1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nhận xét và đánh giá các quy định của pháp luật TTDS hiện hành về thủ tục tiến hành phiên tòa sơ thẩm dân sự và kiến nghị

9 212 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 70 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại phiên tòa sơ thẩm tập trung các hoạt động tố tụng của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng như thẩm phán, hội thẩm, thư ký tòa án, đương sự và người bảo vệ q

Trang 1

I Khái quát chung về phiên tòa sơ thẩm

Phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự là phiên xét xử vụ án dân sự lần đầu của tòa

án

Tất cả các vụ án dân sự nếu đã phải đưa ra xét xử thì đều phải trải qua việc xét xử tại phiên tòa sơ thẩm Phiên tòa sơ thẩm dân sự được tiến hành trong một thời điểm, thời gian nhất định Tại phiên tòa sơ thẩm tập trung các hoạt động tố tụng của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng như thẩm phán, hội thẩm, thư ký tòa án, đương sự và người bảo vệ quyền lợi của đương sự … Hội đồng xét xử thực hiện việc xét xử qua việc nghe các bên đương sự trình bày, tranh luận; kiểm tra, xác minh các tài liệu, chứng cứ của vụ án một cách toàn diện

và khách quan; áp dụng đúng pháp luật quyết định giải quyết vụ án

II Nhận xét, đánh giá các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về thủ tục tiến hành phiên tòa sơ thẩm dân sự hiện hành

Thủ tục phiên tòa sơ thẩm được quy định tại Chương XIV Bộ luật tố tụng dân sự (từ Điều 213 đến Điều 239) bao gồm các thủ tục: Bắt đầu phiên tòa, hỏi, tranh luận, nghị án và tuyên án

1 Bắt đầu phiên tòa

Thủ tục bắt đầu phiên tòa được quy định từ Điều 213 đến Điều 216 Bộ luật

tố tụng dân sự, bao gồm các thủ tục sau:

- Khai mạc phiên tòa: đây là thủ tục tố tụng bắt buộc phải thực hiện trước khi hội đồng xét xử tiến hành xét xử, được quy định tại Điều 213 Bộ luật tố tụng dân sự

- Giải quyết yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch: Theo quy định tại Điều 214 BLTTDS, trong trường hợp có người yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch thì hội đồng xét xử phải xem xét, nghe ý kiến của người bị thay đổi tại phiên tòa trước khi quyết định Quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch phải được hội đồng xét xử thảo luận, thông qua theo đa số tại phòng nghị án và lập thành văn bản

- Xem xét, quyết định hoãn phiên tòa khi có người vắng mặt: Khi có người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa mà thuộc trường hợp tòa án buộc phải hoãn phiên tòa theo quy định của Điều 215 BLTTDS thì hội đồng xét xử xem xét, quyết định hoãn phiên tòa, và quyết định hoãn phiên tòa cũng phải được hội đồng xét xử thảo luận, thông qua theo đa số tại phòng nghị án và phải được lập thành văn bản

Trang 2

- Bảo đảm tính khách quan của người làm chứng: Người làm chứng biết các tình tiết của vụ án dân sự Những thông tin mà người làm chứng khai báo, cung cấp cho tòa án rất có giá trị cho tòa án giải quyết vụ án Vì vậy, Điều 216 BLTTDS đã quy định để đảm bảo tính khách quan trong việc tham gia tố tụng của người làm chứng

Như vậy, các quy định về thủ tục bắt đầu phiên tòa của Bộ luật tố tụng dân sửaát chi tiết và cụ thể Với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về thủ tục bắt đầu phiên tòa thì vai trò của Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa là rất lớn Tất cả các hoạt động của Thẩm phán tại thủ tục này nhằm bảo đảm cho việc quản lý vụ án của Tòa

án được chặt chẽ, bảo đảm cho việc xét xử được đúng đối tượng, đúng thủ tục tố tụng và những người tham gia tố tụng được biết rõ các quyền và nghĩa vụ của mình tại phiên tòa sơ thẩm dân sự

Về cơ bản, các Tòa án đã áp dụng đúng các quy định của pháp luật về thủ tục bắt đầu phiên tòa Tuy nhiên, trên thực tế do có nhiều vụ án phức tạp, đương sự gây khó khăn nên có tình trạng phải hoãn phiên tòa nhiều lần, kéo theo việc bổ sung phiên tòa ngoài kế hoạch Việc xử vắng mặt đương sự tại phiên tòa nhiều trường hợp không đúng quy định pháp luật; việc hoãn phiên tòa không đúng quy định vẫn xảy ra

2 Thủ tục hỏi tại phiên tòa sơ thẩm

Thủ tục hỏi tại phiên tòa sơ thẩm được quy định tại các điều từ Điều 217 đến Điều 231 BLTTDS, bao gồm các thủ tục sau:

- Hỏi đương sự về thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu và thỏa thuận giải quyết vụ án: Căn cứ vào nguyên tắc tự định đoạt của đương sự thì đương sự có quyền tự quyết định việc khởi kiện vụ án dân sự yêu cầu tòa án có thẩm quyền giải quyết Vì vậy, trong quá trình tố tụng, các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi, bổ sung các yêu cầu của mình; có quyền thỏa thuận giải quyết với nhau về các vấn đề có tranh chấp không trái pháp luật và đạo đức xã hội

Theo đó, Điều 217 BLTTDS quy định trước khi hỏi về nội dung vụ án, chủ tọa phiên tòa hỏi đương sự về vấn đề thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu Sau khi chủ tọa

đã hỏi các bên đương sự và dành cho họ quyền được thay đổi, bổ sung hay rút yêu cầu thì hội đồng xét xử sẽ xem xét vấn đề này khi có đương sự đề nghị Và để đảm bảo quyền lợi của các đương sự, Điều 218 BLTTDS quy định hội đồng xét xử sẽ xem xét có chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu Trong trường hợp hội đồng xét xử đã xem xét chấp nhận cho các bên đương sự quyền được thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu thì sẽ dẫn đến việc thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự được quy định tại Điều 219 BLTTDS

Trang 3

Quy định thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự trong Điều 219 nhằm bảo đảm việc giải quyết tranh chấp dân sự một cách nhanh chóng, tiết kiệm, hiệu quả Khi thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự thì quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách đương sự sẽ thay đổi nên kể từ thời điểm các đương sự thay đổi địa vị tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định theo yêu cầu của nguyên đơn mới, các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng theo địa vị được thay đổi

Ngoài ra, việc đương sự thỏa thuận giải quyết tranh chấp trong mọi giai đoạn

tố tụng dân được Nhà nước khuyến khích Vì vậy Điều 220 BLTTDS quy định trước khi xét xử vụ án chủ tọa phiên tòa hỏi xem đến thời điểm này các đương sự

có thỏa thuận được với nhau hay không, nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau và thỏa thuận này là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội thì hội đồng xét xử ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc giải quyết vụ án

Tuy nhiên trong Bộ luật tố tụng dân sự có quy định trong trường hợp đương

sự có thay đổi, bổ sung yêu cầu của mình, thì nếu thay đổi, bổ sung yêu cầu thì yêu cầu mới sẽ không được vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu Như vậy, từ “phạm vi” trong điều luật này không nêu rõ là phạm vi quan hệ pháp luật tranh chấp hay phạm vi về giá trị yêu cầu; và từ đó dẫn đến nhiều cách hiểu không vượt quá yêu cầu ban đầu là không được đưa thêm yêu cầu mới, không được tăng giá trị yêu cầu Đây là một quy định không rõ ràng trong

Bộ luật tố tụng dân sự, dẫn đến việc giải quyết các vướng mắc liên quan đến điều luật này chưa được triệt để và việc áp dụng không thống nhất giữa các Tòa án

Nhận xét về thủ tục ra quyết định công nhận việc tự hòa giải của các đương

sự, khi ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự tại phiên tòa sơ thẩm dân sự, Hội đồng xét xử thảo luận và thông qua tại phòng xử án chứ không phải phòng nghị án Theo quan điểm cá nhân cho rằng, hướng dẫn của Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP là chưa hợp lý và tiếp tục giải thích theo hướng chưa hợp lý của Bộ luật tố tụng dân sự Dù các đương sự có thỏa thuận được một phần hay toàn

bộ nội dung vụ án thì Tòa án phải xem xét, đánh giá để xác định sự thỏa thuận đó

có tự nguyện, có trái pháp luật và trái đạo đức xã hội hay không Trên cơ sở kết quả xem xét, đánh giá, Hội đồng xét xử sẽ công nhận hoặc không công nhận sự thỏa thuận của các đương sự Quyết định của Tòa án về sự thỏa thuận của đương sự có hiệu lực bắt buộc thi hành, vì thế, chỉ khi quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự mới thảo luận và thông qua tại phòng nghị án mới bảo đảm được tính chính xác, khách quan

- Nghe đương sự trình bày về vụ án: Trong trường hợp các bên đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu của họ và các bên cũng không tự thỏa thuận với nhau thì hội

Trang 4

yêu cầu và tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ tranh chấp Điều 221 BLTTDS quy định trình tự các bên đương sự được trình bày việc kiện tại phiên tòa, đó là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày yêu cầu, chứng cứ chứng minh trước, nguyên đơn có quyền bổ sung ý kiến; sau đó là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày ý kiến, yêu cầu phản tố, chứng cứ

và bị đơn sau đó cũng có quyền bổ sung ý kiến; và cuối cùng là người bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày

Thủ tục các đương sự tự trình bày là điểm mới của Bộ luật tố tụng dân sự Các pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các

vụ án kinh tế, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động không quy định thủ tục tự trình bày của các đương sự mà chỉ quy định về thủ tục xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm dân sự Điều đó có nghĩa, việc kiểm tra, xem xét, đánh giá chứng cứ tại phiên tòa sơ thẩm dân sự hoàn toàn do Hội đồng xét xử chủ động, các đương sự ở

vị trí bị động và chỉ là người trả lời các câu hỏi của các thành viên Hội đồng xét xử Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự chỉ có quyền giúp đỡ đương

sự về mặt pháp lý mà không có quyền thay mặt các đương sự trả lời các câu hỏi của Hội đồng xét xử Quy định đó đã làm hạn chế vai trò, khả năng của người bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

Những quy định này đã cho thấy chủ trương đổi mới hoạt động tư pháp của Đảng và Nhà nước đã được thể chế hóa Đó là kết quả của việc mở rộng quyền dân chủ trong hoạt động tư pháp và vai trò của đương sự, của những người tham gia tố tụng khác trong việc cung cấp chứng cứ cho tòa án, thực hiện nghĩa vụ chứng minh

để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

- Tiến hành hỏi tại phiên tòa sơ thẩm: Sau khi hội đồng xét xử nghe xong lời trình bày cảu các bên đương sự, việc hỏi từng người về từng vấn đề của vụ án được tiến hành ngay Thủ tục tiến hành hỏi tại phiên tòa được quy định tại Điều 222,

223, 224, 225, 226 và 230 BLTTDS về vấn đề chủ thể, trình tự hỏi cũng như phạm

vi hỏi

Trong quá trình xét xử tại phiên tòa, hội đồng xét xử vẫn giữ vai trò chủ động và tích cực tham gia vào các hoạt động hỏi các đương sự, người đại diện của đương sự, người làm chứng, người giám định… Có thể thấy việc quy định về thủ tục hỏi tại phiên tòa như trên là chưa thực sự hợp lý, phù hợp và tính dân chủ và bảo vệ các quyền con người trong quá trình tham gia tố tụng chưa hoàn toàn được bảo đảm tại phiên tòa, làm đương sự ỷ lại phụ thuộc vào tòa án, “hạn chế tính tích cực, chủ động của đương sự trong tố tụng” vai trò của luật sư tại phiên tòa bị mờ nhạt, toàn bộ trách nhiệm chứng minh được đặt lên vai hội đồng xét xử đặt biệt là chủ tọa phiên tòa, còn các bên đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo

Trang 5

vệ quyền lợi của đương sự, những người tham gia tố tụng khác chỉ tham gia vào quá trình chứng minh ở mức độ hạn chế

- Công bố các tài liệu của vụ án dân sự: Trong quá trình diễn ra việc hỏi tại phiên tòa, vật chứng, ảnh hoặc biên bản xác nhận vật chứng được đưa ra để xem xét như quy định tại Điều 229 BLTTDS Ngoài ra, để giúp cho việc xem xét vụ án một cách toàn diện, đầy đủ, hội đồng xét xử khi thấy cần thiết có thể công bố các tài liệu của vụ án như quy định theo Điều 227 BLTTDS

3 Thủ tục tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm

Tranh luận tại phiên tòa là hoạt động trung tâm của phiên tòa, đảm bảo cho đương sự bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước tòa án Do đó, BLTTDS đã quy định mở rộng quyền tranh luận của đương sự, đề cao vai trò chủ động của đương sự trong việc tranh luận ở tại phiên tòa, từ Điều 232 đến Điều 235

- Những người tham gia tranh luận và trình tự tranh luận: Căn cứ vào Điều

232 BLTTDS, những người tham gia tranh luận gồm có: đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện Theo đó, trình tự tranh luận sẽ là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn phát biểu trước, nguyên đơn bổ sung ý kiến; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn phát biểu sau, bị đơn bổ sung và cuối cùng là người bảo vệ quyền và lợi ích của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phát biểu cuối cùng

So với pháp luật tố tụng dân sự trước khi có Bộ luật tố tụng dân sự, thứ tự người phát biểu khi tranh luận đã có sự thay đổi Trước đây, khi tranh luận, đương

sự trình bày quan điểm của mình về việc đánh giá chứng cứ, hướng giải quyết vụ

án trước, sau đó người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự sẽ trình bày

bổ sung (nếu có) Sự thay đổi của Bộ luật tố tụng dân sự nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của tranh luận và đề cao vai trò của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người

có kiến thức pháp lý và kinh nghiệm tranh luận tại phiên tòa Vì thế, quy định của Điều 232 Bộ luật tố tụng dân sự sẽ giúp cho quá trình xác định sự thật của vụ án được nhanh chóng và chính xác hơn

- Nội dung tranh luận: Tranh luận tại phiên tòa thể hiện tính chất dân chủ, công khai, minh bạch của hoạt động xét xử Các quy định của BLTTDS về tranh luận là tạo điều kiện tối đa để các bên đương sự sử dụng các phương pháp chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Đổi mới hoạt động tư pháp, trong đó có việc mở rộng tranh tụng, tăng cường khả năng tranh luận dân chủ giữa các đương sự và những người thay mặt họ là đòi hỏi khách quan hiện nay

Trang 6

- Căn cứ tranh luận: Căn cứ phát biểu khi tranh luận và đối đáp được quy định tại Điều 233 BLTTDS

Các pháp lệnh trước kia không quy định căn cứ khi tranh luận Để tránh việc các bên khi tham gia tranh luận chỉ dựa vào suy đoán cảm tính, tranh luận không có căn cứ, Điều 233 BLTTDS quy định rõ khi phát biểu về đánh giá chứng cứ, đề xuất quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án các bên phải căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được và đã được xem xét, kiểm tra tại phiên tòa cũng như kết quả việc hỏi tại phiên tòa

- Phát biểu của kiểm sát viên: Trường hợp Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa sơ thẩm dân sự được quy định tại Điều 234 BLTTDS Nhận xét về Điều 234 theo quan điểm cá nhân, bản chất của tranh luận trong tố tụng dân sự là việc tranh luận giữa các bên đương sự về việc giải quyết những vấn đề còn tranh chấp, mẫu thuẫn của vụ án Viện kiểm sát không phải là một bên tranh chấp nên nếu giữ nguyên quy định của Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự thì các đương sự không tranh luận với Kiểm sát viên về ý kiến phát biểu Khác với tố tụng hình sự, trong tố tụng dân sự, nếu để cho các bên đương sự đáp lại ý kiến của Viện kiểm sát về những vấn

đề mà họ không đồng ý thì có nghĩa Viện kiểm sát đã tham gia vào quá trình tranh luận với các bên đương sự Điều đó là trái với bản chất của tranh luận trong Tố tụng dân sự và trái với các nguyên tắc của tố tụng dân sự Như vậy, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên chỉ là một trong các căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét khi nghị án Tuy nhiên, khi mở rộng tranh tụng, quyền và nghĩa vụ của đương sự đối với việc chứng minh yêu cầu của mình được đề cao thì kết quả tranh tụng của các bên chính là cơ sở để Hội đồng xét xử giải quyết vụ án

- Trở lại việc hỏi: Điều 235 BLTTDS quy định qua tranh luận nếu xét thấy

có tình tiết của vụ án chưa được xem xét, việc xem xét chưa được đầy đủ hoặc cần xem xét thêm chứng cứ thì hội đồng xét xử quyết định trở lại việc hỏi; sau khi hỏi xong phải tiếp tục tranh luận

Thực tế hiện nay, thủ tục tranh luận ở nhiều phiên tòa không được tiến hành hoặc được tiến hành rất đại khái, có nhiều trường hợp chủ tọa phiên tòa để cho đương sự tranh luận trong quá trình thẩm vấn,… vì vậy phiên tòa không khách quan, không có việc tranh tụng thực tế mà việc đó diễn ra một cách hình thức Bên cạnh đó, Tòa án chưa thực sự tôn trọng, chưa tạo điều kiện thuận lợi để luật sư đọc

hồ sơ vụ kiện; việc triệu tập phiên tòa quá gấp làm luật sư không kịp bố trí thời gian để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa và cũng không ít trường hợp Hội đồng xét xử chưa tôn trọng, lắng nghe ý kiến của luật sư, cá biệt còn tư tưởng coi thường vai trò của luật sư tại phiên tòa, làm phiên tòa thiếu dân chủ

4 Nghị án và tuyên án

Trang 7

- Nghị án: là việc hội đồng xét xử xem xét, quyết định giải quyết vụ án, được quy định tại Điều 236 BLTTDS

Theo khoản 2 Điều 236 Bộ luật tố tụng dân sự quy định, khi nghị án “Hội thẩm nhân dân biểu quyết trước, Thẩm phán biểu quyết sau cùng” Việc ưu tiên cho Hội thẩm nhân dân phát biểu trước là nhằm tạo điều kiện cho Hội thẩm nhân dân có được tiếng nói khách quan, vô tư về vụ án, tránh tình trạng ý kiến của Hội thẩm nhân dân bị phụ thuộc và ý kiến của Thẩm phán hoặc Thẩm phán áp đặt ý kiến của mình cho các Hội thẩm nhân dân Hơn nữa, quy định này còn có ý nghĩa phát huy vai trò và trách nhiệm của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động tố tụng, buộc hội thẩm nhân dân phải đầu tư thời gian nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên tòa Điều đó sẽ giúp cho Hội thẩm nhân dân nắm vững nội dung vụ án, tham gia một cách nghiêm túc và có hiệu quả vào việc xét xử

Quy định tại Điều 236 của Bộ luật tố tụng dân sự là hợp lý bởi lẽ để xác định được một vụ án là đơn giản hay phức tạp chỉ sau khi đánh giá xong tất cả các tình tiết của vụ án Do đó, thời hạn 5 ngày làm việc là thời hạn tối đa đối với những vụ

án cần phải có nhiều thời gian thảo luận và viết bản án Đối với những vụ án đơn giản thì thời gian nghị án và viết bản án sẽ do Hội đồng xét xử quyết định nên pháp luật không ấn định trước Vấn đề đặt ra là sẽ giải quyết như thế nào đối với những trường hợp hết 5 ngày làm việc những Hội đồng xét xử vấn chưa thể tuyên án được Theo quản điểm cá nhân, cách giải quyết sẽ phụ thuộc vào kỹ năng mỗi Thẩm phán, hợp lý nhất là quay trở lại việc hỏi, tranh luận và như thế thời gian nghị án sẽ có thêm 5 ngày làm việc tiếp theo

- Tuyên án: Sau khi bản án đã được thông qua, hội đồng xét xử trở lại phòng xét xử để tuyên án Theo Điều 239 BLTTDS thì thủ tục tuyên án có ba nội dung mới giúp cho việc tuyên án phù hợp với thực tế hơn Khi tuyên án, mọi người trong phòng xử án phải đứng dậy, trừ trường hợp đặc biệt như sức khoẻ yếu, bệnh tật v.v không thể đứng được được phép của chủ tọa phiên tòa có thể ngồi nghe tuyên án.Theo các pháp lệnh thủ tục trước kia thì chỉ có chủ toạ phiên toà mới được đọc bản án BLTTDS quy định việc tuyên án có thể do chủ tọa phiên tòa hoặc một thành viên khác của hội đồng xét xử đứng đọc Quy định này nhằm giải quyết tình huống bản án quá dài một người không thể đứng đọc hoặc đến ngaỳ tuyên án sức khoẻ của chủ toạ không tốt v.v Ngoài ra, BLTTDS còn quy định trong trường hợp

có đương sự không biết tiếng Việt thì sau khi tuyên án, người phiên dịch phải dịch lại cho họ nghe toàn bộ bản án sang ngôn ngữ mà họ biết

III Một số kiến nghị nhầm hoàn thiện quy định của BLTTDS về phiên toà sơ thẩm dân sự

1 Nhận xét chung về quy định pháp luật tố tụng về thủ tục tiến hành phiên tòa

Trang 8

Nhìn chung, các thủ tục tiến hành phiên tòa được quy định tương đối cụ thể, phù hợp với thực tiễn xét xử và theo hướng tăng cường tố tụng Tuy nhiên, Bộ luật

tố tụng dân sự không quy định thủ tục trình bày của đương sự mà quy định đan xen trong thủ tục hỏi nên dẫn đến thủ tục phiên tòa sơ thẩm vẫn nặng về xét hỏi Vẫn còn một số quy định về thủ tục phiên tòa sơ thẩm dân sự chưa minh bạch, mâu thuẫn, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn xét xử Trên thực tế, việc thực hiệnc ác quy định của pháp luật Việt Nam về phiên tòa sơ thẩm dân sự là tương đối tốt nhưng ở một số phiên tòa, thủ tục tiến hành phiên tòa sơ thẩm dân sự chưa được tuân thủ triệt để, dẫn đến việc hoãn phiên tòa không đúng quy định vẫn diễn ra, tỷ

lệ các bản án sơ thẩm bị sửa, hủy vẫn còn cao…

2 Một số kiến nghị

Thứ nhất, khác với quy định cũ, BLTTDS đã không quy định đối với các trường hợp nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt lần thứ nhất không có lý do chính đáng là căn cứ hoãn phiên toà nhưng lại không đưa ra khái niệm thế nào là có

lý do chính đáng và cách giải quyết trong trường hợp này Nếu không có sự hướng dẫn thống nhất sẽ dẫn đến việc áp dụng khác nhau giữa các thẩm phán và các toà

án Theo ý kiến cá nhân, tuỳ từng trường hợp toà án sẽ quyết định hoãn hoặc vẫn tiến hành phiên toà Nếu họ đã có lời khai tại toà án, các chứng cứ, tài liệu trong hồ

sơ tương đối đầy đủ thì phiên toà vẫn có thể tiến hành

Thứ hai, theo khoản 4 Điều 230 trong trường hợp tại phiên toà khi cần thiết phải giám định lại, giám định bổ sung thì hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà Nhưng hoãn phiên toà là việc chuyển thời điểm tiến hành phiên toà dân sự đã định sang thời điểm khác muộn hơn Như vậy, hội đồng xét xử chỉ hoãn phiên toà khi bắt đầu phiên toà tức là chưa xem xét giải quyết về mặt nội dung vụ án, còn khi

đã xem xét giải quyết về mặt nội dung vụ án nhưng cần phải thu thập thêm chứng

cứ mới có thể giải quyết được vụ án thì Hội đồng xét xử phải quyết định tạm ngừng phiên toà Vì vậy, theo quan điểm cá nhân đây không phải là căn cứ hoãn phiên toà

mà là căn cứ tạm ngừng phiên toà

Thứ ba, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần có hướng dẫn cách giải quyết những vấn đề phát sinh từ việc thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự theo quy định của Điều 219, như tên vụ án, tư cách đương sự trong hồ sơ, quan hệ pháp luật tranh chấp v.v Khi thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự thì tư cách đương

sự trong hồ sơ, quan hệ pháp luật tranh chấp v.v sẽ thay đổi, vì vậy BLTTDS cần quy định rõ kể từ thời điểm thay đổi địa vị tố tụng các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng thêo địa vị được thay đổi đồng thời trong biểu mẫu sổ thụ lý vụ án dân sự cần có thêm cột ghi chú tất cả những thay đổi đó

Trang 9

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam năm 2004;

Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12 tháng 5 năm 2006 hướng dẫn thi hành các quy định trong phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật tố tụng dân sự;

Giáo trình Luật tố tụng dân sự, Trường Đại học Luật Hà Nội;

Phiên tòa sơ thẩm dân sự - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, TS Bùi Thị Huyền; Internet

Ngày đăng: 21/03/2019, 15:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w