A.MỞ BÀI Hiện nay các quan hệ xã hội này càng đa dạng và phức tạp,nên các tranh chấp cũng tăng lên về cả số lượng cũng như tính chất vụ tranh chấp.Khi xảy ra tranh chấp thì tòa án thường
Trang 1MỤC LỤC
A.MỞ BÀI
B.THÂN BÀI
I.CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.Khái niện khởi kiện vụ án dân sự
2.ý nghĩa của việc khởi kiện vụ án dân sự
II.ĐIỀU KIỆN KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ
1.Chủ thể khởi kiện
2.Vụ án khởi kiện phải thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án
3.Vụ án chưa được giải quyết bằng một bản án hay quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền,trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
4.Vụ án vẫn còn thời hiệu khởi kiện
III.KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ
C.KẾT BÀI
Trang 2A.MỞ BÀI
Hiện nay các quan hệ xã hội này càng đa dạng và phức tạp,nên các tranh chấp cũng tăng lên về cả số lượng cũng như tính chất vụ tranh chấp.Khi xảy ra tranh chấp thì tòa án thường là lựa chọn tối ưu mà các bên hướng tới.Bởi vì khi giải quyết các tranh chấp tại tòa án thì các tranh chấp thường được giải quyết một cách triệt để,các quyết định giải quyết được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh nhà nước Nhưng không phải mọi tranh chấp khi yêu cầu tòa án giải quyết thì đều được tòa án thụ lí để giải quyết mà chỉ những vụ việc dân sự nào đáp ứng điều kiện thì mới được thụ lí.Chính vì vậy việc tìm hiểu về điều kiện để tòa án thụ lí giải quyết vụ việc dân sự là
rất cần thiết.Trong phạm vi bài này em xin đi tìm hiểu về điều kiện khởi kiện vụ án dân sự và kiến nghị để hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
B.THÂN BÀI I.CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.Khái niện khởi kiện vụ án dân sự
Ta có thể hiểu một cách chung nhất thì:Khởi kiện vụ án dân sự là việc cá nhân,cơ quan,tổ chức hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật TTDS nộp đơn yêu cầu tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền,lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác,bảo vệ lợi ích công cộng và lợi ích nhà nước
Khởi kiện vụ án dân sự là giai đoạn đầu tiên của TTDS,đây là hành vi tố tụng đầu tiên của nguyên đơn làm phát sinh các quan hệ pháp luật TTDS.Trong giai đoạn này nguyên đơn xác định rõ yêu cầu để tòa án giải quyết.Yêu cầu của nguyên đơn chính là lợi ích trong quan hệ pháp luật nội dung mà nguyên đơn mong muốn tòa án xác định cho mình
Ta thấy,khởi tố vụ án hình sự,khởi kiện vụ án dân sự và khởi kiện vụ án hành chính đều là giai đoạn mở đầu của quá trình tố tụng và nếu không có giai đoạn này thì
sẽ không có giai đoạn tiếp theo.Nhưng chúng lại có những điểm khác nhau.Nếu như trong khởi tố vụ án hình sự chủ thể có thẩm quyền khởi tố là các cơ quan có thẩm quyền,còn cá nhân cơ quan,tổ chức theo quy định tại điều 101 bộ luật TTHS thì không
Trang 3có quyền tự mình khởi tố vụ án hình sự mà chỉ có quyền tố giác thông tin về tội phạm cho các cơ quan có thẩm quyền.Trong khi đó cá nhân,cơ quan,tổ chức,hộ gia đình,tổ hợp tác có quyền khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình,của người khác,bảo vệ lợi ích nhà nước,lợi ích công cộng.Còn đối với khởi kiện
vụ án hành chính thì trước khi khởi kiện các cá nhân,cơ quan,tổ chức phải khiếu nại tới người có thẩm quyền để giải quyết khiếu nại(thủ tục tiền tố tụng).Còn đối với vụ án dân sự thì chủ thể khởi kiện có thể khởi kiện ngay ra tòa trừ một số trường hợp đặc biệt
2.ý nghĩa của việc khởi kiện vụ án dân sự.
Thứ nhất,khởi kiện vụ án dân sự là phương thức hữu hiệu để cac chủ thể có thể hành động để tự bảo vệ các quyền dân sự của mình tránh nguy cơ bị xâm phạm xảy ra như:Khởi kiện để đòi lại tài sản,khởi kiện để yêu cầu chấm dứt hành vi cảm trở trái pháp luật đối với thực hiện quyền dân sự hay kiện để yêu cầu bồi thường thiệt hại Thứ hai,qua việc khởi kiện VADS thì các cơ quan nhà nước sẽ có can thiệp kịp thời thông qua hoạt động xét xử từ đó sẽ bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp,sớm khắc phục được các thiệt hại,ngăn chặn và chấm dứt hành vi trái pháp luật và sớm khôi phục mối quan hệ thiện chí,giao hòa giữa các bên trong dân sự
II.ĐIỀU KIỆN KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ
1.Chủ thể khởi kiện
Đây là điều kiện đầu tiên để đơn khởi kiện VADS được tòa án thụ lí.Chủ thể khởi kiện vụ án dân sự là các chủ thể theo quy định của pháp luật được tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự được quy định tại điều 161 và 162 bộ luật TTDS,bao gồm:cá nhân,cơ quan,tổ chức,hộ gia đình,tổ hợp tác.Chủ thể thực hiện quyền khởi kiện phải đáp ứng được hai yêu cầu:
Thứ nhất chủ thể đó phải có năng lực chủ thể TTDS đó cính là năng lực pháp luật TTDS và năng lực hành vi TTDS
Năng lực pháp luật TTDS quy định tại khoản 1 điều 157 bộ luật TTDS.Đây được coi là điều kiện cần để một chủ thể có năng lực chủ thể.NLPLTTDS là biểu hiện quyền bảo vệ các quyền,lợi ích trước tòa án của chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật DS.NLPLTTDS của cá nhân xuất hiện khi cá nhân được sinh ra và chấm dứt khi chết đi.Khác với cá nhân NLPLTTDS của tổ chức xuất hiện khi tổ chức được thành lập và
Trang 4mất đi khi tổ chức chấm dứt hoạt động.NLPLTTDS của hộ gia đình phát sinh đồng thời với việc hình thành hộ gia đình với tư cách chủ thể(Việc xác định NLPHTTDS của hộ gia đình phải căn cứ vào điều kiện thực tế tồn tại trong gia đình đó).NLPLTTDS của tổ hợp tác phát sinh đồng thời với việc thành lập và chấm dứt khi tổ hợp tác đó không còn tồn tại
NLHVTTDS Là khả năng thực tế bằng hành vi của mình chủ thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự.Đây là điều kiện đủ để có năng lực chủ thể.Đối với cá nhân
để được coi là có NLHVTTDS thì cá nhân phải đạt từ đủ 18 tuổi trở lên và có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình.Tức là họ không bị mất,bị hạn chế NLHVDS thì có thể tự mình tham gia tố tụng.Nhưng vẫn có trường hợp cá nhân chưa đủ 18 tuổi nhưng vẫn được tự mình tham gia tố tụng đó là trong trường hợp họ từ đủ 15 tuổi đến đưới 18 tuổi đã tham gia quan hệ lao động theo hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân
sự bằng tài sản riêng của mình.Còn đối với các trường hợp còn lại thì việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ tại tòa án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện.Đối với cơ quan tổ chức NLHVTTDS phát sinh,tồn tại,chấm dứt đồng thời với thời điểm thành lập và chấm dứt hoạt động của cơ quan tổ chức đó.Hộ gia đình NLHVTTDS phát sinh khi hình thành hộ gia đình với tư cách chủ thể.Đối với tổ hợp tác NLHVTTDS phát sinh và chấm dứt đồng thời với việc thành lập và không còn tồn tại của tổ hợp tác với tư cách một chủ thể
Thứ hai các chủ thể khởi kiện vụ án dân sự phải có quyền lợi ích bị xâm phạm hoặc khởi kiện để bảo vệ lợi ích của người khác,lợi ích nhà nước,lợi ích công cộng
Cá nhân có quyền tự mình thực hiện hành vi khởi kiện hoặc ủy quyền cho người khác có NLHVTTDS thay mặt mình khởi kiện(trừ việc ly hôn) khi các quyền hoặc lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm
Cơ quan tổ chức sẽ do người đại diện theo pháp luật thực hiện hoặc có thể ủy quyền cho người khác có đủ NLHVTTDS thực hiện việc khởi kiện khi có quyền,lợi ích
bị xâm phạm hoặc để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác theo quy định của pháp luật.Chẳng hạn như cơ quan về dân số,gia đình,trẻ em hoặc hội liên hiệp phụ
nữ việt nam có quyền khởi kiện đối với vụ án trong luật hôn nhân gia đình(xác định cha me cho con,nghĩa vụ cấp dưỡng);Công đoàn cấp trên công đoàn cơ sở có quyền
Trang 5bảo vệ lợi ích của người lao động;Cơ quan nhà nước khởi kiện để bảo vệ lợi ích nhà nước,lợi ích công cộng về lĩnh vực mà mình phụ trách
Hộ gia đình,tổ hợp tác thì thông qua người đại diện để tham gia vào TTDS để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình khi các quyền,lợi ích hợp pháp đó bi xâm phạm hay bị tranh chấp.Chủ hộ hoặc thành viên khác trong gia đình được chủ hộ ủy quyền thực hiện việc khởi kiện vụ án dân sự.Đối với tổ hợp tác thì quyền khởi kiện được thực hiện bởi tổ trưởng do các tổ viên bầu ra hoặc tổ viên được tổ trưởng tổ hợp tác bầu ra
2.Vụ án khởi kiện phải thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án
Điều kiện thứ hai đó là vụ án phải thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án vì tòa án chỉ thụ lí VADS đối với những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của mình.Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của tòa án được quy định tại các điều 25,27,29,33,34,35 và 36 bộ luật TTDS bao gồm thẩm quyền theo loại việc,thẩm quyền theo cấp và thẩm quyền theo lãnh thổ.Việc xác đinh đúng thẩm quyền giải quyết của tòa án sẽ tránh được sự chồng chéo trong việc thực hiện nhiệm vụ của tòa án với các cơ quan nhà nước khác,giữa các tòa án với nhau góp phần giải quyết đúng đắn vụ án,tạo điều kiện cho các đương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.Để xác đinh đúng thẩm quyền giải quyết của mình trước hết tòa án phải xem tranh chấp đó có thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án theo loại việc không.Tức là nội dung yêu cầu tòa án giải quyết có được quy định tại các điều 25,27 và 29 BLTTDS không?.Tiếp theo đó phải xem xét thẩm quyền theo cấp xét xử quy định tại các diều 33 và 34 BLTTDS và đúng thẩm quyền theo lãnh thổ quy định tại các điều 35 và 36 BLTTDS.Đối với trường hợp người khởi kiện có quyền lựa chọn tòa án theo điều 36 BLTTDS thì yêu cầu đương
sự cam kết không khởi kiện tại các tòa án khác còn nếu do cấc bên thỏa thuận lựa chọn tòa án giải quyết thì phải kiểm tra tính hợp pháp của thỏa thuận
Đối với những tranh chấp mà pháp luật có quy định phải trải qua thủ tục tiền tố tụng thì mới được yêu cầu tòa án giải quyết thì phải tuân thủ quy định này.Theo quy định của pháp luật,đối với việc pháp luật phải yêu cầu cơ quan khác giải quyết trước thì chủ thể khởi kiện chỉ được khởi kiện vụ án khi các cơ quan hữu quan đã giải quyết
mà họ không đồng ý với việc việc giải quyết đó hoặc cơ quan tổ chức đó không giải quyết trong thời gian luật định.Chẳng hạn như đối với tranh chấp đất đai;Tranh chấp
Trang 6lao động cá nhân trừ một số trường hợp không bắt buộc hòa giải tại cơ sở(Tranh chấp
về xử lý kỉ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động );Tranh chấp về lao động tập thể về quyền theo quy định tại điều 170a và 170b bộ luật lao động ;Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra.Mặc dù hiện nay chưa có văn bản pháp luật nào quy định các tranh chấp đất đai phải được hòa giải tại UBND xã trước khi khởi kiên đến tòa án nhưng trên thực tiễn thì các tranh chấp về đất đai phải được hòa giải tại ủy ban nhân dân cấp xã mà một bên hoặc các đương sự không nhất trí thì được khởi kiện ra tòa án.Nếu như chưa được hòa giải tại UBND xã thì tòa án trả lại đơn khởi kiện trừ trường hợp tranh chấp tài sản chung là quyền sử dụng đất trong vụ án
ly hôn,khi đó tòa sẽ giải quyết luôn cả việc ly hôn và tranh chấp đó mà không yêu cầu phải hòa giải tại UBND xã rồi mới thu lý.Hiện nay có hai loại tranh chấp đang còn tranh cãi là có phải trải qua giải quyết ở cơ quan khác trước khi đưa ra tòa án hay không đó là tranh chấp hoạt động quyền báo trí và tranh chấp về kinh doanh thương mại mà pháp luật lại chưa có quy định rõ
3.Vụ án chưa được giải quyết bằng một bản án hay quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền,trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Nhằm đảm bảo hiệu lực của bản án,quyết định và các quan hệ xã hội một việc đã được giải quyết thì không giải quyết lại nữa để tránh tình trạng chồng chéo cùng một
sự việc mà nhiều cơ quan giải quyết và tránh kéo dài việc khởi kiện của đương sự thì tòa án chỉ thụ lí giải quyết những việc trước đó chưa được giải quyết bằng bản án quyết định của tòa án hoặc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật.Trừ một số trường hợp sau đây:
Bản án bác đơn xin ly hôn của tòa án đã có hiệu lực pháp luật 1 năm
Yêu cầu xin thay đổi nuôi con,thay đổi mức cấp dưỡng;mức bồi thường thiệt hại
Vụ án đòi tài sản cho thuê,cho mượn;Đòi nhà cho thuê,cho mượn,cho ở nhờ mà tòa án chưa chấp nhận yêu cầu do chưa đủ điều kiện
Các trường hợp khác pháp luật quy định
Ngoài ra trường hợp tòa án đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại điểm c,e
Trang 7và g khoản 1 điều 192 BLTTDS bao gồm:Người khởi kiện rút đơn khởi kiện và được tòa án chấp nhận hoặc người khởi kiện không có quyền khởi kiện;Nguyên đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt;đã có quyết định của tòa án mở thủ tục phá sản đối vơi doanh nghiệp,hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ,tài sản của doanh nghiệp,hợp tác xã đó(khoản 1 điều 193 BLTTDS) thì đương sự có quyền khởi kiện lại.Vì vậy khi xem xét thì tòa án phải xem xét cẩn thận
4.Vụ án vẫn còn thời hiệu khởi kiện.
Việc quy định về thời hiệu khởi kiện vừa bảo vệ quyền,lợi ích của cá nhân,pháp nhân không bị xâm phạm vừa bảo đảm việc giải quyết vụ án dân sự thuận lợi.Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu tòa án giải quyết VADS bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm.Để xác định thời hiệu khởi kiện của vụ án dân sự thì khi nhận được đơn khởi kiện tòa án phải xem xét đầu tiên là luật nội dung có quy định về thời hiệu khởi kiện hay không nếu quy định thì áp dụng theo quy định đó.Chẳng hạn trong luật DS quy định thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp
về thừa kế là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế.Tiếp theo đó nếu không có quy định thì phải xem xét có thuộc trường hợp không áp dụng thời hiệu không(yêu cầu về bảo
vệ quyền nhân thân bị xâm phạm,trừ trường hợp pháp luật có quy định khác).Nếu cũng không thuộc thì áp dụng quy định tại điều 195 bộ luật tố tụng dân sự.Theo quy định của luật tố tụng dân sự tại điều 159 khoản 3 thì:”Thời hiệu khởi kiện vụ án dân
sự ”.Ngoài ra để bảo vệ quyền của các chủ thể trong một số trường hợp do nguyên nhân khách quan mà không khởi kiện được thì pháp luật quy định tại điều 161 bộ luật
DS không tính thời hiệu khoảng thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng,trở ngại khách quan Và quy định về bát đầu lại thời hiệu khởi kiện VADS theo quy định tại điều 162
bộ luật DS trong trường hợp:Bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện;Bên có nghĩa vụ thực hiện xong một phần nghĩa vụ của mình đối với bên khởi kiện;Các bên đã tự hòa giải với nhau.Trên thực tế Nghị quyết 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 tại tiểu mục 2.2 Mục 2 phần IV hướng dẫn cụ thể về thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện nhưng việc xác định không dễ dàng.vì vậy khi xem xét vụ án thì tòa án cần xem xét một cách cẩn thận
Ngoài các điều kiện trên thì đối với một số vụ án dân sự phải đáp ứng các điều
Trang 8kiện khác.Chẳng hạn như để cá nhân,tổ chức có thể ngay lập tức tiến hành khởi kiện khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm thì vụ việc đó không được rơi vào trường hợp hạn chế khởi kiện.Theo quy định của pháp luật TTDS những
vụ án tuy đương sự có quyền khởi kiện,nhưng tại một thời điểm nhất định,họ chưa được thực hiện quyền khởi kiện của mình.Ví dụ như tại điều 85 bộ luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì:”trong trường hợp vợ có thai ”.Như vậy nếu như vợ đang có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì người chồng có đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn thì tòa án sẽ không chấp nhận thụ lý
III.KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN KHỞI KIỆN VỤ
ÁN DÂN SỰ.
Thứ nhất cần hoàn thiện quy định về việc hòa giải trong tranh chấp đất đai trước khi khởi kiện ra tòa.Có những trường hợp thấy không cần thiết phải tiến hành hòa giải trước khi ra tòa án.Theo em cần có quy định cụ thể về các Trong đó đối với tranh chấp đất đai về thừa kế liên quan đến đất đai thì không nhất thiết phải hòa giải tại UBND xã.Vì các quy định về quan hệ thừa kế rất phức tạp với kiến thức của cán bộ cấp xã không thể xác định đúng vấn đề gây lãng phí thời gian
Thứ hai Về việc khiếu nại trước khi khởi kiện ra tòa án.Hiên nay quy định về khiếu nại ở cơ quan có thẩm quyền trước khi khởi kiện ra tòa án trong một số luật nội dung như Luật thương mại,luật báo trí vẫn chưa rõ ràng cụ thể.Việc này đã tạo ra nhiều quan điểm trái chiều về mặt lí luận cũng như thực tiễn trong việc giải quyết vụ án dân sự.Vì vậy pháp luật phải có quy định hướng dẫn thống nhất về vấn đề này.Nên quy định việc khiếu nại là thủ tục không bắt buộc để tạo thuận lợi cho các chủ thể bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình đồng thời bảo đảm quyền tự định đoạt của các đương sự
Thứ ba nên quy định về thẩm quyền khởi tố vụ án dân sự của VKS.Bởi vì việc quy định thẩm quyền khởi tố vụ án dân sự của VKS không làm mất đi quyền tự định đoạt của các đương sự trong quan hệ dân sự đồng thời đảm bảo sự can thiệp của nhà nước trong những trường hợp cần thiết.Chẳng hạn như trong trường hợp có hành vi vi phạm gây thiệt hại tài sản XHCN hoặc quyền lợi của người lao động trong quan hệ lao động,xâm phạm nghiêm trọng quyền lợi của người chưa thành niên hoặc người mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự và những trường hợp theo quy định tại các điều 15,42,55,66,77 Luật hôn nhân và gia đình nếu không có ai khởi kiện thì VKS có quyền
Trang 9khởi tố.
Thứ tư một số quy định về thời hiệu khởi kiện chưa hợp lý.Chẳng hạn như luật quy định về thời hiệu để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài của người chết để lại là 3 năm kể từ thời điểm mở thừa kế.Nhưng bên cạnh đó lại có quy định thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự không áp dụng trong việc thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với nhà nước,trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.Nhiều trường hợp khác nhau đối với quy định này.Ví dụ Giả sử anh A có người cha chết đã bốn năm Cơ quan thuế yêu cầu anh A phải trả nợ thuế của cha, nếu không sẽ khởi kiện.Trong trường hợp này, cách tính thời hiệu sẽ có hai cách hiểu Thứ nhất, cơ quan thuế cũng không khởi kiện người con trả thuế cho cha được vì đã hết thời hiệu (trên ba năm).Thứ hai, cơ quan thuế vẫn kiện được vì luật quy định không áp dụng thời hiệu đối với các nghĩa vụ nhà nước.Vì vậy cần quy định rõ hơn đối với trường hợp này
Thứ năm về thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của tòa án việc quy định thẩm quyền giải quyết các vụ án dân sự của tòa án theo vụ việc theo cách liệt kê như hiện nay dẫn đến tình trạng bỏ sót một số trường hợp như:Các tranh chấp về đấu thầu,đấu giá,độc quyền,bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, hợp đồng ủy thác thì không có quy định.Mặt khác trong việc xác định tòa án theo lãnh thổ vẫn còn nhiều vướng mắt trong việc phân định thẩm quyền giữa tòa án cấp tỉnh và tòa cấp huyện.Thẩm quyền tòa án theo lãnh thổ được quy định tại điều 34,35 bộ luật TTDS còn chưa hợp lí.Khi thụ lý vụ án tòa án phải xác định tòa án nào có thẩm quyền giải quyết vụ án,đối với nhiều vụ án việc xác định là khó khăn phức tạp quy định này gây khó khăn cho tòa án
để thụ lí đúng cũng như việc chuyển qua lại giữa các cấp xét xử và thời gian giải quyết tranh chấp.Chính vì vậy pháp luật cần phải có quy định đầy đủ, cụ thể rõ ràng hơn về vấn này
Thứ sáu về chủ thể khởi kiện,điều 57 BLTTDS quy định khá đầy đủ các nội dung
cơ bản của năng lực pháp luật TTDS và năng lực HVDS nhưng dường như lại đồng nhất phạm trù năng lực HVDS với năng lực HVTTDS,lấy điều kiện tham gia vào quan
hệ DS là điều kiện tham gia quan hệ PLTTDS là chưa hợp lý.Bởi vì hai quan hệ này là khác nhau.vì vậy cần phải quy định để hoàn thiện vấn đề này
C.KẾT BÀI
Trên đây là các điều kiện để khởi kiện vụ án dân sự theo quy định của pháp luật hiện
Trang 10hành Như vậy để bảo vệ một cách tốt nhất các quyền và lợi ích hợp pháp của mình các
cá nhân,cơ quan,tổ chức,hộ gia đình,hợp tác nắm rõ các điều kiện của việc khởi kiện
vụ án dân sự bởi vì tòa án chỉ thụ lí giải quyết vụ án dân sự khi đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật