cành cây nhưng chỉ phát triển khi đoạn thânhoặc cành đó tách rời khỏi cây, còn rễ mới sinh được hình thành khi cắt hom
và là hậu quả của phản ứng với vết cắt, khi hom bị cắt các tế bào sống ở vếtcắt bị tổn thương và các tế bào dẫn truyền của mô gỗ được hở ra và giánđoạn, sau đó quá trình tái sinh xảy ra theo 3 bước: Các tế bào bị thương ởmặt ngoài chết và hình thành một lớp tế bào bị thối trên bề mặt, vết thương
bị bọc một lớp bần, mạch gỗ được đậy lại bằng keo, lớp bảo vệ này giúp chomặt cắt khỏi thoát nước
Các tế bào sống ở ngay dưới lớp bảo vệ đó sẽ bắt đầu phân chia ngaysau khi bị cắt vài ngày và có thể hình thành một lớp mô mềm Các tế bào ởvùng lân cận của tượng tầng mạch và li be bắt đầu hình thành rễ bất định
Trang 17 Cây gỗ có một hoặc nhiều lớp mô gỗ thứ cấp và li be thì rễ bất địnhthường phát sinh ở tế bào nhu mô còn sống của hom bắt nguồn từ li be thứcấp còn non Tuy nhiên, đôi khi rễ bất định cũng phát sinh từ mạch ray,tượng tầng, li be, bì khổng và tủy.
Nói chung, các rễ bất định thường được hình thành bên cạnh và sátngoài lõi trung tâm của mô mạch và ăn sâu trong thân (cành) tới gần ốngmạch sát bên ngoài thượng tầng
Như vậy, việc giâm hom để hình thành bộ rễ mới là quan trọng nhất,sau đó là số lượng rễ trên hom và chiều dài của rễ
2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom
Thời vụ giâm hom
Thời vụ giâm hom là một trong những nhân tố quan trọng nhất ảnhhưởng đến sự ra rễ của hom giâm Tỷ lệ ra rễ của hom giam phụ thuộc vàothời vụ lấy cành và thời vụ giâm hom, một số loài cây có thể giâm homquanh năm, nhưng một số loài thì cần có thời vụ nhất định, mùa mưa là mùagiâm hom có tỉ lệ ra rễ cao nhất của nhiều loài cây, trong khi một số loàikhác lại ra rễ cao nhất vào mùa xuân Hom lấy trong thời kỳ cây mẹ có hoạtđộng sinh trưởng mạnh thường có tỷ lệ ra rễ cao hơn so với các thời kỳ khác.Thay đổi tỉ lệ ra rễ của hom giâm theo thời vụ được cho là do tình trạng dinhdưỡng của hom hoặc do thay đổi là quan hệ các nhân tố nội sinh kích thích
và kìm hãm ra rễ [dẫn từ Tewari, 1993] gắn liền với sự thay đổi trạng thái,hình thái- sinh lý của cành làm thay đổi đến hoạt động của tượng tầng, nơixuất phát của rễ bất định xuất hiện trong quá trình giâm hom
Thời vụ giâm hom đạt kết quả tốt hay xấu thường gắn liền với các yếu
tố cơ bản là diễn biến khí hậu, thời tiết quanh năm, mùa sinh trưởng của cây
và trạng thái sinh lý của cảnh, hầu hết các loài cây đều sinh trưởng mạnhtrong mùa xuân hè (mùa mưa) và sinh trưởng chậm vào thời kỳ cuối thu và
Trang 18mùa đông (mùa khô) Vì thế, thời kỳ giâm hom tốt nhất có tỉ lệ ra rễ caonhất cho nhiều loài cây là các tháng xuân-hè và đầu thu (tức là mùa mưa vàmùa nóng ẩm) Đến nay nhiều tác giả cho rằng cách xác định lịch nhângiống bằng hom là không nên, bởi vì bắt đầu thời kỳ sinh dưỡng nhịp độsinh trưởng và phát triển chồi ở các loài rất khác nhau trong từng năm.
Với cây vùng ôn đới thì thời kì giâm hom tốt nhất là thời kỳ hoa nở
rộ, còn với cây á nhiệt đới ẩm thì thời kỳ giâm hom của nhiều loài khôngtrùng với lúc ra hoa Từ những kết quá đã nghiên cứu, có thể đi đến kết luậnsau: Một số loài có thể giâm hom trong thời kỳ sinh trưởng mạnh của cành,một số khác trong thời kỳ sinh trưởng mạnh của cành, một số khác trongthời kỳ sinh trưởng giảm dần và một số loài sau khi kết thúc sinh trưởngcành, thời kỳ tốt nhất để giâm hom cho mỗi loài ở từng vùng chỉ có thể xácđịnh bằng thực nghiệm Tuy nhiên, ở các nước nhiệt đới nóng ẩm, thời kỳgiâm hom còn phụ thuộc vào thời tiết trong năm Ở nước ta, những thángmùa hè nhiệt độ không khí ngoài trời 35-36 độC, trong lúc đó độ ẩm khôngkhí còn quá thấp, không thuận lợi cho sự ra rễ của hom [13] Nhìn chung,trong điều kiện khí hậu Việt Nam, thời kỳ giâm hom thích hợp nhất là vàocác tháng mùa xuân, mùa hè và mùa thu
Ánh sáng
Ánh sáng đóng vai trò sống còn trong quá trình ra rễ của hom giâm,không có ánh sáng và không có lá thì hom không có hoạt động quang hợp,quá trình trao đổi chất khó xảy ra, do đó không có hoạt động ra rễ, hầu hếtcác loài cây không thể ra rễ trong điều kiện che tối hoàn toàn, bất kể đó lànhóm cây ưa sáng hay chịu bóng Trong điều kiện nhiệt đới, ánh sáng tựnhiên mạnh thường kèm theo nhiệt độ cao nên giảm đáng kể tỉ lệ ra rễ Chấtlượng ánh sáng cũng ảnh hưởng đến tỉ lệ ra rễ của hom.Chất lượng ánh sángcũng ảnh hưởng đến tỉ lệ ra rễ của hom giâm, theo Komisarov, 1964 thì ánh
Trang 19sáng tự nhiên cần thiết cho ra rễ, còn ánh sáng đỏ và ánh sáng xanh làmgiảm tỉ lệ ra rễ của hom giâm ở một số loài cây ưa sáng Tewary (1993) chorằng thời gian chiếu sáng cũng có ảnh hưởng đến tỷ lệ ra rễ của hom giâm.Ánh sáng tán xạ cần thiết cho hom và độ sáng thích hợp khoảng 40-50% ánhsáng toàn phần, ánh sáng đầy đủ thời gian ra rễ ngắn hơn và tỷ lệ ra rễ cũngcao hơn.
Tuy nhiên, các loài yêu cầu ánh sáng cũng khác nhau: cây ưa sáng yêucầu ánh sáng cao hơn cây chịu bóng, trong tối hom của các loài ưa sánghoàn toàn không ra rễ Yêu cầu của ánh sáng còn phụ thuộc vào mức độ hóa
gỗ à chất dự trữ trong hom Hom hóa gỗ yếu, chất dự trữ ít cần cường độánh sáng tán xạ cao so với hom hóa gỗ hoàn toàn Ánh sáng là yêu tố cầnthiết cho hom ra rễ, điều đó lý giải tại sao các nhà kính được sử dụng đểgiâm hom hoăc nhà giâm hom tạm thời thường được lợp bằng các màngPolyetylen trắng trong suốt mà không dùng các vật liệu khác Trong thực tế,ảnh hưởng của ánh sáng đến quá trình ra rễ của hom giâm thường mang tínhtổng hợp theo kiểu phức hệ ánh sáng - nhiệt - ẩm mà không phải nhân tốriêng lẻ Vì thế khi giâm hom phải chú ý đầy đủ đến các yếu tố này
Mặt khác, ánh sáng chỉ tác động đến ra rễ của hom với sự có mặt của
lá cây, hom không có lá thì không có hoạt động ra rễ Hoạt đông ra rễ củanhững hom không có lá cũng chỉ xảy ra sau khi hom đã mọc chồi và ra lámới…
Nhiệt độ không khí và nhiệt độ giá thể
Cùng với ánh sáng nhiệt độ là một trong những nhân tố quyết định tốc
độ ra rê của hom giâm, ở nhiệt độ quá thấp, hom nằm ở trạng thái tiềm ẩn vàkhông ra rễ, còn ở nhiệt độ quá cao lại tăng cường hô hấp và bị nóng, từ đócũng làm giảm tỷ lệ ra rễ của hom
Các loài cây nhiệt đới cần nhiệt độ không khí trong nhà giâm homthích hợp cho ra rễ là 28-330C và nhiệt độ giá thể thích hợp là 25-300C
Trang 20(Longman, 1993) Trong lúc các loài cây vùng lạnh cần nhiệt độ không khítrong nhà giâm hom thích hợp 23-270C, nhiệt độ giá thể thích hợp là 22-
240C (Dansin, 1983) Nói chung, nhiệt độ không khí trong nhà giâm homnên cao hơn nhiệt độ giá thể 2-30C Theo D.A Komixarov thì nhu cầu vềnhiệt cho ra rễ của hom các loài thực vật biến động trong một phạm vi rộng
và phụ thuộc vào đặc điểm sinh thái của chúng Hom ra rễ tốt khi duy trìnhiệt độ môi trường (giá thể ra rễ) cao hơn từ 3-5oC so với nhiệt độ không khí[12]
Độ ẩm không khí và độ ẩm giá thể
Độ ẩm không khí và độ ẩm giá thể là nhân tố hết sức quan trọngtrong quá trình giâm hom Các hoạt động quang hợp, hô hấp, phân chia tếbào và chuyển hóa vật chất trong cây đều cần nước, thiếu nước thì hom bịhéo, nhiều nước quá thì hoạt động của men thủy giải tăng lên, quá trìnhquang hợp bị ngừng trệ, khi giâm hom mỗi loài cây cần một độ ẩm thíchhợp, làm mất độ ẩm của hom từ 15-20% thì hom hoàn toàn mất khả năng ra
rễ Đối với nhiều loài cây, độ ẩm thích hợp cho cá thể cắm hom là 50-70.Yêu cầu độ ẩm không những thay đổi theo loài cây mà còn thay đổi theomức độ hóa gỗ của hom giâm Nhiều loài cây hom hóa gỗ yếu nên yêu cầu
đô ẩm giá thể thấp và độ ẩm không khí cao, trong khi hom nửa hóa gỗ lạiyêu cầu độ ẩm giá thể cao hơn
Mặt khác, theo Dansin (1983) thì cây lá kim không nên có độ ảm giáthể quá lớn, trong khi cây lá rộng cần độ ẩm lớn hơn Trong thực tế, phunsương mù để duy trì độ ẩm cần thiết cho hom, yêu cầu về độ ẩm không khí
và giá thể từng loài cây, từng giai đoạn không giống nhau, tùy thời tiết mà tađiều chỉnh số lần phun sương để đảm bảo độ ẩm nhất định cho hom, cho nênphun sương là yêu cầu bắt buộc khi giâm hom, phun sương vừa làm tăng độẩm vừa làm giảm nhiệt độ không khí, giảm sự bốc hơi nước của lá Độ ẩmkhông khí và giá thể là một yếu tố quan trọng không thể thiếu được cho hom
Trang 21ra rễ Trong quá trình giâm hom, độ ẩm giữ cho hom không bị khô héo vàgiúp cho hom quang hợp, tốt nhất để duy trì độ ẩm không khí là tạo một lớp
mù trong nhà giâm hom, độ ẩm giá thể quá thấp làm cho hom khô, héo látrước lúc ra rễ Song độ ẩm giá thể cao làm cho phần hom cắm trong giá thể
bị thối rữa, nhất là đối với những hom còn non Vì vậy, để duy trì độ ẩmthích hợp cho hom ra rễ cần chon vật liệu phù hợp với từng loài cây
Giá thể cắm hom
Giá thể cắm hom là nơi cắm hom sau khi đã sử lý chất kích thích ra rễ.Giá thể được dùng làm thí nghiệm này là đất vàng trong vườn ươm Một giáthể cắm hom tốt là có độ thoát khí tốt và duy trì được độ ẩm trong thời giandài mà không ứ nước, tạo điều kiện cho rễ phát triển tốt, đồng thời làm sạchkhông bị nhiễm nấm, không có nguồn sâu bệnh, độ pH khoảng 6.0 - 7.0
Hom được cắm trực tiếp trên giá thể là đất vườn ươm, đảm bảo độthoát nước trung bình, không tạo cho giá thể quá khô hoặc quá ướt Đểchống sâu bệnh, giá thể hom đều đã được xử lý quá thuốc diệt nấm: KMnO4
trong vòng 24h trước khi cắm hom
Sử dụng chất điều hòa sinh trưởng
Trong các chất điều hòa sinh trưởng thì auxin được coi là những chấtquan trọng nhất trong quá trình ra rễ của cây hom Song nhiều chất khác tácđộng cùng auxin và thay đổi hoạt tính của auxin cũng tồn tại một cách tựnhiên trong các mô của hom giâm và tác động đến quá trình ra rễ của chúng.Những chất quan trọng nhất là Rhirocalin, đồng nhân tố ra rễ và các chấtkích thích và kìm hãm ra rễ (Tewari,1993)
Rhirocalin: được coi là cần thiết cho hình thành rễ của nhiều loài cây.Builena, 1964 cho rằng: Rhirocalin là một phức chất của 3 nhân tố (1).Nhân tố đặc thù có khả năng chuyển dịch, có nhóm diphenol được sản sinh
từ lá dưới ánh sáng (2) Nhân tố không đặc thù và linh hoạt (auxin) tồn tại ở
Trang 22các nồng độ theo giới hạn sinh lý (3) Các enzym đặc thù có thể ở dạngPhenol - Oxydaza nằm ở trụ bì, Phloem và tượng tầng Phức hợp hai chấtđầu cùng với chất thứ ba tạo thành Rhizocalin phát động ra rễ ở hom giâm.
Chất điều hòa sinh trưởng có vai trò đặc biệt trong quá trình hìnhthành bộ rễ của hom giâm Để cho hom ra rễ thì mỗi loài cây sử dụng mộtloại thuốc với nồng độ và thời gian thích hợp
Auxin tự nhiên: NAA (axit Napthalen-axetic), trong từng trường hợp
cụ thể thì auxin lại có hiệu quả ra rễ khác nhau đối với từng loại cây khácnhau và các loại thuốc khác nhau Thí nghiệm giâm hom cho các loài câyBạch đàn trắng, Mỡ, Sở tại trung tâm nghiên cứu giống cây rừng đã thấyrằng: IBA là chất có hiệu quá ra rễ cao nhất đối với Bạch đàn trắng: 93% ;IAA và 2,4D là chất có hiệu quả ra rễ cao nhất đối với cây Mỡ: 85% ; đốivới cây Sở chất có hiệu quả ra rễ cao nhất là NAA: 75% (Lê Đình Khả,Nguyễn Hoàng Nghĩa, Phạm Văn Tuấn, Đoàn Thị Bích, 1977) [1]
2 tuổi được xử lý bắng thuốc nước IBA nồng độ 75ppm, 100ppm, 150ppmtrong 8h có tỉ lệ ra rễ tương ứng là: 6%, 80%, 87% Lê Đình Khả, 1994[15]
Khi lựa chọn nồng độ chất kích thích ra rễ cần chú ý đến nhiệt độkhông khí và mức độ hóa gỗ của hom Trong quá trình giâm hom khi nhiệt
độ cao cần phải xử lý với nồng độ thấp hơn và ngược lại Hom quá non
Trang 23(chưa hóa gỗ) phải xử lý với nồng độ thấp, ngược lại hom hơi già (gần hóa
gỗ hoàn toàn) phải xử lý với nồng độ cao hơn
Thời gian xử lý thuốc
Cùng một loại thuốc, cùng một nồng độ, nhưng thời gian xử lý khácnhau cũng cho kết quả khác nhau Cần chú ý là giữa thời gian xử lý, nồng độ
và nhiệt độ không khí có mối quan hệ nhất định nên cần phải điều chỉnh saocho thích hợp thì kết quả ra rễ của hom mới được cải thiện, nếu nồng độ chấtkích thích cao, cần xử lý với thời gian ngắn và ngược lại Nếu nhiệt độkhông khí cao cần xử lý với nồng độ thấp và thời gian ngắn hơn
Phương pháp xử lý hom
Thông thường hom được xử lý bằng cách ngâm hom trong dung dịchchất kích thích ra rễ Chất kích thích ra rễ là hỗn hợp chất tan thì phần gốccủa hom được nhúng vào nước và chấm vào thuốc, sao cho thuốc dính vàogốc hom Chất kích thích là dung dịch có nồng độ thấp 20-200ppm phần gốchom được nhúng vào dung dịch 24h, chất kích thích ra rễ ở nồng độ 500-1000ppm, phần gốc của hom được nhúng nhanh trong dung dịch 4-5 giây
Tóm lại, xử lý hom bằng dung dịch có ưu điểm là tăng tỉ lệ ra rễ củahom, nhưng không thích hợp cho sản xuất lớn.Dạng dung dịch thương đượcdùng trong nghiên cứu hoặc các thí nghiệm có lượng hom ít hay loài cây rấtkhó ra rễ
Nhận xét chung
Như vây, để hình thành một bộ rễ mới phải trải qua quá trình rất phứctạp, tổng hợp phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nội sinh, ngoại sinh, sử dụngcác chất điều hòa sinh trưởng (auxin)… Quá trình hình thành rễ phải trảiqua rất nhiều giai đoạn khác nhau, mỗi giai đoạn cần phức hệ nhất định cácđiều kiện hoàn cảnh, có thể nói chọn đúng thời gian giâm hom, cây tuổi mẹlấy hom (ngọn), chọn đúng thuốc xử lý và nồng độ thích hợp, kết hợp với
Trang 24các yếu tố kỹ thuật chăm sóc tốt… thì hom sẽ có tỷ lệ ra rễ cao nhất, chấtlượng bộ rễ tốt nhất Chính vì vậy, nắm chắc cơ sở khoa học của việc nhângiống bằng hom thì hom giâm sẽ đạt tỷ lệ ra rễ cao nhất.
2.1.6 Những yêu cầu kỹ thuật cơ bản khi giâm hom
Vật liệu giâm hom rất nhạy cảm với sự mất nước và dễ bị nấm bệnh.Hom phải ở độ hóa gỗ thích hợp cho từng loài cây và phải được bảo quảntốt Khí giâm hom, yêu cầu: không cắt hom quá già hoặc quá non, hom đãcắt không được để trực tiếp dưới ánh sáng mặt trời Vật liệu giâm homkhông nên để quá xa nơi giâm hom và không nên cất trữ quá một ngày, khivận chuyển phải cất trữ hom trong bình lạnh, và phải giữ đủ ẩm
Hom giâm không ngắn dưới 5cm, song cũng không dài quá 15cm Khicắt hom phải dùng dao sắc để tránh hom không bị dập nát, xây xước Phải
xử lý bằng thuốc chống nấm bệnh trước khi xử lý bằng thuốc kích thích ra
rễ, phải để lại số lá tối thiểu ở phía trên cho hom giâm, phải cắt bớt phiến lá,song phải cắt hết lá ở phần giâm dưới đất Hom giâm phải đặt trong lềunilon để giữ ẩm và giữ nhiệt [8]
Trên lều có mái che để tránh ánh sáng trực xạ và giảm bớt cường độánh sáng Giá thể giâm hom phải được thoát nước tốt và không bị nhiễmnấm bệnh Phải thường xuyên tưới phun sương để giữ ẩm và giữ đủ độ ẩmkhông khí cho hom giâm
Vậy để hom giâm thành công cho bất cứ loài cây nào đều phải kết hợpmột cách đầy đủ và đồng bộ, các biện pháp kỹ thuật cần thiết từ khâu lấyhom, giâm hom và tạo điều kiện cần thiết cho hom ra rễ
2.2 Những nghiên cứu trên thế giới
Để phục vụ cho công tác trồng rừng thì nguồn giống vô cùng quantrọng Ngay từ đầu những năm 1950 đã có hoàng loạt cuốn sách về chọn
Trang 25giống cây rừng đã được xuất bản ở nhiều nước trên thế giới Trong đó, cócuốn “Chọn giống cây rừng đại cương” (1951) của Syrach Larsen, ông đãnghiên cứu và sản xuất được một số cây ưu thế lai về sinh trưởng và có hìnhdáng đẹp và đã lập được sơ đồ bố trí cây trong vườn ươm [3].
Đầu năm 1961, Girdano đã tiến hành thí nghiệm giâm hom Bạch đànE.camalodulensis một năm tuổi, đạt tỷ lệ ra rễ 60% Đến năm 1963 nhànghiên cứu người pháp Franclet đã đưa ra một danh sách gồm 58 loài Bạchđàn đã được thử nghiệm và giâm hom thành công
Năm 1972, Bhatgans thử nghiệm giâm hom cây Tếch (tectonagiandis)trong một công thức thích hợp đã cho tỷ lệ ra rễ của hom giâm là 65,8%.Cũng theo nghiên cứu Bhatgans và Joski ở Ấn Độ năm 1973, giâm homchồi gốc Bạch đàn (Eucaly Plustereti corus) xử lý bằng thuốc IBA nồng độ100ppm cho tỷ lệ ra rễ đạt 60% [7]
Năm 1984, nhà nghiên cứu nổi tiếng người Đức là R.Kleinschmit đãtiến hành nhân giống hom cây Vân sam ở Cộng hòa Liên Bang Đức VàRuden cũng bắt đầu trương trình này tại Nauy Ban đầu họ chỉ tập trung tìmhiểu các kỹ thuật cơ bản và cần thiết cho quá trình giâm hom Và điều đặcbiệt là ông đã tìm ra hom giâm được lấy từ cây mẹ không quá lớn tuổi
Từ đầu thập kỷ 80 đến nay, thì công tác nghiên cứu tạo giống hom câyrừng đã đạt được nhiều thành công lớn như các loài cây lá kim, các loàicây lá rộng
Tại Trung Quốc đã xây dựng được một quy trình công nghệ về sảnxuất cây con bằng mô hom cho hàng loạt cây thân gỗ, cây ăn quả và câycảnh
Ở Malaysia, nhân giống sinh dưỡng các loại cây họ Sao dầu bắt đầu từnhững năm 1970, hầu hết các nghiên cứu được tiến hành ở Viện nghiên cứuLâm nghiệp Malaysia [16], ở trường Đại học Tổng hợp Pertanian, Trung
Trang 26tâm nghiên cứu Lâm nghiệp ở Sepilok, cũng đã báo cáo các công trình cógiá trị về nhân giông sinh dưỡng cây họ Dầu Tuy nhiên, tỷ lệ ra rễ của cáccây họ Dầu còn chưa cao, sau khi thay đổi các phương tiện nhân giống như:các biện pháp vệ sinh tốt hơn, che bóng hiệu quả hơn, phun xương mù, kỹthuật trẻ hóa cây mẹ, thì tỷ lệ ra rễ được cải thiện (ví dụ: Hopea odorta có
tỷ lệ ra rễ là 86% [17], Shorea Leprosula 71%, Shorea Parvifolia 70%,
Ở Đông Nam Á những năm gần đây, việc nghiên cứu và sản xuất câyhom đã được tiến hành ở nhiều nước Trung tâm giống cây trồng rừngAsean- Canada (ACFTSC) đã tổ chức nghiên cứu giống hom từ những năm
1988 Là nơi có cơ sở hạ tầng tốt nhất, thích hợp nhất cho công tác giâm hom
và thu được nhiều kết quả đối với loài cây họ Đậu
Ở Thái Lan, Trung tâm Giống cây rừng Asean – Canada [14] đã cónhững nghiên cứu nhân giống bằng hom từ năm 1988, nhân giống với các hệthống phun sương mù tự động không liên tục được xây dựng tại các chinhánh vườn ươm của Trung tâm, đã thu được nhiều kết quả đối với các loàicây họ Dầu, với 1 ha vườn giống Sao đen 5 tuổicó thể sản xuất 200.000 câyhom, đủ trồng 455 đến 500 ha rừng [18]
Ở Indonesia, các nghiên cứu giâm hom cây họ Dầu được tiến hành tạitrạm nghiên cứu cây họ Dầu Wanariset đã áp dụng phương pháp nhân giống
mới “Tắm bong bóng” [19], sử dụng phương pháp này thu được tỷ lệ ra rễ
90-100% với các loài Shorea Leprosula,
2.3 Những nghiên cứu ở Việt Nam
Từ lâu trong sản xuất Nông-Lâm nghiệp, người dân Việt Nam đã biết
sử dụng các phương pháp nhân giống sinh dưỡng như chiết, ghép các loàicây ăn quả, cây cảnh Người nông dân đã biết trồng cây bằng hom cho cácloài Tre, Trúc , Sắn , Mía , song với loài cây rừng nhân giống bằng hommới được chú ý từ những năm 1979 trở lại đây [6]
Trang 27Lần đầu tiên vào năm 1976, những thực nghiệm về nhân giống homvới một số loài Thông và Bạch đàn được tiến hành tại trung tâm nghiên cứucây có sợi Phù Ninh- Phú Thọ Đây là nghiên cứu rất sơ khai, song đã mởđầu cho các nghiên cứu thực nghiệm tiếp sau này ở Việt Nam [8]
Những năm 1983-1984, các thực nghiệm về nhân giống bằng homđược tiến hành tại Viện Lâm nghiệp (nay là Viện Khoa học Lâm nghiệp ViệtNam), đối tượng nghiên cứ là loài Mỡ, Lát hoa, Bạch đàn (Nguyễn NgọcTân, 1983; Phạm Văn Tuấn, 1984), nội dung nghiên cứ tập trung vào đặcđiểm cấu tạo giải phẫu của hom, ảnh hưởng nhiệt độ, độ ẩm môi trường, và
xử lý các chất kích thích ra rễ đến tỷ lệ sống và ra rễ của hom giâm
Trong những năm 1990 trở lại đây, Lê Đình Khả và cộng sự đã nghiêncứu giâm hom cho Keo lá tràm, Keo tai tượng,…[10] đã đạt kết quả, các thínghiệm về loại nhà giâm hom, môi trường cắm hom, thời vụ và phươngpháp xử lý chồi cũng được thực hiện Từ kết quả của nghiên cứu này đã xâydựng được các hướng dẫn kỹ thuật nhân giống bằng hom, phục vụ cho cácchương trình trồng rừng Ngoài ra, một số loài cây quý hiếm như Thông đỏ,Bách xanh cũng được nghiên cứu và đạt kết quả
Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng (Viện Khoa học Lâm nghiệpViệt Nam) sau một thời gian nghiên cứu thực nghiệm đã thành công trongviệc sản xuất hom cây Bạch đàn trắng và Keo lai theo kế hoạch được BộNông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt trong 3 năm 1996- 1998, đểphục vụ chương trình trồng thí điểm Keo lai ở vùng sinh thái chính trong cảnước [11]
Nhân giống cây Tràm bông đỏ bằng hom dưới ảnh hưởng của chấtkích thích NAA (axit Napthalen- axetic) với 4 nồng độ (300ppm,
Trang 28450ppm,600ppm,750ppm), kết quả tỷ lệ ra rễ tương ứng là (27,8%; 33,3%;26,7%; 15,6%) [5].
2.4 Đặc điểm cây Ngũ gia bì
Cây Ngũ gia bì, cây Đáng, chân chim (Schefflera Octophylla (Lour.)
Harms), thuộc họ Ngũ Gia Bì (Araliaceae), Bộ Hoa Tán (Apiales)
Mô tả: Cây nhỡ cao 5-10m hay cây to cao đến 15m, có ruột xốp Vỏ
cây màu xám, cành nhỏ có lỗ bì Lá mọc so le, có cuống dài, kép chân vịt,thường có 8 lá chét mép nguyên, hình bầu dục nhọn hai đầu, hơi thon hẹphoặc tròn ở gốc, dài 7-17cm, rộng 3-6cm Hoa nhỏ, màu trắng, tụ họp thànhchuỳ hoặc chùm tán ở đầu cành; trên cuống phụ của cụm hoa, đôi khi cónhững bông hoa đứng riêng lẻ Quả mọng, hình cầu, đường kính 3-4mm, khichín màu tím đen, chứa 6-8 hạt Toàn cây có mùi thơm đặc biệt
Hoa tháng 2-3, quả tháng 4-5
Ý nghĩa và phong thủy cây Ngũ gia bì
Phong thủy: Cây Ngũ gia bì có ý nghĩa đem đến sự tự nhiên, hòa
thuận cho gia đình
Ý nghĩa: Với lá xanh quanh năm Cây ngũ gia bì có khả năng hút bụi,lọc được phần lớn các chất gây ô nhiễm trong môi trường sống và đặc biệt
có công dụng đuổi muỗi tự nhiên rất tốt Với mùi hương thoảng nhẹ của lákhông gây khó chịu cho con người nhưng làm bọn muỗi tránh xa
Tặng nhau Ngũ gia bì là mong muốn gắn kết tình thân.Màu sắc vàhình dáng đẹp của cây giúp cho không gian của bạn thêm tươi tắn tạo cảmgiác minh mẫn, thư thái cho người trồng
Trang 29Vị trí trồng và Lợi ích Cây Ngũ gia bì
Trang 30Cây Ngũ gia bì có bộ rễ đẹp, cây phát triển nhanh, dễ trồng, chịu đượckhắc nghiệt tốt
Cây ngũ gia bì có bộ rễ đẹp, dễ trồng, dễ uốn được trồng chậu trang trínội thất trưng ở nhiều nơi: cửa sổ, góc nhà, phòng khách, phòng ăn, hànhlang, ban công, trước cửa nhà, phòng ngủ, … mang đến vẻ đẹp tươi xanh và
sự sinh động, gần gũi
Chậu cây lớn, dáng thế đẹp còn được trưng ở đại sảnh cơ quan, nhàhàng, khách sạn…những nơi đông người qua lại, đem đến không gian tronglành, dễ chịu, xua đuổi côn trùng
Lá cây Ngũ gia bì còn được dùng để cắm hoa
Rễ và phần cũ của cây Ngũ gia bì xanh còn được điều chế làm vịthuốc Nam phục vụ chữa trị một số bệnh
Ngũ gia bì còn được trồng trước cửa nhà, sân vườn ngoại thất, hoặclàm hàng rào xanh ở làng quê, làm cây đô thị…
Cây Ngũ gia bì nhánh nhỏ, được tạo hình ngộ nghĩnh làm cây để bàn Ngâm ngũ gia bì với rượu để chữa bệnh đau khớp, phong thấp, tụ máu,hoặc các chứng bệnh liên quan đến xương khớp
Đặc điểm nổi bật cây Ngũ gia bì
Vò nát lá có hương thơm nhẹ, cảm giác dễ chịu, xua đuổi được côntrùng đặc biệt là muỗi Cây không chỉ có lá đẹp mà bộ rễ cây nổi trên mặtđất nếu khéo cắt tỉa, uốn nắn tạo cây có dáng thế đẹp
Cách trồng chăm sóc cây chân chim trong nhà: Cây ngũ gia bì
khỏe mạnh, sống bền bỉ, dẻo dai, dễ trồng và chăm sóc, chịu được bóng, lại
có tác dụng đuổi muỗi nên được trồng trong nhà Khi chăm sóc cây chânchim trong nhà chúng ta cần chú ý như sau:
Ánh sáng: khi trồng trong nhà vị trí quá tối hoặc đóng cửa thườngxuyên sẽ làm lá bị rầy nâu trên ngọn hoặc rụng lá Nên cần trồng nơi có ánh
Trang 31sáng chiếu vào tối thiểu 3-4 tiếng/ ngày ở các vị trí gần cửa sổ, cửa kínhhoặc giếng trời, gần lối ra vào…Bệnh rầy thì xử lý bằng cách tiêu hủy, phunthuốc để tránh lây lan.
Nhiệt độ: chân chim thích nghi với biên độ nhiệt lớn, trồng tốt trongmôi trường điều hòa, cây chịu được nóng và lạnh Nhiệt độ sinh trưởng thíchhợp là 20°C - 30°C, nhiệt độ xuống dưới 50 C làm cây bị rụng lá
Đất trồng ngũ gia bì trong nhà là loại đất thịt trộn thêm đất mùn, thanbùn, giàu dinh dưỡng,tốt nhất là đất chua và phì nhiêu
Tưới nước: cây chân chim chịu hạn tốt, chịu úng kém hơn nên khitrồng trong nhà không nên tưới nhiều, chỉ khi thấy đất trên mặt chậu chuyểnmàu khô trắng thì mới cần tưới 1 tuần tưới khoảng 2 lần với lượng nước500-1000 ml tùy vào điều kiện thời tiết Khoảng 1 tháng cho cây ra ngoàitrời để quang hợp 2-4 tiếng, phục hồi màu sắc tươi tắn của lá
Bệnh thường gặp của ngũ gia bì là rầy: phá hoại lá non và lây lan làmcây phát triển chậm, mất thẩm mỹ Để phòng bệnh nên trưng cây nơi cao ráothoáng mát, kiểm tra cây tránh lây lan Khi cây ra lá non không nên bónphân vô cơ, trừ rầy bằng thuốc Diazan
Nhân giống cây chân chim dễ dàng bằng cách giâm cành
Nếu bạn muốn trồng một cây xanh trong nhà vừa đẹp, lọc không khítốt, lại không phải trừ muỗi thì ngũ gia bì chính là lựa chọn tuyệt vời [21]
2.5 Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.5.1 Vị trí địa lý địa hình
Địa điểm nghiên cứu: đề tài tại vườn ươm trong mô hình khoa LâmNghiệp, trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
Vị trí địa lý: Vườn ươm khoa Lâm nghiệp thuộc trường Đại học Nông
lâm Thái Nguyên Nằm cách thành phố Thái Nguyên khoảng 3 km về phíaTây Căn cứ vào bản đồ Thành phố Thái Nguyên thì xác định được vị trí nhưsau:
Trang 32Phía Bắc giáp với phường Quan Triều
Phía Nam giáp với phường Thịnh Đán
Phía Tây giáp xã Phúc Hà
Phía Đông giáp khu dân cư và khu kí túc xá thuộc trường Đại họcNông lâm Thái Nguyên
2.5.2 Đặc điểm khí hậu, thời tiết
Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nằm trong khu vực thànhphố Thái Nguyên nên mang đầy đủ đặc điểm thời tiết, khí hậu của thành phốThái Nguyên Khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa rõ rệt mùa nóng ẩm vàmùa khô lạnh
Nhiệt độ trung bình năm khoảng 22- 250C, chênh lệch giữa ngày vàđêm khoảng 2 - 50C, nhiệt độ cao tuyệt đối là 390C, nhiệt độ thấp tuyệt đối là
30C
Lượng mưa trung bình từ 1500-2000mm, độ ẩm không khí trung bình82%, mùa mưa khoảng 86%, mùa khô khoảng 70%
Bảng 2.1: Tổng hợp chỉ tiêu nhiệt độ, độ của không khí trong thời gian
thực hiện thí nghiệm tại thành phố Thái Nguyên N
1
8 Đ
6
Trang 33PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hom cây Ngũ gia bì ở trạng tháinửa hóa gỗ
- Phạm vi nghiên cứu: Thử nghiệm ở các nồng độ thuốc IAA: 100ppm,300ppm, 500ppm, 700ppm, 900ppm
3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu bắt đầu từ tháng 1/2018 và kết thúc vào tháng4/2018
Địa điểm nghiên cứu: trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên - xãQuyết Thắng - Thành phố Thái Nguyên - Tỉnh Thái Nguyên
3.3 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được những mục tiêu đã đề ra, đề tài tiến hành nghiên cứu nộidung sau:
- Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ thuốc IAA đến tỷ lệ sống củahom cây Ngũ gia bì ở các định kỳ theo dõi
- Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ thuốc IAA đến khả năng ra rễcủa hom cây Ngũ gia bì: Số hom ra rễ, số rễ/hom, chiều dài của rễ
- Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ thuốc IAA đến khả năng ra chồicủa hom cây Ngũ gia bì: Số hom ra chồi, số chồi/ hom, chiều dài của chồi
3.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp kế thừa và chọn lọc: Kế thừa những tài liệu có sẵn vềđịa điểm nghiên cứu (điều kiện tự nhiên, ….), một số đặc điểm nghiên cứu
và phương pháp nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Trang 34- Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm: Kết quả nghiên cứu được sửdụng toán thống kê trong lâm nghiệp để kiểm tra kết quả.
Bố trí thí nghiệm: Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ thuốc kích
thích ra rễ IAA đến khả năng ra rễ của hom cây Ngũ gia bì
Thí nghiệm được thực hiện từ tháng 1/2018
- Thí nghiệm với IAA được thực hiện với 6 công thức, 3 lần nhắc lại,
Công thức 6: Không xử lý thuốc (Đối chứng)
Các công thức trong thí nghiệm đồng đều về các điều kiện thí nghiệmkhác nhau về nồng độ thuốc
Thí nghiệm bố trí theo khối ngẫu nhiên: