Pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới quy định tách bạch hoạt động tố tụng liên quan đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh được giải quyết theo phương thức tố tụng tòa án thuộc bả
Trang 1A MỞ ĐẦU
Cạnh tranh với tính chất là động lực nội tại thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế chỉ tồn tại trong điều kiện kinh tế thị trường Cạnh tranh không những là môi trường và động lực thúc đẩy hoạt động kinh doanh phát triển, tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả của các doanh nghiệp, mà còn là yếu tố quan trọng làm lành mạnh hoá các quan hệ kinh tế – xã hội
Để tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh, pháp luật cạnh tranh được nhấn mạnh như một công cụ quan trọng hàng đầu Chính sách cạnh tranh là bộ phận không thể thiếu của nền tảng pháp lý đảm bảo cho một nền kinh tế thị trường vận hành trôi chảy Pháp luật cạnh tranh có nhiệm vụ ngăn ngừa và xử lý những hành vi cạnh tranh trái pháp luật, trái đạo đức và tập quán kinh doanh của các doanh nghiệp
Luật Cạnh tranh năm 2004 là đạo luật đầu tiên về cạnh tranh của Việt Nam, được ban hành trong điều kiện nền kinh tế thị trường đang dần dần được hình thành và hoàn thiện Để thi hành Luật Cạnh tranh, Chính phủ cũng đã có nhiều
nỗ lực trong việc hướng dẫn thi hành luật Cùng với Bộ luật Dân sự, Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và các văn bản pháp luật có liên quan, Luật Cạnh tranh góp phần quan trọng vào việc điều tiết cạnh tranh ở Việt Nam
Lịch sử xây dựng và thực thi luật và chính sách cạnh tranh trên thế giới đã chứng minh rằng cơ quan quản lý cạnh tranh có vai trò quyết định trong việc bảo đảm thực thi Luật cạnh tranh Từng quốc gia, tùy vào điều kiện chính trị –
xã hội cụ thể của mình mà xây dựng một mô hình cơ quan thực thi Luật cạnh tranh phù hợp nhằm đảm bảo thực thi Luật canh tranh một cách có hiệu quả nhất
Để tìm hiểu rõ hơn về cơ quan tiến hành tố tụng cạnh tranh, em xin trình
bày đề tài số 13: “Cơ quan tiến hành tố tụng cạnh tranh theo Luật cạnh tranh 2004”.
Trang 2B NỘI DUNG
I Khái quát về tố tụng cạnh tranh
1 Khái niệm và đặc điểm của tố tụng cạnh tranh
1.1 Khái niệm tố tụng cạnh tranh
Tố tụng cạnh tranh là thuật ngữ mới xuất hiện trong đời sống pháp lý ở Việt Nam trong những năm gần đây và chính thức được sử dụng trong Luật Cạnh Tranh Tố tụng cạnh tranh thực chất bao gồm thẩm quyền và thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh , đó là một trong những nội dung cơ bản và quan trọng của pháp luật cạnh tranh ở các quốc gia trên thế giới
Theo khoản 9 Điều 3 Luật Cạnh Tranh thì tố tụng cạnh tranh là hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo trình tự, thủ tục giải quyết, xử lý vụ việc cạnh tranh theo quy định của Luật Cạnh Tranh
1.2 Đặc điểm của tố tụng cạnh tranh
Tố tụng cạnh tranh có những đặc trưng cơ bản sau đây:
- Tố tụng cạnh tranh được áp dụng để giải quyết vụ việc cạnh tranh Khác với
các loại tố tụng khác, tố tụng cạnh tranh được áp dụng để giải quyết vụ việc cạnh tranh Theo Luật Cạnh Tranh, vụ việc cạnh tranh là vụ việc có dấu hiệu
vi phạm quy định của luật này bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều tra,
xử lí theo quy định của pháp luật
- Tố tụng cạnh tranh áp dụng cho cả hai loại hành vi vi phạm pháp luật cạnh
tranh có bản chất không giống nhau, đó là hành vi hạn chế cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh Đặc điểm này thể hiện sự khác biệt của
tố tụng cạnh tranh Việt Nam so với tố tụng cạnh tranh của nhiều quốc gia trên thế giới Pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới quy định tách bạch hoạt động tố tụng liên quan đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh được giải quyết theo phương thức tố tụng tòa án ( thuộc bản chất tố tụng dân sự ) chứ không thuộc tố tụng cạnh tranh như pháp luật cạnh tranh Việt Nam
Trang 3- Tố tụng cạnh tranh được tiến hành bởi các cơ quan hành pháp(không được
tiến hành bởi tòa án), thông qua hoạt động của thành viên hội đồng cạnh tranh, thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh, điều tra viên và thư ký phiên điều trần(thậm chí còn bao gồm cả Bộ trưởng Bộ công thương) đó là những người có trình độ chuyên môn cao cả về lĩnh vực tài chính, kinh tế, pháp lý
- Tố tụng cạnh tranh được áp dụng không nhất thiết phải dựa vào đơn khiếu
nại của bên có liên quan mà có thể được thực hiện bởi quyết định có tính chất hành chính của cơ quan quản lý cạnh tranh
2 Chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng cạnh tranh.
- Cơ quan tiến hành tố tụng cạnh tranh bao gồm: Cơ quan quản lý cạnh
tranh và Hội đồng cạnh tranh
- Người tiến hành tố tụng cạnh tranh bao gồm: thành viên hội đồng cạnh
tranh, thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh, điều tra viên và thư ký phiên điều trần
- Người tham gia tố tụng cạnh tranh bao gồm: những cá nhân, tổ chức có
quyền, nghĩa vụ tham gia vào các vụ việc cạnh tranh nhằm đảm bảo cho việc giải quyết vụ việc cạnh tranh được khách quan, công bằng, bảo đảm được lợi ích của xã hội, lợi ích hợp pháp của các bên có liên quan
II Cơ quan tiến hành tố tụng cạnh tranh
1 Cơ quan quản lí cạnh tranh.
Vị trí của cơ quan quản lý cạnh tranh
Cơ quan quản lý cạnh tranh của Việt Nam là một cơ quan thuộc hệ thống
cơ quan hành pháp mà cụ thể là thuộc Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thương)
Có thể khẳng định điều này bởi vì điều 7 Luật cạnh tranh đã quy định:
“Điều 7: Trách nhiệm quản lý nhà nước về cạnh tranh:
1 Chính phủ thống nhất Nhà nước quản lý về cạnh tranh.
Trang 42 Bộ Thương mại chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý
nhà nước về cạnh tranh”
Trong khi đó, Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh là do Bộ trưởng Bộ thương mại (nay là Bộ công thương) để Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm Hơn nữa ở các quy định liên quan đến thủ tục thực hiện miễn trừ, cơ quan quản lý cạnh tranh có vai trò như một cơ quan tham mưu, thay mặt cho Bộ thương mại (nay là bộ công thương) đứng ra thụ lý hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ, đề xuất ý kiến (để Bộ trưởng Bộ thương mại quyết định hoặc Bộ trưởng Bộ thương mại( nay là Bộ ông thương) trình Thủ tướng Chính phủ quyết định
Nếu căn cứ vào hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực tổ chức bộ máy nhà nước, có thể thấy rằng trong hệ thống cơ quan hành pháp của Việt Nam, Cơ quan quản lý cạnh tranh có vị trí tương đương với một Tổng cục thuộc Bộ Theo quy định tại nghị định số 178/2007/NĐ-CP ngày 03/12/2007 của chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ,
Cơ quan ngang Bộ thì trong cơ cấu, tổ chức, bộ máy của Bộ có thể có Cục hoặc Tổng Cục Tuy nhiên với cơ quan cấp Cục thì chức năng, nhiệm vụ là do Bộ trưởng quy định còn với cơ quan cấp Tổng cục thì chức năng, nhiệm vụ là do Thủ tướng chính phủ quy định
Chức năng của cơ quan quản lý cạnh tranh
Luật cạnh tranh quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lí cạnh tranh như sau:
“Điều 49 Cơ quan Quản lý cạnh tranh.
1 Chính phủ quyết định thành lập và quy định tổ chức, bộ máy của cơ quan quản lý cạnh tranh.
Trang 52 Cơ quan quản lý cạnh tranh có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a Kiểm soát quá trình tập trung kinh tế theo quy định của Luật này.
b Thụ lý hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ; đề xuất ý kiến để Bộ trưởng
Bộ thương mại quyết định hoặc trình Thủ tướng Chính phủ quyết định.
c Điều tra các vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
d Xử lý, xử phạt hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
e Các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.”
Theo quy định tại Điều 49 Luật cạnh tranh, Cơ quan quản lý cạnh tranh của Việt Nam vừa là cơ quan điều tra vừa là cơ quan xử lý vừa là cơ quan hành chính
Để cụ thể hóa các quy định của Luật Cạnh Tranh về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý cạnh tranh, Điều 1 Nghị định số 06/2006/NĐ-CP của Chính
phủ ngày 9/1/2006 đã quy định: “Cục Quản lý cạnh tranh là tổ chức trực thuộc
Bộ Thương mại có chức năng giúp Bộ trưởng Bộ Thương mại thực hiện quản lý nhà nước về cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp, áp dụng các biện pháp tự vệ đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam; bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; phối hợp với các doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng trong việc đối phó với các vụ kiện trong thương mại quốc tế liên quan đến bán phá giá, trợ cấp và áp dụng các biện pháp tự vệ”.
Như vậy, thẩm quyền tố tụng cạnh tranh của cơ quan quản lý cạnh tranh được tập trung chủ yếu ở nhiệm vụ điều tra các vụ việc cạnh tranh liên quan đến
Trang 6hành vi hạn chế cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh Ngoài ra, cơ quan quản lý cạnh tranh cũng có thẩm quyền sử phạt hành vi cạnh tranh không lành mạnh Đây là điểm đặc thù của pháp luật tố tụng cạnh tranh Việt Nam so với pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới Hành vi cạnh tranh không lành mạnh với bản chất là nhằm vào (xâm hại) các đối thủ cạnh tranh cụ thể (lợi ích
tư cần được bảo vệ) mà không nhằm xâm hại đến lợi ích chung của xã hội, cấu trúc cạnh tranh của thị trường (lợi ích công cần được bảo vệ) Bởi vậy, các chế tài được đặt ra với hành vi cạnh tranh không lành mạnh thường là đình chỉ hành
vi và bồi thường thiệt hại do hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây ra cho các đồi thủ cạnh tranh cụ thể Theo pháp luật Việt Nam, thiệt hại của các đối thủ cạnh tranh do hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây ra được xem xét bồi thường trong vụ kiện riêng theo thủ tục tố tụng dân sự
Cơ quan quản lý cạnh có chức năng điều tra xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, điều tra các hành vi hạn chế cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng, quản lý nhà nước về chống bán phá giá, chống trợ cấp và áp dụng các biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế
2 Hội đồng cạnh tranh.
Vị trí của hội đồng cạnh tranh
Hội đồng cạnh tranh là cơ quan do cơ quan do Chính phủ thành lập, có từ
11 đến 15 thành viên do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ công thương
Theo quy định của Luật Cạnh tranh, đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh, Cục Quản lý cạnh tranh( cơ quan quản lý cạnh tranh) chỉ đảm nhận vai trò điều tra, thu thập, tìm kiếm các chứng cứ có liên quan đến một vụ việc, còn việc xét xử, xử lý, đưa ra các quyết định, giải quyết khiếu nại có liên quan đến vụ
Trang 7việc cạnh tranh thì do Hội đồng cạnh tranh (Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh) đảm nhận
Như vậy, Hội đồng cạnh tranh của Việt Nam là cơ quan thuộc hệ thống cơ quan hành pháp và là cơ quan có vị trí tương đối độc lập trong mối quan hệ với
Bộ công thương Điều 2 Nghị định số 05/2006/NĐ-CP ngày 09/01/2006 về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của hội
đồng cạnh tranh cũng đã quy định: “Hội đồng cạnh tranh là cơ quan thực thi
quyền lực nhà nước độc lập”.
Theo quy định tại Điều 53 Luật cạnh tranh có thể thấy Hội đồng cạnh tranh
là một cơ quan thuộc hệ thống cơ quan hành pháp Luật cạnh tranh khẳng định Hội đồng cạnh tranh là cơ quan có vị trí độc lập tương đối trong mối quan hệ với
Bộ thương mại (nay là Bộ Công thương) Luật cạnh tranh quy định Bộ thương mại( nay là Bộ công thương) là cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về cạnh tranh, các thành viên hội đồng cạnh tranh do Bộ trưởng Bộ thương mại đề nghị Thủ tướng chính phủ bổ nhiệm nhưng Bộ trưởng
Bộ thương mại ( nay là Bộ công thương) lại không có quyền giải quyêt các khiếu nại đối với quyết định của Hội đồng cạnh tranh theo nguyên tắc “ việc giải quyết khiếu nại của cơ quan hành chính trước hết phải do cơ quan hành chính cấp trên trực tiếp xử lý” quy định tại Luật khiếu nại tố cáo Nói cách khác, quyết định giải quyết khiếu nại của hội đồng cạnh tranh là quyết định chung thẩm trong hệ thống cơ quan hành chính vì sau khi Hội đồng cạnh tranh giải quyết khiếu nại mà các bên vẫn không đồng ý thì các bên phải kiện ra Tòa
Chức năng của Hội đồng cạnh tranh
Hội đồng cạnh tranh là cơ quan có chức năng xem xét, xử lý đối với các vụ việc hạn chế cạnh tranh Quyết định của hội đồng cạnh tranh được thực hiện ở giai đoạn cuối của vụ việc liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh Hoạt động của hội đồng cạnh tranh được thực hiện trên cơ sở kết quả điều tra của các “điều tra
Trang 8viên” về những hành vi chế cạnh tranh Tuy được xếp vào hệ thống cơ quan hành pháp song hoạt động của hội đồng cạnh tranh lại mang tích chất của cơ quan tài phán do hội đủ những yếu tố cần thiết như: áp dụng pháp luật để ra phán quyết; thủ tục xử lý mang tính chất tranh tụng; quyết định của hội đồng cạnh tranh chỉ bị xét lại bởi hệ thống tòa án
Theo quy định tại Điều 53 Luật Cạnh tranh, Hội đồng cạnh tranh của Việt Nam là một cơ quan hành pháp nhưng hoạt động của hội đồng cạnh tranh lại được tổ chức xử lý theo chế độ tập thể chứ không theo chế độ thủ trưởng như các cơ quan hành pháp khác Cụ thể, trong số 11 đến 15 thành viên của Hội đồng cạnh tranh,Chủ tịch Hội đồng sẽ lựa chọn ít nhất 05 người để tham gia xử
lý một vụ việc cụ thể Hội đồng xử lý này sẽ quyết định vụ việc theo nguyên tắc biểu quyết đa số
Ban thư kí hoạt động thường xuyên Hội đồng cạnh tranh chỉ giải quyết các việc liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh, mà không giải quyết các vụ việc liên quan đến cạnh tranh không lành mạnh Hoạt động nghiệp vụ: được thực hiện thông qua hoạt động của hội đồng xử lí vụ việc cạnh tranh Khi có vụ việc thì chủ tịch hội đồng cạnh ttranh sẽ thành lập một hội đồng xử lí vụ việc hạn chế cạnh tranh ( theo vụ việc)
Cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn của hội đồng cạnh tranh
Hội đồng cạnh tranh là cơ quan do cơ quan do Chính phủ thành lập, có từ
11 đến 15 thành viên do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ công thương Theo quyết định của Thủ tướng chính phủ thì hội đồng cạnh tranh hiện nay gồm 15 thành viên trong đó có Chủ tịc và 2 Phó chủ tịch, 1 ủy viên thường trực và 11 ủy viên kiêm nhiệm
Hoạt động của thành viên hội đồng cạnh tranh mang tính tài phán, liên quan đến lĩnh vực còn mới mẻ và phức tạp, bởi vậy pháp luật luôn đặt ra tiêu chuẩn của thành viên hội đồng cạnh tranh cao hơn đối với tiêu chuẩn của điều
Trang 9tra viên về thời gian công tác thực tế trong lĩnh vực luật hoặc kinh tế, tài chính Theo điều 55 Luật cạnh tranh, thành viên hội đồng cạnh tranh phải đáp ứng đủ các tiêu chuẩn sau:
Điều 55 Tiêu chuẩn thành viên Hội đồng cạnh tranh
1 Người có đủ tiêu chuẩn sau đây có thể được bổ nhiệm làm thành viên Hội đồng cạnh tranh:
a) Có phẩm chất đạo đức tốt, trung thực, khách quan, có tinh thần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa;
b) Có trình độ cử nhân luật hoặc cử nhân kinh tế, tài chính;
c) Có thời gian công tác thực tế ít nhất là chín năm thuộc một trong các lĩnh vực quy định tại điểm b khoản 1 Điều này;
d) Có khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao.
2 Nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng cạnh tranh là năm năm và có thể được bổ nhiệm lại.
Theo khoản 2 Điều 53 Luật cạnh tranh, hội đồng cạnh tranh có nhiệm vụ, quyền hạn trong việc tổ chức xử lý, giải quyết khiếu nại đối với các vụ việc cạnh tranh liên quan đến các hành vi hạn chế cạnh tranh theo quy định của Luật cạnh tranh
Hội đồng cạnh tranh có bộ máy giúp việc là ban thư ký, bao gồm Trưởng ban và không quá 03 Phó trưởng ban cùng một số cán bộ, chuyên viên Ban thư
ký của hội đồng cạnh tranh có các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 2,
Trang 10Điều 3 Quyết định số 1128/QĐ-BCT của Bộ công thương ngày 05/03/2009 về việc quy định chức năng , nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của ban thư ký hội đồng cạnh tranh
3 Tổ chức và hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng cạnh tranh
Các nhà làm luật Việt Nam đã lựa chọn mô hình hệ thống gồm hai cơ quan
có thẩm quyền thực thi luật cạnh tranh và việc phân chia thẩm quyền là tư tưởng căn bản trong việc thực thi luật cạnh tranh Điều đó đương nhiên sẽ giới hạn thẩm quyền của các cơ quan trong hệ thống thi hành pháp luật theo chiều hướng phân công và chuyên môn hóa khi xử lý vụ việc cạnh tranh
Sự phân chia và giới hạn thẩm quyền nói trên giữa hai cơ quan thi hành Luật Cạnh tranh cho thấy vụ việc về hành vi hạn chế cạnh tranh được xử lý với thủ tục chặt chẽ, phức tạp hơn so với vụ việc cạnh tranh không lành mạnh Tính phức tạp thể hiện ở vai trò của Hội đồng cạnh tranh trong giai đoạn xử lý vụ việc, theo đó:
- Một khi vụ việc về hành vi hạn chế cạnh tranh đã chuyển qua giai đoạn
điều tra chính thức thì chỉ có thể bị đình chỉ hoặc được giải quyết bằng một quyết định xử lý của Hội đồng cạnh tranh, cơ quan quản lý cạnh tranh sẽ phải thực hiện cho trọn chức trách điều tra và chuyển kết quả cho Hội đồng cạnh tranh xử lý;
- Vụ việc sẽ được giải quyết bằng một hội đồng xử lý cụ thể làm việc
theo chế độ tập thể thay vì chế độ thủ trưởng của cơ quan quản lý cạnh tranh như trong vụ việc về cạnh tranh không lành mạnh Điều này còn cho thấy thái độ của pháp luật và Nhà nước đối với hành vi hạn chế cạnh tranh Dường như Nhà nước đã mạnh tay bằng các biện pháp mang tính quyền lực công như biện pháp buộc cơ cấu lại doanh nghiệp; tuyên
bố vô hiệu hợp đồng để đối trọng và kiểm soát quyền lực thị trường