Điều 19 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 quy định: “Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, Viện kiểm sát nhân dân có quyền kháng nghị theo thủ tục
Trang 1A MỞ ĐẦU
Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là một chế định quan trọng của BLTTHS Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật Kháng nghị của Viện kiểm sát cùng với kháng cáo của một số người tham gia tố tụng là cơ sở, tiền đề cho hoạt động xét xử phúc thẩm Pháp luật tố tụng hình sự ngày một hoàn thiện, trình độ chuyên môn của những người tiến hành tố tụng ngày càng nâng cao.Tuy nhiên, trên thực tế, vẫn còn tồn tại những bất cập của pháp luật tố tụng hình sự, những hạn chế
về trình độ chuyên môn của người tiến hành tố tụng dẫn đến việc kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm vẫn chưa đạt được kết quả mong đợi Để tìm hiểu vấn đề này,
trong bài tập học kì, em xin lựa chọn đề tài: “Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong tố tụng hình sự”.
Do hiểu biết còn hạn chế, bài làm của em không thể tránh khỏi những thiếu sót,
em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy, cô giáo để bài làm của em thêm hoàn thiện Em xin chân thành cảm ơn
B NỘI DUNG
I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHÁNG NGHỊ THEO THỦ TỤC PHÚC THẨM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ.
Kháng nghị là quyền được quy định duy nhất cho Viện kiểm sát Quyền này
xuất phát từ chức năng của Viện kiểm sát là công tố và kiểm sát xét xử các vụ án
hình sự Điều 19 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 quy định: “Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, Viện kiểm sát nhân dân có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các bản
án, quyết định của Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật”.
Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là “quyền của Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án đã ra bản án hoặc quyết định sơ thẩm và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp của Viện kiểm sát đó, thực hiện dưới hình thức, trong thời hạn và theo thủ tục do pháp luật quy định, phản đối bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật
do thiếu căn cứ, không phù hợp với pháp luật và yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét
xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm nhằm giải quyết đúng đắn vụ án hình sự”.
II NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ HIỆN HÀNH VỀ KHÁNG NGHỊ THEO THỦ TỤC PHÚC THẨM.
1 Đối tượng của kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Điều 230 BLTTHS 2003 quy định về tính chất của xét xử phúc thẩm: “Xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định
sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật
bị kháng cáo hoặc kháng nghị” Điều luật đã gián tiếp quy định đối tượng của kháng
nghị theo thủ tục phúc thẩm là bản án, quyết định của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật Ngoài ra, đối tượng của kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm cũng được gián tiếp
Trang 2quy định tại điều 232 BLTTHS 2003: “Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị những bản án hoặc quyết định sơ thẩm” Giáo
trình luật Tố tụng hình sự Việt Nam của trường Đại học Luật Hà Nội khẳng định đối
tượng của kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là “đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm là những bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật”.
Như vậy, có thể suy ra đối tượng của kháng nghị phúc thẩm là bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm
Nếu như pháp luật tố tụng hình sự Pháp quy định hạn chế đối tượng của kháng
nghị phúc thẩm là “hình phạt phải đạt một mức độ mào đó thì mới có thể là đối tượng của kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm” thì theo pháp luật tố tụng hình sự
Việt Nam, tất cả các bản án sơ thẩm đều có thể là đối tượng của kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, không kể nội dung bản án, quyết định là gì
Các quyết định của tòa án cấp sơ thẩm là đối tượng của kháng nghị phúc thẩm bao gồm quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án (khoản 2 điều 239 BLTTHS 2003, mục 2.1 phần I Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP); quyết định về việc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh (khoản 2 điều 316 BLTTHS 2003, mục 2.2 phần I Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP); quyết định dẫn độ hoặc từ chối dẫn độ (khoản 5 điều
40 Luật tương trợ tư pháp); quyết định về việc miễn, giảm thời hạn chấp hành hình phạt hoặc rút ngắn thời gian thử thách của án treo (mục 13 phần IV Nghị quyết số 02/2007/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ năm “Thi hành bản án và quyết định của tòa án” của BLTTHS)
Các quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không phải là đối tượng của kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm gồm: quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung, quyết định về việc bắt giam hoặc trả tự do cho bị cáo, quyết định hoãn phiên tòa, quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng
2 Chủ thể có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Trong pháp luật tố tụng hình sự, chủ thể của quyền kháng nghị phúc thẩm được
quy định tại điều 232 BLTTHS: “Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị những bản án hoặc quyết định sơ thẩm” Việc quy
định chủ thể của quyền kháng nghị phúc thẩm là Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là quy định hoàn toàn phù hợp với chức năng của Viện kiểm sát Đồng thời, khi trao cho cả hai Viện kiểm sát có quyền kháng nghị phúc thẩm sẽ đảm bảo được bản án, quyết định của Tòa án được giám sát chặt chẽ hơn, cũng như đảm bảo được hoạt động kháng nghị phúc thẩm đạt được hiệu quả
Người có thẩm quyền quyết định việc kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát các cấp (điều 36 BLTTHS 2003) Điều
32 quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử vụ án hình sự ban hành kèm theo Quyết định số 960/QĐ-VKSTC ngày 17/9/2007 của Viện trưởng
Trang 3quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm những bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp huyện; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát cấp tỉnh có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm những bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp huyện Viện trưởng VKSNDTC ủy quyền cho Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện thực hành quyền công
tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm những bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp tỉnh
Chỉ trong thủ tục phúc thẩm, Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án đã ra bản án, quyết định sơ thẩm mới có quyền kháng nghị Vì vậy, trong thực tế xảy ra trường hợp cả Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án đã ra bản án, quyết định sơ thẩm và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp cùng kháng nghị đối với cùng một bản án hoặc quyết dịnh
sơ thẩm Nếu nội dung hai kháng nghị này mâu thuẫn với nhau (Viện kiểm sát cấp phúc thẩm kháng nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo trong khi đó Viện kiểm sát cấp
sơ thẩm kháng nghị tăng mức hình phạt đối với bị cáo), Viện kiểm sát cấp dưới không rút kháng nghị của mình, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp không rút kháng nghị của mình hoặc không hủy kháng nghị của Viện kiểm sát cấp dưới thì Tòa án cấp phúc thẩm chỉ chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp để tiến hành xét xử Nếu hai bản kháng nghị có nội dung bổ sung cho nhau (cả hai Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên cùng đưa ra kháng nghị tăng hoặc giảm hình phạt cho bị cáo) thì Tòa án cấp phúc thẩm sẽ chấp nhận cả hai kháng nghị đó để tiến hành xét xử
3 Căn cứ kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Khoản 1 điều 33 Quy chế về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét
xử hình sự hướng dẫn:
“Bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm khi có một trong các căn cứ sau:
a Việc điều tra, xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm phiến diện hoặc không đầy đủ;
b Kết luận của bản án hoặc quyết định hình sự sơ thẩm không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án;
c Có vi phạm trong việc áp dụng BLHS;
d Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng luật định hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng”.
Theo điều luật, căn cứ kháng nghị phúc thẩm gồm:
Thứ nhất, việc điều tra, xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm phiến diện hoặc không đầy đủ: Việc điều tra, xét hỏi tại tòa phiến diện là việc điều tra, xét hỏi tại phiên tòa
không khách quan, không toàn diện, mọi tình tiết của vụ án chưa được làm sáng tỏ một cách đầy đủ, khách quan Biểu hiện của sự phiến diện là chỉ chú ý đến việc xét hỏi những chứng cứ buộc tội mà không chú ý đến những tình tiết gỡ tội cho bị cáo, chỉ tập trung vào thẩm vấn những tình tiết tăng nặng hoặc ngược lại Việc điều tra,
Trang 4xét hỏi tại phiên tòa không đầy đủ là hoạt động điều tra tại phiên tòa còn thiếu nhiều tình tiết mà theo quy định của pháp luật thì chưa đủ căn cứ xác định bị cáo phạm tội hay không,…
Thứ hai, kết luận của bản án hoặc quyết định hình sự sơ thẩm không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án: Kết luận của bản án hoặc quyết định hình sự sơ
thẩm không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án là kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã điều tra, xác minh tại phiên tòa Ngoài ra, việc kết luận trong bản án hoặc quyết định không phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án còn có thể là trường hợp bị cáo trong quá trình điều tra, xét hỏi trước đó và tại phiên tòa không chịu thành khẩn khai báo nhưng Hội đồng xét xử
lại áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “thành khẩn khai báo” (điểm p
khoản 1 điều 46 BLHS) đối với bị cáo
Thứ ba, có vi phạm trong việc áp dụng BLHS
Thứ tư, thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng luật định hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng
4 Hình thức, thủ tục kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Theo khoản 2 điều 233 BLTTHS 2003: “Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp kháng nghị bằng văn bản, có nêu rõ lý do Kháng nghị được gửi đến Tòa án đã xử sơ thẩm” Khoản 1 điều 34 Quy chế công tác thực hàn quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự cũng quy định rõ: “Quyết định kháng nghị phải nêu rõ và cụ thể những vi phạm pháp luật hoặc về áp dụng thủ tục
tố tụng và nêu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật” Như vậy, quyết định kháng nghị phải gửi đến Tòa án đã xử sơ
thẩm, không phụ thuộc chủ thể kháng nghị là Viện kiểm sát cùng cấp hay Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp và trong quyết định kháng nghị bắt buộc phải nêu lý do kháng nghị
5 Thời hạn kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Thời hạn là một phần hết sức quan trọng đối với hoạt động kháng nghị của Viện kiểm sát Thời hạn kháng nghị phúc thẩm cũng là một trong những căn cứ để Tòa
án chấp nhận hay không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát Thời hạn kháng
nghị của Viện kiểm sát được quy định tại khoản 1 điều 234 BLTTHS 2003: “Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là mười lăm ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là ba mươi ngày, kể từ ngày tuyên án” Điều luật này chỉ quy định
thời hạn kháng nghị đối với bản án sơ thẩm mà không áp dụng cho quyết định sơ thẩm Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát đối với quyết định của Tòa án cấp sơ
thẩm quy định tại khoản 1 điều 239 BLTTHS như sau: “Thời hạn kháng nghị đối với các quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm của Viện kiểm sát cùng cấp là bảy ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là mười lăm ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định”
Trang 5Theo quy định tại khoản 1 điều 234 BLTTHS 2003, thời hạn kháng nghị được tính kể từ ngày tuyên án, đồng thời theo quy định tại khoản 1 điều 239 BLTTHS
2003 thì thời hạn kháng nghị được tính kể từ ngày Tòa án ra quyết định Như vậy, ngày đầu tiên của thời hạn kháng nghị được xác định là ngày tiếp theo của ngày Tòa
án tuyên án hoặc ra quyết định Nếu ngày cuối của thời hạn kháng nghị là ngày nghỉ, ngày lễ, tết thì ngày cuối cùng của thời hạn kháng nghị được tính là ngày làm việc tiếp theo của ngày làm việc đó Thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hạn là
24 giờ cùng ngày đó (điểm 4.1 mục 4 phần I Nghị quyết 05/2005/NQ-HĐTP)
Pháp luật tố tụng hiện hành không quy định về việc kháng nghị quá hạn, khác với kháng cáo có quy định kháng cáo quá hạn Chính vì vậy, mọi trường hợp kháng nghị quá hạn là không hợp pháp và không được chấp nhận
6 Thông báo về việc kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Thông báo về việc kháng nghị là việc Tòa án cấp sơ thẩm phải thông báo về việc Viện kiểm sát kháng nghị và nội dung kháng nghị đến những chủ thể nhất định trong một thời hạn nhất định Trong pháp luật tố tụng hình sự, vấn đề thông báo về việc kháng nghị được quy định tại điều 236 BLTTHS Theo quy định tại khoản 1, khi nhận được kháng nghị thì Tòa án cấp sơ thẩm phải thông báo bằng văn bản cho những người tham gia tố tụng biết trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được kháng nghị Như vậy, điều luật xác định chủ thể có trách nhiệm thông báo kháng nghị là Tòa án cấp sơ thẩm, chủ thể được thông báo kháng nghị là những người tham gia tố tụng; hình thức thông báo bằng văn bản; thời hạn thông báo là bảy ngày Việc quy định thời hạn thông báo kháng nghị là một điểm mới so với BLTTHS 1988, nó
có ý nghĩa tích cực trong hoạt động tiến hành tố tụng nhằm xác định rõ giới hạn phải thực hiện các hoạt động tố tụng, đảm bảo việc thực hiện các hoạt động tố tụng nhanh chóng, kịp thời
Việc quy định chủ thể có trách nhiệm thông báo kháng nghị là Viện kiểm sát đã xét xử sơ thẩm là hợp lý vì Tòa án cấp sơ thẩm là chủ thể đã ra bản án hoặc quyết định sơ thẩm, nhận kháng nghị và thực hiện việc chuyển hồ sơ vụ án và kháng nghị lên Tòa án phúc thẩm nên việc thông báo kháng nghị vừa thuận tiện, vừa đảm bảo chính xác Vấn đề này được quy định cụ thể tại điểm 6.3 mục 6 phần I nghị quyết số
05/2005/NQ-HĐTP: “Trong trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị bản án hoặc quyết định sơ thẩm mà đã gửi kháng nghị cho bị cáo và đương sự có liên quan đến kháng nghị, thì Toà án cấp sơ thẩm không phải thông báo cho họ Nếu Viện kiểm sát gửi cho Toà án cấp sơ thẩm các bản kháng nghị để gửi cho bị cáo và đương sự có liên quan đến kháng nghị, thì Toà án cấp sơ thẩm gửi kháng nghị đó cho họ thay cho việc thông báo Nếu Viện kiểm sát chỉ gửi kháng nghị cho Toà án cấp sơ thẩm, thì Toà án cấp sơ thẩm thông báo việc kháng nghị cho bị cáo và đương sự bằng văn bản” Như vậy, việc thông báo không nhất thiết phải do Tòa án thực hiện, việc thông
báo có thể do Viện kiểm sát đã kháng nghị thực hiện
7 Hậu quả của kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Trang 6Khoản 1 điều 237 BLTTHS 2003 quy định hậu quả pháp lý đối với việc kháng nghị các bản án mà chưa quy định hậu quả pháp lý của việc kháng nghị các quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm Việc kháng nghị của Viện kiểm sát đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm sẽ dẫn đến hậu quả pháp lý thuộc một trong hai trường hợp sau: Trường hợp thứ nhất: nếu Viện kiểm sát kháng nghị toàn bộ bản án thì toàn bộ bản án không được đưa ra thi hành
Trường hợp thứ hai: nếu Viện kiểm sát chỉ kháng nghị một phần bản án thì chỉ phần bản án bị kháng nghị chưa có hiệu lực pháp luật, phần còn lại phát sinh hiệu lực pháp luật sau khi hết thời hạn kháng nghị Tuy nhiên, khoản 2 điều 249
BLTTHS 2003 quy định: “Nếu có căn cứ, Tòa án cấp phúc thẩm có thể giảm hình phạt hoặc áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn, chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn; giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo cho cả những bị cáo không kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị” Quy
định này thể hiện tính nhân đạo trong pháp luật tố tụng hình sự của Nhà nước ta Không phải trong mọi trường hợp, khi có kháng nghị của Viện kiểm sát sẽ dẫn đến việc một phần hoặc toàn bộ bản án chưa được đưa ra thi hành, mà trong các trường hợp được quy định tại khoản 2 điều 255 BLTTHS 2003 thì dù có kháng nghị của Viện kiểm sát thì bản án, quyết định của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật vẫn được thi hành ngay sau khi tuyên án như: bị cáo bị tạm giam mà Tòa án cấp sơ thẩm quyết định đình chỉ vụ án, không kết tội,…Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh của Tòa án không làm ảnh hưởng tới hiệu lực thi hành quyết định này (khoản 3 điều 316 BLTTHS)
Ngoài ra, kháng nghị của Viện kiểm sát còn dẫn tới hậu quả Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi hồ sơ vụ án và kháng nghị cho Tòa án phúc thẩm trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày hết hạn kháng nghị Việc gửi hồ sơ vụ án và kháng nghị cho Tòa án phúc thẩm là cần thiết và phải được thực hiện một cách nhanh chóng
8 Bổ sung, thay đổi, rút kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
a Bổ sung, thay đổi kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Theo quy định tại khoản 1 điều 238 BLTTHS 2003 thì việc bổ sung, thay đổi kháng nghị phúc thẩm được thực hiện trước khi bắt đầu hoặc tại phiên tòa phúc thẩm nhưng không được làm xấu hơn tình trạng của bị cáo Việc thay đổi, bổ sung kháng nghị của Viện kiểm sát được quy định tại điểm 7.1 mục 7 phần I nghị quyết số
05/2005: “a) Trong trường hợp vẫn còn thời hạn kháng cáo, kháng nghị quy định tại Điều 234 của BLTTHS, thì người kháng cáo, Viện kiểm sát đã kháng nghị có quyền bổ sung, thay đổi nội dung kháng cáo, kháng nghị đối với phần hoặc toàn bộ bản án mà mình có quyền kháng cáo, kháng nghị theo hướng có lợi hoặc không có lợi cho bị cáo.
Trong trường hợp người kháng cáo, Viện kiểm sát đã rút một phần hoặc toàn bộ kháng cáo, kháng nghị nhưng sau đó có kháng cáo, kháng nghị lại mà vẫn còn trong
Trang 7thời hạn kháng cáo, kháng nghị, thì vẫn được chấp nhận để xét xử phúc thẩm theo thủ tục chung.
b) Trong trường hợp đã hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định tại Điều
234 của BLTTHS, thì trước khi bắt đầu hoặc tại phiên toà phúc thẩm, người kháng cáo, Viện kiểm sát đã kháng nghị có quyền bổ sung, thay đổi nội dung kháng cáo, kháng nghị, nhưng không được làm xấu hơn tình trạng của bị cáo”.
Như vậy, trước khi hết thời hạn kháng nghị (trước khi bắt đầu hoặc tại phiên tòa phúc thẩm), Viện kiểm sát có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị theo nguyên tắc
“không làm xấu đi tình trạng của bị cáo” Hiểu điều luật này là, Viện kiểm sát đã
kháng nghị theo hướng giảm nhẹ cho bị cáo so với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm thì không được bổ sung hoặc thay đổi theo hướng tăng nặng cho bị cáo, nếu đã kháng nghị theo hướng tăng nặng thì không được bổ sung hình phạt khác hoặc thay đổi bằng loại hình phạt khác nặng hơn
b Rút kháng nghị phúc thẩm.
Cùng với việc quy định cho Viện kiểm sát có quyền kháng nghị thì BLTTHS
2003 cũng quy định cho Viện kiểm sát có quyền rút kháng nghị đó Theo điều 238 BLTTHS 2003, sau khi kháng nghị Viện kiểm sát đã kháng nghị có quyền rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị đó trước khi bắt đầu hoặc tại phiên tòa phúc thẩm Mặc dù điều luật không quy định rõ chủ thể có thẩm quyền rút kháng nghị nhưng có thể hiểu là Viện kiểm sát đã kháng nghị hoặc Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp của Viện kiểm sát đó có quyền rút kháng nghị phúc thẩm là khoảng thời gian được tính như việc bổ sung, thay đổi kháng nghị
Trong trường hợp, Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị trước khi bắt đầu hoặc tại phiên tòa thì việc xét xử phúc thẩm phải được đình chỉ (khoản 2 điều 238 BLTTHS 2003)
Quy định về việc bổ sung, thay đổi, rút kháng nghị tại điều 238 BLTTHS 2003 tạo điều kiện để Viện kiểm sát có thẩm quyền đề đạt yêu cầu của mình cũng như kịp thời thay đổi những nội dung kháng nghị chưa thỏa đáng góp phần hạn chế chi phí tố tụng, giảm số lượng án cấp phúc thẩm phải xét xử lại Tuy nhiên, quy định về bổ sung, thay đổi, rút kháng nghị tại điều 238 BLTTHS 2003 chưa cụ thể dẫn đến nhiều cách hiểu và các cách áp dụng khác nhau
III THỰC TIỄN THỰC HIỆN VIỆC KHÁNG NGHỊ THEO THỦ TỤC PHÚC THẨM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ.
Một số tiến bộ đạt được trong công tác kháng nghị phúc thẩm:
- Số lượng kháng nghị phúc thẩm tăng lên: Từ 1/6/2008 đến 31/5/2010, các đơn vị trong toàn Ngành đã kháng nghị phúc thẩm đối với 2384 vụ án hình sự, tính trung bình 1 năm là 1192 vụ Số lượng kháng nghị phúc thẩm này cao hơn đáng kể so với
Trang 8thời điểm trước nếu như năm 2005 là 921 kháng nghị, năm 2006 là 1013 và năm
2007 là 988 kháng nghị Bên cạnh đó, tình trạng có những “điểm trống” về kháng
nghị cũng dần được khắc phục Một điểm nữa đáng được ghi nhận là số kháng nghị trên cấp đã tăng lên rõ rệt Riêng năm 2009 và 6 tháng đầu năm 2010, các Viện phúc thẩm 1, 2, 3 và các Viện kiểm sát cấp Tỉnh đã ban hành được 479 kháng nghị phúc thẩm trên cấp Một số đơn vị như các Viện phúc thẩm 1, 2, 3 và Phòng 3 ở nhiều Viện kiểm sát cấp tỉnh như thành phố Hồ Chí Minh, Bến Tre, Hải Dương,…đã trực tiếp hoặc tham mưu ban hành được số kháng nghị phúc thẩm trên cấp tăng gấp nhiều lần những năm trước
- Chất lượng kháng nghị phúc thẩm tăng lên: Hiện nay, nhìn chung các bản kháng nghị phúc thẩm đã phát hiện đúng vi phạm; kháng nghị đã chính xác hơn; cách viết kháng nghị tốt hơn; lập luận rõ ràng, chặt chẽ hơn; viện dẫn chính xác hơn các căn
cứ pháp lý; về hình thức đã đảm bảo theo quy định, ít thiếu sót hơn Do chất lượng kháng nghị được nâng lên, nên số kháng nghị được Viện kiểm sát cấp phúc thẩm bảo
vệ và số kháng nghị được Tòa án chấp nhận cũng tăng lên rõ rệt Trong 3 năm
2001-2003 trung bình cấp phúc thẩm bảo vệ kháng nghị đối với 67% số bị cáo có kháng nghị phúc thẩm, trong ba năm tiếp theo từ 2004-2006 là 77,2% Từ năm 2008-2010,
tỷ lệ này đã tăng lên 89,2% Số lượng kháng nghị phúc thẩm trên cấp thời gian qua không những tăng về số lượng mà đa số có chất lượng rất tốt Kháng nghị phúc thẩm của các Viện phúc thẩm 1, 2, 3 thường được Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận với
tỷ lệ khá cao, nhiều thời điểm đạt tỷ lệ 100% Trong thời điểm từ 1/7/2008 đến 31/5/2010, phòng 3 Viện kiểm sát TP Hồ Chí Minh kháng nghị trên cấp 30/34 bị cáo, qua xét xử Tòa án chấp nhận 87,5%; kháng nghị phúc thẩm trên cấp của Viện kiểm sát tỉnh Hưng Yên được Tòa án chấp nhận 100%;…
Một số thiếu sót tồn tại trong công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự:
Ở nhiều nơi, Viện kiểm sát lại lúng túng trong việc xác định vi phạm cần kháng nghị phúc thẩm nên gặp trường hợp vi phạm lặt vặt, chỉ cần rút kinh nghiệm là đủ, Viện kiểm sát vẫn kháng nghị, về sau rất khó bảo vệ quan điểm tại phiên phúc thẩm Thậm chí nhiều vụ tòa sơ thẩm đã xử đúng, Viện kiểm sát lại đánh giá sai nên kháng nghị không chính xác
Số lượng án kháng nghị chiếm tỷ lệ thấp trong tổng số án cấp phúc thẩm thụ lý, xét xử (trong khi đó lượng án cải sửa do kháng cáo chiếm tỷ lệ cao từ 15% đến 20%
số vụ án xét xử phúc thẩm) Một số vụ án có sai sót hoặc bị huỷ án, cải sửa án nhưng không được xem xét để kháng nghị Một số vụ án Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử chưa đánh giá đúng tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, dư luận xã hội và yêu cầu nhiệm vụ chính trị địa phương nên
đề nghị mức hình phạt không sát đúng, hoặc chưa thực hiện nghiêm quy chế nghiệp
vụ cũng như công tác kiểm sát bản án do đó có nhiều bản án sai sót, xét xử không
Trang 9nghiêm minh, ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm Một số vụ
án Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm hình sự chưa nắm vững các quy định của pháp luật dân sự, chưa chú trọng trọng trong việc đề xuất phần dân sự nên không phát hiện được những vi phạm của Toà án để kháng nghị kịp thời Một số Viện kiểm sát trong nhiều năm liền không có kháng nghị phúc thẩm hình sự
Hình thức và nội dung kháng nghị còn một số tồn tại, thiếu sót: Một số kháng nghị không đảm bảo đúng theo mẫu quy định của VKSND tối cao; ký hiệu văn bản không thống nhất; dùng từ thiếu chặt chẽ hoặc không đúng về mặt pháp lý; nội dung kháng nghị chưa đi sâu phân tích đánh giá tính chất, mức độ hậu quả của hành vi phạm tội, mà đề cập một cách chung chung; đề nghị không cho bị cáo hưởng án treo không có căn cứ, tính thuyết phục không cao
IV KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ KHÁNG NGHỊ THEO THỦ TỤC PHÚC THẨM.
1 Căn cứ kháng nghị phúc thẩm hình sự.
Hiện nay, BLTTHS 2003 chưa quy định về căn cứ kháng nghị phúc thẩm hình sự Tuy nhiên, để thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm đảm bảo tính có căn cứ và tính thống nhất VKSNDTC đã ban hành Quy chế thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự ban hành kèm theo Quyết định số 960/QĐ-VKSTC ngày 17/9/2007 của Viện trưởng VKSNDTC, trong đó khoản 1 điều 33 đã quy định về căn cứ kháng nghị phúc thẩm hình sự Để các căn cứ này có cơ sở pháp lý rõ ràng, tạo điều kiện thực hiện cho việc kháng nghị phúc thẩm trong thực tiễn, cần bổ sung một điều luật quy định về căn cứ kháng nghị phúc thẩm hình sự giống như điều 273, điều 291 BLTTHS 2003 trên các cơ sở các căn cứ được quy định tại khoản 1 điều 33 Quy chế thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự Theo em, có thể bổ sung điều luật về căn cứ kháng nghị phúc thẩm hình sự như sau:
“ Điều…Những căn cứ kháng nghị phúc thẩm:
Bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, khi có một trong những căn cứ sau đây:
1 Việc điều tra, xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm phiến diện hoặc không đầy đủ;
2 Kết luận của bản án hoặc quyết định hình sự sơ thẩm không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án;
3 Có vi phạm trong việc áp dụng Bộ luật hình sự;
4 Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng luật định hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng.”
Đồng thời, cũng cần ban hành một văn bản hướng dẫn cụ thể về cách hiểu các căn cứ kháng nghị trong phúc thẩm tố tụng hình sự đã được quy định nhằm áp dụng thống nhất các quy định về căn cứ kháng nghị phúc thẩm tố tụng hình sự, tránh tình
Trang 10trạng kháng nghị tràn lan không cần thiết hoặc bỏ sót những vi phạm mà không kháng nghị phúc thẩm
2 Thời hạn kháng nghị phúc thẩm.
BLTTHS năm 2003 quy định về thời hạn kháng nghị trong phúc thẩm hình sự là hợp lý, bên canh đó Nghị quyết 05/2005/NĐ-HĐTP tại mục 4 phần I hướng dẫn về điều 234 BLTTHS năm 2003 đã hướng dẫn rất cụ thể và chi tiết thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc của thời hạn kháng nghị phúc thẩm hình sự
Theo quy định tại khoản 1 điều 234 BLTTHS 2003: “Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là mười lăm ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là ba mươi ngày, kể từ ngày tuyên án” Đồng thời, điều 299 BLTTHS quy định “trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày tuyên án, Tòa án cấp sơ thẩm phải giao bản án cho
bị cáo, Viện kiểm sát cùng cấp…” Việc quy định đồng thời hai quy định tại hai điều
luật trên tồn tại những điểm chưa hợp lý Việc quy định thời hạn giao bản án ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện quyền kháng nghị của Viện kiểm sát, ảnh hưởng đến việc đảm bảo thời hạn kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát Để giải quyết
vấn đề này, có thể đưa ra một số hướng giải quyết như sau: Thứ nhất, kéo dài thời
hạn kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và của Viện kiểm
sát cấp trên trực tiếp Thứ hai, thay đổi quy định về cách tính thời điểm bắt đầu thời
hạn kháng nghị phúc thẩm, quy định thời điểm bắt đầu tính thời hạn kháng nghị là
“kể từ ngày nhận được bản án” thay vì “kể từ ngày tuyên án” như hiện nay Thứ ba,
rút ngắn thời hạn gửi bản án của Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi bản án cho Viện kiểm sát trong thời hạn 5 ngày thay cho thời hạn 10 ngày như hiện nay kể từ ngày tuyên án Cách giải quyết theo hướng thứ nhất và hướng thứ hai là không khả thi Việc kéo dài thời hạn kháng nghị phúc thẩm cũng như thay đổi cách xác định thời điểm bắt đầu tính thời hạn kháng nghị như trên sẽ kéo dài thời gian giải quyết vụ án, chi phí tốn kém, kéo dài thời gian bản án bắt đầu có hiệu lực pháp luật, ảnh hưởng đến việc thi hành bản án hoặc quyết định Vì vậy, hướng giải quyết thứ ba là rút thời hạn giao bản án của Tòa án cấp sơ thẩm cho Viện kiểm sát là một giải pháp hợp lý và khả thi hơn cả Bởi, thực tế xét xử hiện nay khá phổ biến tình trạng bản án tuyên tại phiên tòa là bản án được dự thảo sẵn, sau khi kết thúc phiên
tòa Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa có sự “sửa chữa” về hình thức và nội dung, do đó
mà không quá mất nhiều thời gian Mặt khác, mỗi Thẩm phán đều có thư ký giúp việc từ khi chuẩn bị mở phiên tòa, tại phiên tòa và sau phiên tòa, nên việc giao bản
án sau phiên tòa càng thuận lợi hơn Đồng thời, việc đó góp phần giúp tăng cường trách nhiệm của Tòa án cấp sơ thẩm, giúp cho vụ án được giải quyết nhanh chóng
Do đó, theo quan điểm của cá nhân, em nghĩ nên sửa đổi đoạn 1 điều 299 BLTTHS
năm 2003 theo hướng sau: “Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày tuyên án, Tòa án cấp sơ thẩm phải giao bản án cho bị cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, người bào chữa”.