1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu sinh trưởng của cây giảo cổ lam 7 lá tại xã công bằng huyện pắc nặm tỉnh bắc kạn

56 84 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 2,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Cây Giảo cổ lam GCL hiện có nhu cầu sử dụng rất lớn trong nước,nhất là đối với những người cao tuổi, cao huyết áp, nhiễm mỡ máu…, giảo cổlam nay được lưu hành v

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-QUÁCH THỊ HOA

NGHIÊN CỨU SINH TRƯỞNG CỦA CÂY GIẢO CỔ LAM

7 LÁ TẠI XÃ CÔNG BẰNG, HUYỆN PẮC NẶM,

TỈNH BẮC KẠN

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy

Chuyên ngành : Lâm nghiệp

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-QUÁCH THỊ HOA

NGHIÊN CỨU SINH TRƯỞNG CỦA CÂY GIẢO CỔ LAM

7 LÁ TẠI XÃ CÔNG BẰNG, HUYỆN PẮC NẶM,

TỈNH BẮC KẠN

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy

Chuyên ngành : Lâm nghiệp

Lớp : K46 LN

Khoa : Lâm nghiệp

Khóa học : 2014 – 2018

Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Công Hoan

Thái Nguyên – Năm 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thântôi, các số liệu và kết quả thực hiện trình bày trong khóa luận là quá trìnhtheo dõi, điều tra tại cơ sở thực tập hoàn toàn trung thực, khách quan

Thái Nguyên,tháng 05 năm 2018

Xác nhận của giáo viên hướng dẫn Người viết cam đoan

TS Nguyễn Công Hoan Quách Thị Hoa

Xác nhận của giáo viên chấm phản biện

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Thực tập tốt nghiệp là nội dung rất quan trọng đối với mỗi sinh viêntrước lúc ra trường Giai đoạn này vừa giúp sinh viên kiểm tra, hệ thống lạinhững kiến thức lý thuyết đã được học trước đó

Để đạt được mục tiêu đó, được sự nhất trí của ban chủ nhiệm khoa LâmNghiệp trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên tôi tiến hành thực tập tốt

nghiệp với đề tài: “Nghiên cứu sinh trưởng của cây giảo cổ lam 7 lá tại xã Công Bằng, huyện Pắc Nặm, tỉnh Bắc Kạn”.

Để hoàn thành khóa luận này tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình củađội sản xuất tại xã Công Bằng, các thầy cô giáo trong và ngoài khoa LâmNghiệp, đặc biết là sự hướng dẫn chỉ bảo tận tình của thầy giáo hướng dẫn:

TS Nguyễn Công Hoan đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm đề tài.

Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô trong

khoa Lâm Nghiệp, gia đình, bạn bè đặc biệt là thầy giáo TS Nguyễn Công Hoan đã giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này.

Trong suốt quá trình thực tập, mặc dù đã rất cố gắng để hoàn thành tốtbản khóa luận, nhưng vì do thời gian và kiến thức bản thân còn hạn chế Vìvậy bản khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót Vậy tôi rất mongđược sự giúp đỡ, góp ý chân thành của thầy cô giáo và toàn thể các bạn bè đểkhóa luận tốt nghiệp của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2018

Sinh viên Quách Thị Hoa

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1 Ảnh hưởng của phương thức trồng và mật độ đến tỷ lệ sống của cây 24 Bảng 4.2.Động thái tăng trưởng chiều dài thân chính của cây Giảo cổ lam 7 lá tại khu vực nghiên cứu 27 Bảng 4.3.Động thái tăng trưởng số lá/thân chính của cây Giảo cổ lam 7 lá tại khu vực nghiên cứu 29 Bảng 4.4 Ảnh hưởng của phương thức trồng và mật độ đến năng suất của cây Giảo

cổ lam 7 lá tại khu vực nghiên cứu 31

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Cấu trúc hóa học của Flavononit và Saponin 11Hình 2.2 Sơ đồ thí nghiệm 21Hình 4.1 Ảnh hưởng của phương thức trồng và mật độ

đến tỷ lệ sống của cây Giảo cổ lam 7 lá tại khu vực nghiên cứu 25Hình 4.2.Biểu đồ ảnh hưởng của phương thức trồng và mật độ

đến năng suất của cây Giảo cổ lam 7 lá tại khu vực nghiên cứu 32

Trang 7

NST : Ngày sau trồng

Trang 8

MỤC LỤC

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2.Mục tiêu nghiên cứu 3

1.3.Ý nghĩa của đề tài 3

PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

2.1.Cơ sở khoa học 4

2.2 Tình hình nghiên cứu về dược liệu 4

2.2.1 Trên Thế giới 4

2.2.2 Ở Việt Nam 8

2.3 Tình hình nghiên cứu về chi Gynostemma 11

2.4 Tình hình nghiên cứu cây Giảo cổ lam 13

2.4.1 Tính vị của Giảo cổ lam 13

2.4.2 Công dụng của cây Giảo cổ lam 14

2.5 Tổng quan khu vực nghiên cứu 16

2.5.1 Điều kiện tự nhiên 16

2.5.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 17

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG,NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

3.1.Đối tượng nghiên cứu của đề tài 19

3.2.Địa điểm và thời gian nghiên cứu 19

3.3 Nội dung nghiên cứu 19

3.4 Phương pháp nghiên cứu 19

3.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu 19

3.4.2 Phương pháp nghiên cứu 20

3.4.3.Biện pháp kỹ thuật: 21

3.4.4 Các chỉ tiêu theo dõi ngoài hiện trường 22

3.4.5 Phương pháp xử lý số liệu 23

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24

4.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của phương thức trồng và mật độ đến sinh trưởng và năng suất của cây Giảo cổ lam 7 lá chét 24

Trang 9

4.1.1 Ảnh hưởng của phương thức trồng và mật độ đến tỷ lệ sống của cây Giảo cổ

lam 7 lá tại khu vực nghiên cứu 24

4.1.2 Ảnh hưởng phương thức trồng và mật độ đến động thái tăng trưởng chiềudài thân chính của giống Giảo cổ lam 7 lá chét tại khu vực nghiên cứu 26

4.1.3 Ảnh hưởng phương thức trồng và mật độg đến động thái tăng trưởng số lá/thân chính của cây Giảo cổ lam 7 lá tại khu vực nghiên cứu 28

4.1.4 Ảnh hưởng phương thức trồng và mật độ đến năng suất của cây Giảo cổ lam 7 lá tại khu vực nghiên cứu 30

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 34

5.1 Kết luận 34

5.2 Kiến nghị 35

TÀI LIỆU THAM KHẢO 35

Trang 10

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Cây Giảo cổ lam (GCL) hiện có nhu cầu sử dụng rất lớn trong nước,nhất là đối với những người cao tuổi, cao huyết áp, nhiễm mỡ máu…, giảo cổlam nay được lưu hành và sử dụng rộng rãi, phổ biến ở Việt Nam, bởi tínhnăng và tác dụng tuyệt vời của nó, do vậy được người sử dụng hết sức quantâm, nhiều công ty trong và ngoài nước chú trọng bào chế và sản xuất ra nhiềudạng thuốc mới Tuy nhiên nguồn nguyên liệu chủ yếu hiện nay do người dân

tự thu hái tự nhiên trong rừng, tự tổ chức thu gom, mua bán, và đã có sự nhầmlẫm với nhiều loài cây khác trong khi cung cấp nguyên liệu cho các công tysản xuất thuốc, xẩy ra tình trạng dược liệu giả, kém phẩm chất và đã được báochí truyền thông trong nước lên tiến báo động Tình trạng thu hái bừa bãi đãlàm cho nguồn dược liệu GCL hoang dại có nguy cơ cạn kiệt

Bắc Kạn được đánh giá là tỉnh miền núi phía Bắc có nguồn dược liệu tựnhiên, phong phú, đa dạng về chủng loại và công dụng làm thuốc Đất đai vàkhí hậu phù hợp với nhiều loại cây trồng trong đó có nhiều cây thuốc quý.Vườn quốc gia Ba Bể thuộc tỉnh Bắc Kạn là 1 trong tổng số 30 vườn quốc gianằm trong vùng dược liệu tự nhiên phải bảo tồn Tỉnh Bắc Kạn cùng với tỉnhQuảng Ninh, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Lào Cai, Bắc Giang và mộtphần của Thái Nguyên là những tỉnh nằm trong phạm vi qui hoạch dược liệucủa cả nước Phát triển dược liệu trở thành một trong những mục tiêu chiếnlược của Đảng và Nhà nước ta, đã được cụ thể hóa trong các văn bản và quyếtđịnh như: Quyết định số 1976/QĐ-TTg ngày 30/10/2013 của Thủ tướngChính phủ phê duyệt qui hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 vàđịnh hướng đến năm 2030; Quyết định số 45/QĐ-TTg ngày 08/04/2014 của

Trang 11

Thủ tướng Chính phủ về quy hoạch tổng thể bảo tồn đa dạng sinh học của cảnước đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030; Thông báo số 164/TB-VPCP ngày 16/06/2010 của Văn phòng Chính phủ thông báo ý kiến kết luậncủa Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân tại Hội nghị phát triển dược liệu vàsản phẩm thuốc quốc gia năm 2010…

Tuy nhiên, thực tế cho thấy nguồn tài nguyên dược liệu tự nhiên đangngày một cạn kiệt, nhiều loài đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng, cây dượcliệu nuôi trồng đang bị thu hẹp hoặc phát triển một cách tự phát Kết quả khảosát sơ bộ cho thấy, tại tỉnh Bắc Kạn có nhiều bài thuốc dân gian có giá trịchữa bệnh, có nhiều vị thuốc, cây thuốc đang bị khai thác quá mức như láthuốc trong bài thuốc tắm, thuốc ngâm chân của người dân tộc Dao… Nguyênnhân của thực trạng này là do người dân khai thác và sử dụng không hợp lýnguồn dược liệu, cơ quan chức năng chưa quan tâm đến việc bảo tồn, nuôitrồng, chưa quản lý được vùng dược liệu, chưa có sự tham gia của doanhnghiệp trong chuỗi gia tăng giá trị sản phẩm từ dược liệu, thị trường dược liệukhông ổn định…

Cây Giảo cổ lam bản địa mọc tự nhiên nhiều ở các huyện Chợ Đồn, Ba

Bể, Pắc Nặm… Tại huyện chợ Đồn, chợ Mới có một số hộ gia đình thu muacủa người dân đi khai thác trong tự nhiên, một số hộ gia đình đã thực hiện sơchế và bào chế cây Giảo cổ lam và bán dưới dạng cân khô Năng suất khảo sát

sơ bộ cho thấy, tại Bắc Kạn có thể đạt sản lượng 1-1,5 tấn nguyên liệukhô/1ha (tương đương 100-150 kg cao lỏng/1ha)

Huyện Pắc Nặm được coi như là vùng “khởi tổ” phân bố của cây Giảo

cổ lam trong tự nhiên của tỉnh Băc Kạn Giảo cổ lam mọc tự nhiên trongrừng, ở các vách núi đá nơi có độ ẩm cao, được người dân khai thác thu háiđem về phơi khô sử dụng hoặc bán ra thị trường Thực tế cho thấy cây GCLchưa được người dân địa phương quan tâm đưa vào khai thác như là một cây

Trang 12

trồng Việc khai thác nguồn GCL trong rừng mà ít quan tâm bảo tồn, phát triểnlàm cho nguồn dược liệu GCL trong tự nhiên có nguy cơ cạn kiệt.Tại đây,cũng chưa có nghiên cứu sâu về phân bón và mật độ trồng cho cây GCL để cóthể ứng dụng vào trồng thâm canh cây GCL.Do vậy, để có cơ sở khoa họcphát triển và nâng cao hiểu quả khai thác Giảo cổ lam thành cây hàng hóa,nâng cao thu nhập cho người dân, đồng thời bảo tồn cây dược liệu quý đang

ngày càng cạn kiệt trong tự nhiên, chúng tôi đề xuất thực hiện đề tài: “Nghiên cứu sinh trưởng của cây Giảo cổ lam (Gynostemma pubescens) tại xã Công Bằng, huyện Pắc Nặm, tỉnh Bắc Kạn”là cần thiết, có ý nghĩa cả khoa học và

thực tiễn sản xuất

1.2.Mục tiêu nghiên cứu

Xác định được sự sinh trưởng của cây Giảo cổ lam 7 lá tại xã CôngBằng,Huyện Pắc Nặm,Tỉnh Bắc Kạn,làm cơ sở khoa học cho công tác pháttriển và nhân rộng tại khu vực nghiên cứu

+ Xác định phương thức trồng của cây Giảo cổ lam 7 lá

+ Xác định mật độ trồng Giảo cổ lam 7 lá

1.3.Ý nghĩa của đề tài

* Ý nghĩa khoa học

+ Vận dụng kiến thức đã học làm quen với thực tế

+ Tích lũy những kinh nghiệm cho công việc khi đi làm

+ Nâng cao kiến thức thực tế

+ Rèn luyện về kỹ năng tổng hợp và phân tích số liệu, tiếp thu và họchỏi những kinh nghiệm từ thực tế

* Ý nghĩa thực tiễn

+ Xác định được sự sinh trưởng của cây giảo cổ lam

+ Số liệu thu thập phải khách quan, trung thực và chínhxác

+ Đề xuất một số giải pháp kiến nghị phải có tính khả thi, thực tế phùhợp với điều kiện của địa phương

+ Nâng cao kiến thức thực tế của bản thân phục vụ cho công tác sau khi

Trang 13

4

Trang 14

ra trường.

PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1.Cơ sở khoa học

Cây Giảo cổ lam là cây dược liệu quý, có giá trị trị kinh tế cao đượcTrung Tâm Nghiên cứu và chế biến dược liệu Hà Nội xây dựng các quytrình kỹ thuật nhân giống, trồng phục vụ lợi ích của con người trong việc sửdụng cũng như xuất khẩu

Việc xây dựng các quy trình chỉ mới áp dụng trong Viện và các Trungtâm vệ tinh mà chưa phổ biến rộng rãi trong nhân dân Các quy trình chưa cụthể cho các vùng miền

Trong những năm gần đây Xã Công Bằng,Huyện Pắc Nặm,Tỉnh BắcKạn ưu tiên tập trung phát triển các loại cây dược liệu trong đó có cây Giảo

cổ lam

Các khu vực trồng trong Tỉnh có năng suất và chất lượng khác nhau vìchưa có hướng dẫn cũng như định hướng của các cơ quan hữu quan, chính vìthế mà giá cả bấp bênh, tư thương ép giá

Nhiều khu dân cư tự phát trồng Giảo cổ lam với diện tích lớn trên cácloại đất có thể cắm được giống xuống, đến chu kỳ thu hoạch nhiều hộ dân bộithu, bên cạnh đó nhiều hộ gần như mất trắng Tìm hiểu nguyên nhân chúngtôi thấy nhiều hộ trồng theo phong trào không nắm được sự sinh trưởng thì lỗvốn, nhiều hộ do may mắn trồng cây trong khu vực thuận lợi cho cây pháttriển thì có lãi

2.2 Tình hình nghiên cứu về dược liệu

2.2.1 Trên Thế giới

Trang 15

Từ ngàn xưa, trong quá trình hái lượm các loại cây cỏ để làm thức ăn,con người đã phát hiện ra những cây cỏ có độc thì tránh, những cây cỏ ăn đượcthì sử dụng làm lương thực, thực phẩm; những loại cây cỏ ăn vào khỏi bệnhthì dần được tích lũy thành kinh nghiệm sử dụng làm thuốc và được truyềntụng từ đời này qua đời khác Cùng với sự tiến hóa và phát triển của xã hội,kho tàng kiến thức về cây thuốc của nhân loại ngày càng trở nên phong phú.

Năm 2838 Trước công nguyên, Thần Nông đã biên soạn cuốn sách

“Thần nông bản thảo”.Cuốn sách có ghi chép về 364 vị thuốc và cách sử

dụng Đây là cuốn sách nền tảng cho sự phát triển của nghành y học dượcthảo Trung Quốc cho đến ngày nay (dẫn theo tài liệu [9])

Năm 1595, Lý Thời Trân đã tổng kết tất cả các kinh nghiệm về cây

thuốc, kinh nghiệm sử dụng và soạn ra cuốn “Bản thảo cương mục” Đây là

cuốn sách vĩ đại nhất của Trung Quốc về lĩnh vực dược liệu, mô tả 1094 câythuốc và vị thuốc từ cây cỏ (dẫn theo tài liệu [13])

Năm 348 – 322 Trước công nguyên, Aristote người Hy Lạp đã cónhững ghi chép về cây cỏ của Hy Lạp Sau đó năm 340 Theophrate với tác

phẩm “Lịch sử vạn vật” đã giới thiệu gần 480 loài cây cỏ và công dụng của

chúng Tuy tác phẩm chỉ mới dừng lại ở mô tả các đặc điểm của cây cỏ,nhưng nó đã đặt nền tảng cho các khoa học nghiên cứu về thực vật sau này(dẫn theo tài liệu [8])

Năm 60 – 20 Trước công nguyên, thầy thuốc Dioscorides người HyLạp đã mô tả 600 loài cây cỏ chủ yếu để chữa bệnh, ông cũng là người đặtnền móng cho y dược học Hy Lạp (dẫn theo tài liệu [4])

Năm 79 – 24 Trước công nguyên, nhà tự nhiên học Plinus người La

Mã đã soạn thảo bộ sách “Vạn vật học” gồm 37 tập, giới thiệu gần 1000 loài

thực vật có ích (dẫn theo tài liệu [4])

Trang 16

Petelot, A (1952) đã soạn thảo cuốn sách “Les plantes de médicinales

du Cambodye, du Laos et du Vietnam” gồm 4 tập đã giới thiệu về các loại cây

thuốc và sản phẩm làm thuốc ở Đông Dương (dẫn theo tài liệu [20])

Theo tài liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) 1985 (dẫn theo tài liệu[27]), trong tổng số khoảng 250.000 loài thực vật bậc thấp cũng như bậc cao

đã biết, khoảng 20.000 loài được sử dụng làm thuốc ở mức độ khác nhau.Trong đó, Ấn Độ được biết trên 6000 loài; Trung Quốc trên 5000 loài; riêng vềthực vật có hoa ở một vài nước Đông Nam Á đã có tới 2000 loài là cây thuốc

Năm 2004, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) (dẫn theo tài liệu [5], [10])đã

có tài liệu hướng dẫn thực hành nông nghiệp tốt đối với cây thuốc (Guidelines

on good agricultural and collection practices for medicinal plants) Tài liệu đãđưa ra những hướng dẫn cụ thể từ chọn cây thuốc, chọn vùng trồng trọt thíchhợp, kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hoạch và bảo quản sau thu hoạch Đây làmột hướng dẫn và là thước đo chất lượng sản phẩm dược liệu khi trở thànhsản phẩm hàng hóa trên Thế giới Trung Quốc và Nhật Bản là hai nước đã dựatrên tài liệu hướng dẫn này để xây dựng khung quy định cho sản xuất câydược liệu, nhằm đưa cây dược liệu và các sản phẩm dược liệu trở thành sảnphẩm hàng hóa trên toàn Thế giới

Trong vài thập kỷ gần đây, các nước trên thế giới đã đẩy mạnh việcnghiên cứu các chế phẩm mới từ cây thuốc Ở Mỹ, 25% các đơn thuốc đượcpha chế tại các cửa hàng dược gồm các chất chiết từ cây cỏ, 13% từ các loài

vi sinh và 3% từ động vật với nhu cầu hàng tỷ USD/ năm (dẫn theo tài liệu[15]) Ở Trung Quốc, có 940 xí nghiệp và xưởng sản xuất thuốc từ cây cỏ với

6266 mặt hàng; doanh thu các thuốc từ cây cỏ chiếm 33,1% thị trường thuốcnăm 1995; tổng giá trị xuất khẩu dược liệu và thuốc cổ truyền từ năm 1997 đạt

600 triệu USD [18], [19] Hiện nay, Trung Quốc có chủ trương đầu tư mạnh cho

Trang 17

công tác nghiên cứu dược liệu, đã tự túc được khoảng 90% nhu cầu thuốc trong

nước, trong đó thuốc sản xuất từ nguồn gốc thực vật chiếm ưu thế [26], [27]

Trang 18

từ thực tiễn lâm sàng, xây dựng nên lý luận về các phương pháp phòng vàchữa bệnh.

Từ thời Hồng Bàng và các Vua Hùng (2879-257 Trước công nguyên),người dân đã có tục ăn trầu và nhuộm răng đen với mục đích bảo vệ răng, làmchắc răng Việc sử dụng gừng, tỏi, ớt, sả làm gia vị trong các bữa ăn hàngngày giúp tiêu hóa tốt, phòng trừ các bệnh đường ruột [5]

Cuối thế kỷ III Trước công nguyên, ở Nam Việt giao chỉ đã phát hiện

và sử dụng các loại cây thuốc để chữa bệnh như sắn dây, gừng, riềng, đậukhấu, ích trí, lá lốt, sả, quế, vông nem…[15]

Dưới các thời phong kiến, các ty Thái y, viện Thái y đã hình thành đểchữa bệnh cho vua, quan và nhân dân Dưới triều Trần, danh y Tuệ Tĩnh

(Nguyễn Bá Tĩnh) đã nói “Nam dược trị Nam nhân”, ông cũng đề xuất việc

trồng cây thuốc và chữa bệnh trong nhân dân Ông đã biên soạn cuốn sách

“Nam dược thần hiệu”, mô tả 499 vị thuốc và các phương thuốc để chữa 184 bệnh Năm 1717, “Nam dược thần hiệu” đổi tên thành “Hồng nghĩa giác lĩnh

tư y thư” gồm 590 vị thuốc [2].

Dưới triều đại nhà Lê, nổi bật trong nền y học nước nhà là danh y HảiThượng lãn ông – Lê Hữu Trác Ông đã để lại nhiều kinh nghiệm quý báu

trong sử dụng các loại dược liệu chữa bệnh trong bộ sách “Hải Thượng y tông tâm lĩnh” gồm 28 tập, 66 quyển [2].

Nền y học cổ truyền Việt Nam có lịch sử phát triển từ rất lâu đời Cộngđồng các dân tộc Việt Nam có nhiều kinh nghiệm độc đáo trong việc sử dụngcác loài cây cỏ để làm thuốc (dẫn theo tài liệu [13])

Trang 19

Theo Phạm Hoàng Hộ và Nguyễn Nghĩa ThìnViện Dược liệu (2010),

số lượng thực vật bậc cao có mạch đã thống kê được ở nước ta khoảng 10.500loài, dự đoán khoảng 12.000 loài.Trong đó các loài cây được sử dụng làmthuốc khoảng trên 3900 loài thuộc 307 họ thực vật [12]

Trương Thị Tố Uyên (2010) [9], khi nghiên cứu tính đa dạng thực vật

và tài nguyên cây thuốc ở xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên đãphát hiện 56 họ, 107 chi, 135 loài và phân loại được 13 nhóm cây thuốc.Trong đó có 28 cây thuốc thông tiểu, thông mật; 27 cây thuốc chữa tê thấp; 22cây thuốc chữa bệnh tiêu hóa; 21 cây thuốc chữa ho hen; 16 cây thuốc có tácdụng cầm máu; 17 cây thuốc có tác dụng giải độc; 16 cây thuốc chữa cảm sốt;

14 cây thuốc chữa mụn nhọt, mẩn ngứa; 9 cây thuốc chữa bệnh dạ dày; 6 câythuốc trị giun sán; 3 cây thuốc giúp hạ huyết áp; 3 cây thuốc chữa bệnh vềmắt và 2 cây thuốc có tác dụng chữa ung thư

Báo cáo khoa học “Tài nguyên cây thuốc ở Sơn La và kết quả nghiên cứu trồng thử nghiệm một số cây thuốc có giá trị tại Chiềng Sinh, thị xã Sơn La” (1993) (dẫn theo tài liệu [3]) đã công bố 500 loài cây thuốc ở Tây Bắc.

Riêng Sơn La có 70 họ, 109 chi và 249 loài cây thuốc Trong đó: Nhóm cây 2

lá mầm gồm 54 họ, 159 chi và 203 loài; nhóm cây 1 lá mầm gồm 10 họ, 27chi và 31 loài nhóm cây hạt trần gồm 2 họ, 2 chi và 2 loài; nhóm thông đấtgồm 1 họ, 1 chi và 1 loài; nhóm dương xỉ gồm 3 họ, 9 chi và 12 loài

Năm 2005, Bộ y tế, Vụ y học cổ truyền biên soạn cuốn sách “Cây hoa cây thuốc”, hướng dẫn cách sử dụng 29 loài cây hoa cây cảnh có tác dụng

chữa bệnh thông thường Cuốn sách sau khi xuất bản đã được đông đảo cán

bộ và nhân dân tìm đọc, trở thành nhu cầu cần thiết đối với cộng đồng (dẫntheo tài liệu [7])

Cùng với các công trình nghiên cứu về đặc điểm, công dụng của cácloại cây thuốc trong tự nhiên.Để cây thuốc sử dụng rộng rãi, trở thành sản

Trang 20

phẩm hàng hóa, đồng thời bảo vệ các nguồn gen cây thuốc ngoài tự nhiênđang bị cạn kiệt dần Các cơ sở nghiên cứu và các nhà khoa học đã nghiêncứu biện pháp kỹ thuật gây trồng các loài cây thuốc, trong đó có các nghiêncứu như:

Bảo Thắng (2003) trong cuốn “Kỹ thuật trồng, chế biến và sử dụng cây thuốc nam” Cuốn sách đã trình bày chi tiết kỹ thuật trồng trọt, chăm sóc,

phòng trừ sâu bệnh, thu hoạch, bảo quản đối với 38 cây thuốc thông dụng;đồng thời cũng mô tả đặc điểm, cách sử dụng 124 vị thuốc chữa bệnh phụkhoa, 10 loại rau, 21 loại quả và một số loại hạt có tác dụng chữa bệnh [6]

Nguyễn Bá Hoạt và Nguyễn Văn Thuần (2005)đã hướng dẫn kỹ thuậttrồng trọt sử dụng và chế biến 30 cây thuốc có nhu cầu lớn làm nguyên liệucho sản xuất thuốc phòng, chữa bệnh xuất khẩu, đáp ứng nhu cầu sản xuất đạitrà trên diện tích lớn, xây dựng vùng dược liệu theo hướng an toàn theo tiêuchuẩn GAP (Good agricultural pratice) Cuốn sách còn cung cấp một số thôngtin cơ bản về giá trị của từng cây nhằm quảng bá, xây dựng thương hiệu sảnphẩm [28] Trong phần chế biến, các tác giả giới thiệu một số phương phápchế biến theo y học cổ truyền, giúp cho cơ sở trồng trọt đầu tư làm tăng chấtlượng của sản phẩm và dễ bảo quản hơn [2]

Như vậy, điểm qua những nghiên cứu trên Thế giới và Việt Nam về dược liệu nói chung và loài Giảo cổ lam nói riêng cho thấy, Giảo cổ lam là loài cây lâm sản ngoài gỗ đa tác dụng, vừa được dùng làm thức ăn vừa được dùng làm thuốc chữa bệnh Đây là nhân tố quan trọng trong việc quyết định sự thành công của việc phát triển loài cây này, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã hội cũng như bảo vệ và quản lý rừng bền tại tỉnh Bắc Kạn, góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo cho người dân địa phương, bảo tồn và phát triển loài cây này tại khu vực nghiên cứu trong tương lai.

Trang 21

2.3 Tình hình nghiên cứu về chi Gynostemma

Chi Gynostemma chủ yếu là các cây thảo, thân leo, nhẵn hoặc có lôngmịn Lá có cuống với phiến chân vịt gồm 3-5 lá chét, ít khi có 1 lá chét.Láchét hình xoan.Các đốt thân có tua cuốn.Cụm hoa đực dài, gồm nhiều hoanhỏ; hoa hình sao, màu trắng hay lục nhạt; cuống hoa mang lá bắc ở gốc; đếhoa dẹt, có 5 lá đài nhỏ; hoa 5 cánh, hình mũi dùi hoặc hình xoan thuôn, nhọn

ở đỉnh Bộ nhị gồm 5 chỉ nhị dính thành cột; bao phấn đều, dính vớinhau.Cụm hoa cái giống cụm hoa đực nhưng dài hơn; hoa cái có bầu 2-3 ô,hình cầu, mỗi ô có 2-3 noãn treo; đầu nhụy xẻ 3.Quả mọng hình cầu, không

Theo Võ Văn Chi (2000) [1] thành phần hóa học của giảo cổ lam cósaponin, flavononid và các loại đường Cấu trúc hóa học:

Hình 2.1 Cấu trúc hóa học của Flavononit và Saponin [1]

Trang 22

Các nghiên cứu đầu tiên đã phát hiện saponin có mặt trong Giảo cổ lamthuộc nhóm dammaran (hình 1.1) Dammaran là nhóm saponin triterpenic cócấu trúc 4 vòng (triterpenoid tetracyclic) Trong công thức phân tử có 30carbon và do 6 nhóm hemiterpen ghép lại theoqui tắc đầu đuôi Các saponinthuộc nhóm này xuất hiện nhiều trong các cây thuộc chi Panax L., họAraliaceae.Đặc biệt các saponin trong Nhân sâm (Panax ginseng C A.Mayer) cho thấy nhiều tác dụng quí đã được nhiều nhà khoa học trên thế giớinghiên cứu.

Flavonoid cũng là một trong những nhóm chất chính trong các loàithuộc chi Gynostemma Blume nhưng ít được nghiên cứu

Từ Gynostemma pentaphyllum (Thunb.) Makino đã phát hiện một sốflavonoid là ombuin, ombuoside, rutin [21], quercetin-di-(rhamno)-hexosid,quercetin-rhamno-hexosid, kaempferol-rhamno-hexosidvà kaempferol-3-O-rutinosid [23]

Năm 2006, Yin và các cộng sự [46] đã phân lập được 3 flavonoid là

rutin, kaempferol và quercetin từ loài Gynostemma cardiospermum Cogniaux

ex Oliver

Một nghiên cứu của các tác giả tại Đại học Y Quảng Tây (Trung Quốc)

[20] đã so sánh hàm lượng của flavonoid trong 6 loài Gynostemma thu hái tại

Quảng Tây bằng phương pháp đo quang phổ tại bước sóng 510nm, so sánhvới chuẩn nội rutin cho kết quả hàm lượng flavonoid toàn phần trong loài

Gynostemma guangxiense X.X.Chen&D.H.Qin là cao nhất.

Nghiên cứu phương pháp xác định chlorophyll và dẫn chất trong

Gynostemmapentaphyllum (Thunb.)Makino bằng HPLC-MS Đã tách và xác định được trong Gynostemmapentaphyllum (Thunb.) Makino có 15

chlorophyll và dẫn chất: Pheophytina, pheophytin a', chlorophyll a,chlorophyll a', hydroxypheophytin a, hydroxypheophytin a', pheophytin b,

Trang 23

pheophytin b', chlorophyll b, chlorophyll b', hydroxychlorophyll b,hydroxypheophytinb và hydroxypheophytin b' [19].

Bằng phương pháp phân tích điện di mao quản đã phát hiện trong dịch

chiết nước Gynostemmapentaphyllum (Thunb.) Makino có 1 loại hetero

polysaccharid không tinh bột có thành phần chính là monosaccharid,galactose, arabinose, rhamnose, galacturonic acid, xylose, manosevà acidglucuronic [26].Ngoài ra nhóm alcaloid được báo cáo là không có trong

Gynostemma pentaphyllum (Thunb.)Makino [16].

2.4 Tình hình nghiên cứu cây Giảo cổ lam

2.4.1 Tính vị của Giảo cổ lam

* Thử nghiệm trên chuột và thỏ

Những đánh giá bước đầu về tác dụng làm giảm cholesterol máu đãđược tác giả Phạm Thanh Kỳ công bố trên tạp chí Dược liệu (2000) [11]khitiến hành thử nghiệm trên chuột đã gây rối loạn mỡ máu bằng chế độ ăn giàulipid, kết quả cho thấy khi uống Giảo cổ lam trong 30 ngày làm giảmcholesterol toàn phần

71% so với nhóm không sử dụng dược liệu này Kết quả này là cơ sở khoahọc khẳng định tác dụng làm giảm mỡ máu của Giảo cổ lam

Ngoài ra Giảo cổ lam có tác dụng hạ đường huyết trên chuột nhắt trắng.Trên chuột đái tháo đường di truyền, liều uống 500mg/kg làm hạ đường huyết22%, liều 1000mg/kg làm hạ tối đa 36%.Trong liệu pháp dung nạp Glucoseởchuột nhắt trắng, liều uống 1000mg/kg đã ức chế sự tăng đường huyết tới55% (sau 30 phút) và 63% (sau 60 phút) so với nhóm đối chứng Giảo cổ lamgây hạđường huyết yếu trên chuột bình thường nhưng lại có tác dụng khámạnh trên chuột có đường huyết cao Như vậy ngoài cơ chế làm tiết insulin,Giảo cổ lam cũng có tác dụng làm tăng nhạy cảm của mô với insulin [13]

Tác giả Phạm Thanh Kỳ và Trần Lưu Vân Hiền (2011)đã đã chứngminh chiết xuất Giảo cổ lam có tác dụng ngăn ngừa và kìm hãm sự phát triểnkhối u một cách rõ rệt trên mô hình gây u ở chuột(dẫn theo tài liệu [4])

Trang 24

* Thử nghiệm trên người

Một nghiên cứu gần đây của tác giả Rehman Gauhar và cộng sự (2012)(dẫn theo tài liệu [4]) đã khẳng định dịch chiết từ cây Giảo cổ lam có tác dụnghoạt hóa men AMPK, một men có vai trò quan trọng trong quá trình điều hòachuyển hóa năng lượng của cơ thể, làm thúc đẩy quá trình oxy hóa chất béo vàtăng cường chuyển hóa đường, đạm, mỡ trong cơ thể giúp cải thiện tình trạngbéo phì Một thử nghiệm trên chuột cho thấy khi dùng dịch chiết Giảo cổ lamvới mức liều 150, 300 mg/kg cân nặng, sau 8 tuần điều trị thì trọng lượng

cơ thể giảm đi 5,7% và 7,7% so với thời điểm ban đầu

Phạm Thanh Kỳ và các cộng sự Hàn Quốc (2012) (dẫn theo tài liệu [4])lần đầu tiên tìm thấy 7 hoạt chất saponin mới trong cây Giảo cổ lam của ViệtNam đặt tên là Gypenosid VN 01-07 Các chất này sau đó đã được thử trên tếbào ung thư phổi, đại tràng, vú và tử cung cho kết quả rất đặc biệt Đó là khảnăng tiêu diệt mạnh các tế bào ung thư nói trên Điều này chứng tỏ Giảo cổlam của Việt Nam có chất lượng rất đặc biệt so với Giảo cổ lam Trung Quốc,Thái Lan

2.4.2 Công dụng của cây Giảo cổ lam

Với thành phần chính là Saponin và Flavonoid thì Giảo cổ lam cónhững tác dụng đối với sức khỏe như giúp làm giảm cholesterol trong máu,ngăn ngừa xơ vữa động mạch

Sun, W., Z Sha, et al (1993), [24] cũng khẳng định tác dụng làm giảmcholesterol toàn phần trong máu, triglycerid, LDL (một loại cholesterol xấutrong máu, loại cholesterol này làm tăng nguy cơ xuất hiện các mảng xơ vữađộng mạch và các bệnh tim mạch như nhồi máu cơ tim, đột quỵ ) trên môhình động vật thí nghiệm Theo kết quả của nghiên cứu này thì khi sử dụngGiảo cổ lam làm giảm lượng triglycerid trong máu 85%, cholesterol toàn phần44%, tác dụng này gần như tương đương với atorvastatin, là thuốc được ưutiên lựa chọn hàng đầu cho bệnh nhân rối loạn mỡ máu hiện nay Sở dĩ Giảo

Trang 25

cổ lam làm hạ mỡ máu mạnh là do các chất saponin hàm lượng cao trongGiảo cổ lam đã “tóm lấy các hạt mỡ lơ lửng trong mạch máu” và kéo chúngvào trong tế bào để cơ thể chuyển hoá thành năng lượng Chất saponin trongGiảo cổ lam có đặc tính “tẩy rửa” các chất béo mạnh và làm giảm độ nhớt củamáu, do vậy thường xuyên uống Giảo cổ lam sẽ làm trơn láng thành mạchmáu, bào mòn dần các mảng xơ vữa bám trong lòng mạch, giúp máu lưuthông dễ dàng hơn, tăng cường máu lên não Đây là lý do Giảo cổ lam giúptỉnh táo, sảng khoái, giúp dễ ngủ và ngủ sâu giấc.

Ngoài ra, Giảo cổ lam còn có tác dụng ổn định huyết áp, phòng ngừacác biến chứng và tai biến về tim mạch, não Điều trị những bệnh lý do thiếumáu não, tăng cường máu lên não, ngăn ngừa chứng đãng trí ở người cao tuổi.Giảm mệt mỏi, căng thẳng, tăng lực, tăng khả năng làm việc Tăng cườngmiễn dịch, sức đề kháng của cơ thể, phòng chống bệnh tật về lâu dài, nângcao tuổi thọ Ngăn ngừa, phòng chống ung thư, ức chế sự hình thành và pháttriển tế ung thư Chống oxy hóa mạnh, làm chậm quá trình lão hóa giúp thanhnhiệt, giải độc, dùng điều trị và phòng chống mụn nhọn, nám da Tăng khảnăng giải độc gan, làm hạ men gan, điều chỉnh rối loạn chuyển hóa mỡ, hỗ trợđiều trị gan nhiễm mỡ, giảm béo [28]

Như vậy, từ những tác dụng lâm sàng và công dụng của cây Giảo cổlam có thể khẳng định đây là cây thuốc quý cần phải được bảo tồn, phát triển

và sử dụng bền vững Sử dụng Giảo cổ lam không những nâng cao sức khỏe

mà còn có tác dụng phòng và chữa bệnh cho con người Những kết quảnghiên cứu trên sẽ là cơ sở khoa học cho công tác phát triển cây Giảo cổ lamtại tỉnh Bắc Kạn với mục đích tạo sinh kế, xóa đói giản nghèo, phát triển kinh

tế gắn với bảo vệ môi trường sinh thái bền vững cho đồng bào có cuộc sốnggắn liền với rừng tại khu vực nghiên cứu

Trang 26

2.5 Tổng quan khu vực nghiên cứu

2.5.1 Điều kiện tự nhiên

- Đông giáp xã Giáo Hiệu

- Nam giáp xã Cổ Linh, hai xã Hồng Thái và Yên Hòa của huyện NaHang tỉnh Tuyên Quang

- Tây giáp xã Thượng và Thượng Giáp (Na Hang, Tuyên Quang)

* Đặc điểm địa hình

Địa hình xã Công Bằng phức tạp, núi cao, có độ dốc lớn, đất nôngnghiệp ít, nhỏ hẹp, chủ yếu là ruộng bậc thang

* Khí hậu thủy văn

Xã Công Bằng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia thành

02 mùa trong năm: Mùa khô thường xảy ra từ tháng 10 năm trước đén tháng 4năm sau Do ảnh hưởng khí hậu vùng núi cao nên về mùa khô thường xảy rarét đậm, rét hại kéo dài Mùa mưa từ tháng 5 - tháng 9 trong năm; do ảnhhưởng bởi địa hình phức tạp, độ dốc lớn nên thường xảy ra lũ ống, lũ quét vàsạt lở đất

Nhiệt độ trung bình năm từ 220C đến 280C Độ ẩm không khí trungbình từ 84-85%

Lượng mưa trung bình năm là 1.346mm,Các tháng có lượng mưa lớn làtháng 4,5,6,7 với tổng lượng mưa của 4 tháng này lên tới 90% tổng lượngmưa cả năm; các tháng còn lại có lượng mưa nhỏ Do sự phân bố lượng mưakhông đều và chênh lệch lớn nên đã gây khó khăn (sạt lở đất, lũ qúet, hạnhán…) trong việc phát triển nông - lâm nghiệp trên địa bàn

Trang 27

* Điều kiện đất đai

Đất đai xã gồm các loại sau :

- Đất phù sa được bồi (pb)

- Đất phù sa ngòi suối(Py)

- Đất đỏ vàng trên đá sét (Fs)

- Đất đỏ vàng trên đá biến chất (Fi)

- Đất đỏ vàng trên đá Mác ma axit (Fa)

- Sông suối,núi đá

Do tình trạng chặt phá rừng vẫn diễn ra và còn tồn tại hình thức canhtác bóc lột độ phì của đất trong thời gian qua đã ảnh hưởng xấu tới môitrường đất.Đất bị thoái hóa do canh tác nhiều năm và bị xói mòn,rửatrôi,lượng phân hữu cơ bón trong quá trình canh tác chưa đủ để cải tạo đất

2.5.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

2.5.2.1 Điều kiện kinh tế – xã hội

Nền kinh tế của xã Công Bằng phát triển theo hướng nông,lâmnghiệp ;dịch vụ-thương mại ;tiểu thủ công nghiệp-nghành nghề.Gía trị sảnxuất nông,lâm nghiệp tăng bình quân từ 5-6%/năm và chiếm tỷ trọng gần80% trong cơ cấu các ngành kinh tế.Gía trị sản xuất ngành dịch vụ-thươngmại tăng trung bình 10-12%/năm,chiếm gần 15% trong cơ cấu các ngành kinhtế.Gía trị sản xuất của tiểu thủ công nghiệp ,ngành nghề tăng bình quân 6-8%/năm,chiếm gần 5% trong cơ cấu kinh tế

Nhân dân trong xã chủ yếu sống dựa vào sản xuất nông,lâm nghiệp vàmang tính tự cung tự cấp,nông sản hàng hóa còn ít,chất lượng chưa cao.Trungbình mỗi hộ dân có từ 1,2-1,5 ha đất sản xuất nông nghiệp,trong đó đất ruộng

có từ 0,2-0,4 ha và có từ 3-7ha rừng khoanh nuôi bảo vệ,số hộ nông nghiệpchiếm 95%,số lao động của ngành nông nghiệp chiếm 90% lao động trongtuổi thọ

Trang 28

Hầu hết các hộ chú trọng trồng lúa,ngô giải quyết nhu cầu lương thựctại chỗ và phát triển chăn nuôi gia sức,gia cầm,ngoài việc cung cấp thực phẩmcho các hộ còn có sản phẩm hàng hóa bán ra cho các vùng.Tuy nhiên sản xuấtcòn phụ thuộc nhiều vào yếu tố khí hậu,thời tiết và quy mô thường nhỏ,lẻ nênhiệu quả kinh tế thấp.Các hoạt động dịch vụ phục vụ sản xuất (cung cấp phânbón,giống cây trồng,vật nuôi,thu mua tiêu thụ nông sản…) kém phát triển nênthu nhập các hộ dân thấp,đời sống của một bộ phận đồng bào còn gặp nhiềukhó khăn.

- Khó khăn:

- + Quy mô nhỏ

+ Tình trạng nuôi trồng và khai thác dược liệu còn tự phát, qui mô nhỏ.+ Do ảnh hưởng bởi địa hình phức tạp, độ dốc lớn nên thường xảy ra lũống, lũ quét và sạt lở đất

+ Các hoạt động dịch vụ phục vụ sản xuất kém phát triển nên thu nhập thấp

- Thuận lợi :

+ Có đủ nguồn nhân lực,dân cư trú trọng học hỏi kinh nghiệm

+ Cơ sở vật chất hạ tầng của đồng bào dân tộc nhìn chung đã phát triểnhơn, đặc biệt là tuyến đường giao thông

Ngày đăng: 22/03/2019, 10:24

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w