1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá qui định của bộ luật dân sự năm 2005 của bộ luật dân sự năm 2005 về trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng

24 82 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 150,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghĩa vụ dân sự có thể phát sinh từ: HĐ dân sự, hành vi pháp lí đơn phương, hành vi chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sảnkhông có căn cứ pháp luật, hành vi gây thiệt hại trái p

Trang 1

1 Khái niệm trách nhiệm dân sự……….1

2 Khái niệm trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng……… 2

3 Quy định của pháp luật về trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng………….4

4 Các căn cứ làm phát sinh TNDS do vi phạm hợp đồng……… 10

5 Các trường hợp miễn trừ trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng………… 11

II Những bất cập trong quy định của pháp luật và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng………13

1 Quy định của pháp luật về trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng…………13

2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luạt về trách nhiệm dân sự

do vi phạm hợp đồng……….19

C KẾT LUẬN

Trang 2

MỞ ĐẦU

Ngày nay, khi nền kinh tế ngày càng phát triển, các giao dịch được diễn ra từnggiờ, không ai có thể phủ nhận vai trò và tầm quan trọng của hợp đồng trong các giaodịch dân sự Hợp đồng là công cụ hữu hiệu để các bên tiến hành và thực hiện các thỏathuận, giao kết “đôi bên cùng có lợi” Tuy nhiên không phải hợp đồng nào cũng có thểđem lại những kết quả tốt đẹp cho các bên giao kết Đó là khi việc thực hiện hợp đồngkhông đúng với những gì đã giao kết, lúc đó, bên vi phạm có thể sẽ phải chịu tráchnhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng

Trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng xuất hiện khá nhiều trong thực tế tuy nhiênbên cạnh những mặt tích cực thì quy định của pháp luật vẫn còn một số bất cập nhất

định Để làm rõ vấn đề này sau đây em xin lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Đánh giá qui

định của Bộ luật Dân sự năm 2005 của Bộ luật Dân sự năm 2005 về trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng”.

I Trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng

1 Khái niệm trách nhiệm dân sự

Có thể hiểu việc các chủ thể khi tham gia vào pháp luật dân sự có nghĩa vụ tuânthủ các quy định của pháp luật nói chung và pháp luật dân sự nói riêng, nếu vi phạm

họ sẽ gánh chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật Vì vậy có thể nói tráchnhiệm dân sự (TNDS) là một loại trách nhiệm pháp lí được áp dụng đối với các chủthể có hành vi vi phạm pháp luật dân sự, nó đem lại những hậu quả bất lợi về mặt tàisản đối với chủ thể bị áp dụng để buộc các chủ thể này khắc phục các thiệt hại do hành

vi vi phạm pháp luật của mình gây ra

Đặc điểm của TNDS:

Thứ nhất, TNDS mang đầy đủ các đặc điểm của trách nhiệm pháp lí nói chung.

Nó là hình phạt của hành vi vi phạm pháp luật, là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước

Trang 3

áo dụng đối với các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật và được cụ thể trong các vănbản pháp luật, cụ thể là trong BLDS năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành.TNDS được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế Nhà nước Đó là chế tàiđược áp dụng đối với chủ thể có hành vi vi phạm.

Thứ hai: Căn cứ để áp dụng TNDS là phải có hành vi vi phạm Đó có thể là hành

vi vi phạm các quy định trong các văn bản pháp luật hoặc cũng có thể là hành vi viphạm các thỏa thuận trong HĐ đã được kí kết và có hiệu lực pháp luật

Thứ ba: Khi TNDS được áp dụng bao giờ nó cũng mang lại những hậu quả bất

lợi đối với bên vi phạm, đó thường là những hậu quả bất lợi về mặt tài sản Bởi khi cóhành vi vi phạm pháp luật gây ra thiệt hại thì những thiệt hại đó chủ yếu là tài sản.Việc áp dụng TNDS nhắm bù đắp những tổn thất mà người bị vi phạm phải gánh chịu

do hành vi vi phạm pháp luật của người có hành vi vi phạm gây ra

vụ theo HĐ và phải gánh chịu TNDS Khoản 1 Điều 302 BLDS 2005 quy định: “Bên

có nghĩa vụ mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự thì phải chịu TNDS đối với bên có quyền” Nghĩa vụ dân sự có thể phát sinh từ: HĐ dân sự,

hành vi pháp lí đơn phương, hành vi chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sảnkhông có căn cứ pháp luật, hành vi gây thiệt hại trái pháp luật; hành vi thực hiệnkhông có ủy quyền và những căn cứ khác do pháp luật quy định (nghĩa vụ phát sinh từquy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, quy định của Tòa án…) TNDS do viphạm HĐ thực chất là TNDS do vi phạm nghĩa vụ theo HĐ Vì vậy, khi có hành vi vi

Trang 4

phạm HĐ thì các quy định về TNDS do vi phạm nghĩa vụ dân sự cũng được áp dụng

để điều chỉnh các quan hệ đó

TNDS do vi phạm HĐ là một loại trách nhiệm pháp lí, TNDS nói chung, vì vậy,

nó mang đầy đủ những đặc điểm của trách nhiệm pháp lí củaTNDS nói chung như đãtrình bày ở phần trên

Đặc điểm của TNDS do vi phạm hợp đồng

 Thứ nhất, TNDS do vi phạm HĐ chỉ áp dụng khi có hành vi vi phạm nghĩa vụtheo HĐ Nghĩa vụ bao giờ cũng là cái có trước và TNDS là cái có sau Chỉ khi có sự

vi phạm nghĩ vụ theo HĐ mới đặt ra vấn đề áp dụng TNDS do vi phạm HĐ Nghĩa vụdân sự theo HĐ rất đa dạng tùy theo từng loại HĐ kí kết, đó có thể là nghĩa vụ chuyểngiao vật, chuyển giao tiền trong HĐ mua bán tài sản; nghĩa vụ chuyển giao quyền sửdụng tài sản và tiền thuê trong HĐ thuê tài sản…Bất kể đó là nghĩa vụ gì thì chỉ cầnbên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụcủa mình trước bên có quyền đều bị coi là vi phạm HĐ và phải gánh chịu TNDS vềnhững hậu quả mà hành vi của mình gây ra

 Thứ hai, TNDS do vi phạm HĐ chi có thể phát sinh giữa các chủ thể nhất định,

đó là giữa các bên tham gia quan hệ HĐ (trừ trường hợp HĐ được kí kết vì lợi ích củabên thứ ba) Vì khi giao kết HĐ có hiệu lực các bên chủ thể mang quyền và nghĩa vụđối với nhau, khi bên này không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình thì sẽ ảnh hưởngđến quyền của bên kia và ngược lại

 Thứ ba, Mức độ phải gánh chịu hậu quả pháp lí bất lợi của bên vi phạm trướcbên bị vi phạm chỉ phụ thuộc vào các quy định của pháp luật, vào thiệt hại thực tế xảy

ra và còn phụ thuộc vào thỏa thuận trong HĐ

Từ việc phân tích những đặc điểm của TNDS noí chung và TNDS do vi phạm HĐnói riêng có thể rút ra được định nghĩa về TNDS do vi phạm HĐ như sau: TNDS do viphạm hợp đồng là trách nhiệm pháp lí được áp dung đối với bên có hành vi vi phạm

Trang 5

theo hợp đồng đem lại những hậu quả bất cho bên bị vi phạm nhằm bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp của bên bị vi phạm.

3 Quy định của pháp luật về trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng.

Khi một người có hành vi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng, hậu quả là họ phảigánh chịu TNDS trước người bị vi phạm Tùy thuộc vào hành vi vi phạm mà TNDS ápdụng có thể khác nhau TNDS đầu tiên được xem xét và áp dụng đó là trách nhiệmthực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ hợp đồng; nếu hành vi vi phạm dẫn đến gây thiệthại cho bên vi phạm thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại (TNBTTH) được áp dụng;nếu trong hợp đồng các bên đã thỏa thuận phạt vi phạm thì bên có hành vi vi phạm cótrách nhiệm trả cho bên vi phạm số tiền đã thỏa thuận trong hợp đống Tuy cùng làTNDS do vi phạm hợp đồng nhưng điều kiện áp dụng, cách thức thực hiện chúng rấtkhác nhau

a Trách nhiệm buộc phải thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ trong hợp đồng.

Khái niệm: khi người có nghĩa vụ không thực hiện, thực hiện không đúng, không

đầy đủ nghĩa vụ trong hợp đồng thì bên có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩmquyền áp dụng biện pháp cưỡng chế để buộc người có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩavụ

Có thể thấy khi bên có nghĩa vụ vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng không có nghĩa

là hợp đồng đã chấm dứt Bởi nó còn phụ thuộc vào ý chí của các bên tham gia quan

hệ hợp đồng hay quy định của pháp luật Hủy bỏ hay đơn phương chấm dứt hợp đồngđôi khi không phải là biện pháp tối ưu Bởi việc thực hiện hợp đồng vẫn là mối quantâm hàng đầu của các bên khi tham gia kí kết hợp đồng, đảm bảo cho các bên đạt đượclợi ích mà họ mong muốn từ việc thực hiện hợp đồng Trong nhiều trường hợp tiềnphạt vi phạm (PVP) hay tiền bồi thường thiệt hại (BTTH) không thể thay thế được cáclợi ích từ việc thực hiện hợp đồng Do đó, tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể mà bên cóquyền nên cân nhắc ký càng để lựa chọn biện pháp có lợi nhất cho mình Chỉ khi

Trang 6

không khắc phục được vi phạm bên có quyền mới áp dụng các biện pháp chế tài khácnhư hủy bỏ hợp đồng, PVP hay yêu cầu BTTH nếu có thiệt hại xảy ra.

Nội dung bao gồm:

+ Một là, Trách nhiệm dân sự do không thực hiện nghĩa vụ giao vật

Được quy định tại Điều 303 BLDS năm 2005:

“1 Khi bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ giao vật đặc định thì người có quyền được quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải giao đúng vật đó, nếu vật không còn hoặc bị hư hỏng thì phải thanh toán giá trị của vật.

2.Khi bên có nghĩa vụ không thực hiện được nghĩa vụ giao vật cùng loại thì phải thanh toán giá trị của vật.

3 Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện được nghĩa vụ theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà gây thiệt hại cho bên có quyền thì ngoài việc thanh toán giá trị của vật cần phải bồi thường thiệt hại cho bên có quyền.”

Có thể thấy, khi có sự vi phạm hợp đồng nói chung và vi phạm nghĩa vụ giao vậtnói riêng, TNDS được đặt lên hàng đầu là trách nhiệm tiếp tục thực hiện đúng nghĩa

vụ hợp đồng Việc thực hiện nghĩa vụ này giống với việc thực hiện nghĩa vụ dân sựthông thường nhưng khác ở chỗ nó được thực hiện sau khi đã có hành vi vi phạm hợpđồng với tư cách là một chế tài áp dụng đối với bên vi phạm chứ không còn đơn thuần

là việc thực hiện nghĩa vụ một cách tự nguyện Nó thường đi kèm với Trách nhiệm bồithường thiệt hại (TNBTTH) và được đảm bảo thực hiện bằng biện pháp cưỡng chế nhànước

+ Hai là, Trách nhiệm dân sự do không thực hiện nghĩa vụ phải thực hiện hoặckhông được thực hiện một công việc

Điều 304 BLDS 2005 đã quy định:

Trang 7

“1 Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện một công việc mà mình phải

thực hiện thì bên có quyền có thể yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện hoặc tự mình thực hiện hoặc giao cho người khác thực hiện công việc đó và yêu cầu bên có nghĩa vụ thanh toán chi phí hợp lý và BTTH.

2.Khi bên có nghĩa vụ không thực hiện một công việc mà lại thực hiện công việc đó khi bên có quyền được yêu cầu bên có nghĩa vụ phải chấm dứt việc thực hiện, khôi phục tình trạng ban đầu và bồi thường thiệt hại.”

Trong điều luật chỉ đề cập tới hành vi không thực hiện công việc phải làm hoặcthực hiện công việc không được phép làm, mà chưa đề cấp tới hành vi thực hiện khôngđúng, không đầy đủ Cần hiểu rằng bên có nghĩa vụ đã thực hiện công việc phải làmnhưng việc thực hiện đó không đúng, không đầy đủ như đã thỏa thuận trong hợp đồngthì cũng bị coi là vi phạm nghĩa vụ hợp đồng và phải gánh chịu trách nhiệm thực hiệnđúng và đầy đủ nghĩa vụ Công việc phải thực hiện là đối tượng của hợp đồng có thểđược hoàn thành với một kết quả nhất định nhưng cũng có thể hoàn thành mà khôngđem lại bất cứ kết quả nào

Cần lưu ý là việc tiếp tục thực hiện đúng và đầy đủ công việc phải làm chỉ ápdụng đối với nghĩa vụ không gắn liền với yếu tố nhân thân Đối với các công việc gắnliền với nhân thân, thường là các công việc liên quan đến tinh thần, khi bên có nghĩa

vụ không thực hiện nghĩa vụ thì bên có quyền cũng không thể yêu cầu Tòa án cưỡngchế thi hành được

+ Ba là, Trách nhiệm dân sự do chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự

Thời hạn thực hiện nghĩa vụ là một điều khoản quan trọng của hợp đồng Khi cácbên tham gia kí kết hợp đồng, việc thỏa thuận rõ ràng về thời hạn giúp các bên chủđộng trong việc thực hiện và tiếp nhận thực hiện nghĩa vụ hợp đồng là một thời điểmxác định hoặc là một khoảng thời gian kể từ khi hợp đồng được ký kết Bên có nghĩa

vụ phải thực hiện nghĩa vụ đúng vào thời điểm đó Bên có nghĩa vụ có thể thực hiện

Trang 8

nghĩa vụ trước thời hạn nếu được bên có quyền đồng ý hoặc tự ý thực hiện sớm nghĩa

vụ và được bên có quyền chấp nhận việc thực hiện nghĩa vụ thì được coi là hoàn thànhđúng thời hạn Nếu sau thời gian thỏa thuận mà bên có nghĩa vụ chưa thực hiện nghĩa

vụ thì bị coi là chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự

Điều 305 BLDS 2005 quy định:

“1 Khi nghĩa vụ dân sự chậm thực hiện thì bên có quyền có thể gia hạn để bên có

nghĩa vụ hoàn thành nghĩa vụ, nếu quá thời hạn này mà nghĩa vụ vẫn chưa được hoàn thành thì theo yêu cầu của bên có quyền bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ và bồi thường thiệt hại; nếu việc thực hiện nghĩa vụ không cần thiết đối với bên có quyền thì bên này có quyền từ chối tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ và yêu cầu bồi thường thiệt hại”.

+ Bốn là, Trách nhiệm dân sự do chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ dân sự Trong quan hệ hợp đồng, nếu một bên chủ thể có nghĩa vụ thực hiện đúng nghĩa vụhợp đống thì chủ thể phía bên kia có nghĩa vụ tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ đó.Khi bên có nghĩa vụ chậm thực hiện nghĩa vụ thì phải gánh chịu TNDS, dó đó khi bên

có quyền chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ cũng bị coi là vi phạm hợp đồng vàphải chịu TNDS

Điều 306 BLDS 2005 quy định: “Bên có quyền chậm tiếp nhận việc thực hiện

nghĩa vụ dân sự làm phát sinh thiệt hại cho bên có nghĩa vụ thì phải bối thường thiệt hại cho người đó và phải chịu rủi ro xảy ra kể từ thời điểm chậm tiếp nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.

Đối với trường hợp không giao vật, không giao đúng vật, không thực hiện mộtcông việc phải thực hiện thì bên có nghĩa vụ có trách nhiệm tiếp tục thực hiện đúng vàđầy đủ nghĩa vụ đó Nhưng đối với việc chậm thực hiện nghĩa vụ thì không thể khắcphục bằng cách thực hiện đúng nghĩa vụ theo như hợp đồng được, bởi không thể quaytrở lại thời gian Do đó, TNDS do chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự thường gắn với việc

Trang 9

gia hạn và BTTH Thực hiện nghĩa vụ trong khoảng thời gian được gia hạn chính làtiếp tục thực hiện nghĩa vụ hợp đồng.

Ngoài ra, khác với việc chậm thực hiện nghĩa vụ, bên có quyền có thể hủy bỏ hợpđồng và yêu cầu BTTH đối với bên chậm thực hiện nghĩa vụ Nhưng đối với trườnghợp bên có quyền chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ thì bên có nghĩa vụ khôngđược phép miễn thực hiện nghĩa vụ mà vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ, nhưngvẫn được pháp luạt bảo đảm một số quyền lợi Nếu việc chậm thực hiện nghĩa vụ củabên có quyền dẫn đến bên có nghĩa vụ bị thiệt hại thì bên có quyền có trách nhiệmBTTH

b Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng.

Có thể nói trong các loại TNDS do vi phạm hợp đồng, TNBTTH là loại tráchnhiệm được áp dụng phổ biến nhất Khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng dẫnđến gây thiệt hại, bên gây thiệt hại phải gánh chịu trách nhiệm bồi thường trước bên bịthiệt hại TNBTTH là loại trách nhiệm được áp dụng cho cả TNDS do vi phạm hợpđồng và TNDS ngoài hợp đồng Song, trong BLDS 2005 không có quy định nào địnhnghĩa về TNBTTH nói chung và TNBTTH do vi phạm hợp đồng nói riêng Tuy nhiên,Luật Thương mại là ngành luật tách ra từ BLDS, tại khoản 1 Điều 302 Luật thương

mại 2005 quy định: “Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn

thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên vi phạm” Cách tiếp cận của luật

thương mại 2005 có phần ngắn gọn hơn những đã thể hiện được bản chất củaTNBTTH Từ đó có thể rút ra khái niệm về TNBTTH trong hợp đồng như sau:

Khái niệm: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng là trách nhiệm dân sự

phát sinh do hành vi vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại nên phải bồi thườngthiệt hại đã gây ra tương ứng với mức độ lỗi của mình

Dù trong trường hợp hợp đồng được ký kết cac bên có thỏa thuận về TNBTTHhay không thi khi một bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng dẫn đến gây thiệt hại cho phía

Trang 10

bên kia, TNBTTH vẫn được áp dụng Đây là biện pháp bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp cho bên bị thiệt hại.

Đặc điểm của TNBTTH trong hợp đồng:

+ Giữa bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại có quan hệ hợp đồng hợp pháp

+ Nội dung của trách nhiệm phụ thuộc vào sự thoả thuận của các bên hoặc theoquy định của pháp luật

+ Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng chỉ giới hạn trong phạm vinhững thiệt hại thực tế và những thiệt hại có thể tiên liệu được vào thời điểm ký hợpđồng

+ Lỗi là một trong những điều kiện bắt buộc của trách nhiệm bồi thường thiệt hạitrong hợp đồng, nhưng không phân biệt hình thức lỗi là cố ý hay vô ý vì mức tráchnhiệm bồi thường không phân hóa theo hình thức lỗi như trách nhiệm bồi thường thiệthại ngoài hợp đồng

+ Thực hiện xong trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng không đươngnhiên làm chấm dứt quan hệ hợp đồng giữa các bên

Các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng:

+ Có thiệt hại xảy ra

Trang 11

- Phạt vi phạm được các bên thỏa thuận trong hợp đồng

Phạt vi phạm là sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạmphải nộp một khoản tiền cho bên vi phạm (Khoản 1 Điều 42 BLDS) Khác với BLDSnăm 1995, BLDS năm 2005 không quy định PVP là một trong các biện pháp bảo đảmthực hiện nghĩa vụ dân sự nữa mà nó được coi là một điều khoản được các bên thỏathuận trong hợp đồng Điều khoản PVP với ý nghĩa là sự trừng phạt đối với bên cóhành vi vi phạm trong hợp đồng, PVP chỉ được áp dụng trong một trường hợp duynhất là các bên có thỏa thuận trong hợp đồng, pháp luật không quy định về PVP màchỉ quy định về BTTH Do đó, mức phạt vi phạm cũng do các bên thỏa thuận tronghợp đồng

- Thứ hai, yếu tố lỗi:

Không phải mọi trường hợp cứ có hành vi vi phạm HĐ thì người vi phạm đều phảigánh chịu TNDS Họ chỉ phải gánh chịu trách nhiệm dân sự nếu họ có lỗi khi thựchiện hành vi vi phạm HĐ Đối với TNDS do vi phạm hợp đồng, bên có hành vivi

Trang 12

phạm phải chịu TNDS do lỗi cố ý, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc cácbên có thỏa thuận

Khoản 1 Điều 308 BLDS 2005 quy định: “Người không thực hiện hoặc thực hiện

không đúng nghĩa vụ dân sự thì phải chịu TNDS khi có lỗi cố ý hoặc vô ý, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác” Như vậy, ngoài quy định

của pháp luật, các bên có thể thỏa thuận về yếu tối lỗi trong hợp đồng, theo đó, bêngây thiệt hại vẫn phải chịu TNBTTH ngay cả khi không có lỗi hoặc bên gây thiệt hại

sẽ không phải chịu trách nhiệm bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do lỗi vô ý của ngườigây thiệt hại Cho đến nay, pháp luật vẫn chưa quy định trường hợp nào người có hành

vi vi phạm hợp đồng, không có lỗi vẫn phải chịu TNDS

Như vậy chỉ cần hội tụ đủ 2 điều kiện là có hành vi vi phạm HĐ và có lỗi thì lậptức TNDS do vi phạm HĐ phát sinh Đây chính là điểm khác biệt giữa TNDS do viphạm HĐ và TNBTTH

5 Các trường hợp miễn trừ trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng

5.1 Miễn trừ trách nhiệm dân sự do sự kiện bất khả kháng

Căn cứ để miễn trừ TNDS do sự kiện bất khả kháng được quy định tại khoản 1Điều 302 BLDS 2005 theo đó: “Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thể thực hiệnđược nghĩa vụ dân sự do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân

sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”

Sự kiện bất khả kháng phải thỏa mãn các điều kiện:

 Một là, sự kiện bất khả kháng không phải là sự kiện xảy ra một cách khách quankhông thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng các biệnpháp cần thiết và khả năng cho phép (khoản 1 điều 161 BLDS 2005)

Ngày đăng: 21/03/2019, 16:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w