1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hãy sưu tầm một vụ việc thực tiễn về giao dịch dân sự bị vô hiệu do có yếu tố giả tạo và bình luận về hướng giải quyết vụ việc đó trên cơ sở của

15 296 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 29,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy nhóm chúng em xin chọn đề tài : “Hãy sưu tầm một vụ việc thực tiễn về giao dịch dân sự bị vô hiệu do có yếu tố giả tạo và bình luận về hướng giải quyết vụ việc đó trên cơ sở của p

Trang 1

A MỞ ĐẦU

Giao dịch dân sự là một trong những loại giao dịch phổ biến, thông dụng và quan trọng bậc nhất nhất hiện nay, các nhu cầu như trao đổi hang hóa hoặc cho thuê, mướn, cho tặng ngày càng phổ biến vì vậy mà Luật dân sự Việt Nam coi đây

là một chế định quan trọng Nó được nêu tại Điều 121, Bộ luật Dân sự 2005 ghi

nhận: “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lí đơn phương làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Vì vậy việc vô hiệu một giao

dịch dân sự cũng là một vấn đề cần quan trọng không kém, nó liên quan đến quyền

và nghĩa vụ của không ít các bên liên quan Có rất nhiều vụ việc thực tế kiện tụng

liên quan đến vấn đề này Vì vậy nhóm chúng em xin chọn đề tài : “Hãy sưu tầm một vụ việc thực tiễn về giao dịch dân sự bị vô hiệu do có yếu tố giả tạo và bình luận về hướng giải quyết vụ việc đó trên cơ sở của pháp luật Việt Nam hiện hành”

để làm rõ hơn về vấn đề này

B NỘI DUNG

I Một vài khái niệm

1 Giao dịch dân sự vô hiệu

Chỉ những giao dịch hợp pháp mới làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các

bên và được Nhà nước đảm bảo quyền thực hiện

Một giao dịch dân sự được coi là hợp pháp và có hiệu lực được quy định tại

điều 122, Bộ luật Dân sự 2005: “Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự:

1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:

a, Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

Trang 2

b, Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

c, Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

2 Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định.”.

Theo điều 127 BLDS 2005 thì giao dịch nào vi phạm một trong ba điều kiện

có hiệu lực của giao dịch dân sự đã được quy định tại điều 122 bộ luật này (trong một số trường hợp phải tuân thủ thêm điều kiện về hình thức) thì giao dịch dân sự

đó là giao dịch dân sự vô hiệu

2 Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo

Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo là một trong những trường hợp của giao dịch dân sự vô hiệu BLDS 2005 đã xác định trường hợp vô hiệu này tại điều 129:

“Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu, còn giao dịch bị che dấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này Trong trường hợp xác lập giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch đó vô hiệu”

Trường hợp vô hiệu do giả tạo chính là trường hợp đã vi phạm điểm b, khoản 1 điều 122 của BLDS, cụ thể là vi phạm điều kiện mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội Điểm đặc biệt của trường hợp này là các bên trong giao dịch đó hoàn toàn tự nguyện xác lập giao dịch, nhưng lại cố ý bày tỏ ý chí không đúng với ý chí đích thực của họ (có sự tự nguyện nhưng không có sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí) Có hai trường hợp giả tạo:

Trang 3

- Trường hợp thứ nhất là giả tạo nhằm che dấu một giao dịch khác Khi đó giao dịch giả tạo vô hiệu còn gia dịch bị che dấu vẫn có hiệu lực, nêu như giao dịch

bị che dấu đó đáp ứng được đầy đủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

- Trường hợp thứ hai là giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba Khi đó hợp đồng tặng cho giả tạo đó bị vô hiệu

3 Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

Hậu quả pháp lý trước hết phải là một kết quả và kết quả đó phải được xảy ra từ một hành vi, một việc làm trước đó và giữa chúng

có mối liên hệ nhân quả

Tuy nhiên, trong khoa học pháp lý thì khái niệm “ hậu quả pháp lý” có những ý nghĩa khác nhau, không phải lúc nào cũng có ý nghĩa là kết quả xấu, hậu quả pháp lý có thể là một kết quả tốt như: Một giao dịch dân

sự được xác lập sẽ có hậu quả pháp lý là làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia, có thể là điều mà các bên tham gia mong muốn

Tiếp cận từ góc độ bản chất của giao dịch thì giao dịch dân sự vô hiệu là những giao dịch không được pháp luật thừa nhận Do đó, hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu có thể hiểu theo nghĩa: là một kết quả không tốt, xấu về mặt pháp lý, phát sinh theo quy định của pháp luật trong trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu

Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu được ghi nhân tại điều 137 BLDS 2005 như sau: “

1 Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.

Trang 4

2 Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu , hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không trả lại được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.”

II Vụ việc thực tế và hướng giải quyết

1 Vụ việc : đây là vụ án được nhóm chúng em sưu tầm trên báo Lao động.

Nguyên đơn: bà Lê Thị Nhâm (sinh nă 1965, ngụ số 11/9 đường Trần Quốc Hoàn, phường 4, Q.Tân Bình)

Bị đơn: bà Nguyễn Thị Ngọc Hồng (sinh năm 1960, ngụ 557 đường Trần Hưng Đạo, phường 4, quận 5)

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: ông Vòng Mạnh Chi

Sau đây nhóm chúng em xin đưa ra một vụ việc thực tế có nội dung như sau:

Ngày 21/7/2008, bà Nguyễn Thị Ngọc Hồng (sinh năm 1960, ngụ 557 đường Trần Hưng Đạo, phường 4, quận 5) kí hợp đồng nhận cọc của bà Lê Thị Nhâm (sinh nă 1965, ngụ số 11/9 đường Trần Quốc Hoàn, phường 4, Q.Tân Bình) 100 lượng vàng SJC để bán căn nhà 121 Trần Hưng Đạo, phường 6, quận 5, với giá

400 lượng vàng SJC Lấy lý do chưa đủ tiền giải chấp, bà Hồng yêu cầu bà Nhâm đưa tiếp 23 lượng vàng SJC nữa Như vậy, số tiền đặt cọc mua nhà là 100 lượng vàng và tiền mua nhà giao trước là 23 lượng vàng Sau đó bà Hồng trả lại bà Nhâm tổng cộng gần 12 lượng vàng Đến hẹn, bà Hồng trở mặt không bán nhà cho bà Nhâm nữa và cũng không đả động gì đến số vàng đã nhận Do vậy, bà Nhâm kiện

bà Hồng ra tòa

Trang 5

Qua 2 cấp xét xử, tòa án nhân dân quận 5 xử sơ thẩm và tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xử phúc thẩm đều tuyên buộc bà Hồng có trách nhiệm trả cho bà Nhâm 100 lượng vàng tiền đặt cọc, hơn 23 lượng vàng mượn thêm và 100 lượng vàng bồi thường tiền cọc Tổng cộng bà Hồng phải trả cho bà Nhâm 224,95 lượng vàng

Khi bản án có hiệu lực, theo yêu cầu của bà Nhâm, ngày 8/4/2010, Chi cục Thi hành án dân sự quận 5 đã ra quyết định thi hành án và giao cho chấp hành viên (CHV) Trần Văn Thành thi hành Bản án số 300/2010/DSPT Ngày 12/4/2010, CHV Trần Văn Thành ra thông báo đề nghị các cơ quan chức năng tạm dừng việc đăng ký, chuyển nhượng, thay đổi hiện trạng về tài sản nhà, đất tại số 121 Trần Hưng Đạo để đảm bảo thi hành án

Ngày 18/10/2010,Viện kiểm sát nhân dân Tối cao có có Kháng nghị số 152/QĐ-KNGĐT-VS do bà Nguyễn Thị Thủy Khiêm - Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tối cao - ký, kháng nghị bản án số 300 ngày 24.3.2010 của Tòa

án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, tạm đình chỉ thi hành bản án, chờ kết quả giám đốc thẩm Tối cao, đề nghị Tòa dân sự Tòa án nhân dân Tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm hủy bản án dân sự phúc thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và giao hồ sơ cho tòa án nhân dân quận 5 xét xử lại theo quy định của pháp luật Đồng thời tạm đình chỉ thi hành bản án của tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh để chờ xét xử giám đốc thẩm Ngày 30/10/2010, bà Hồng nhanh tay chuyển nhượng ngay ngôi nhà này cho ông Vòng Mạnh Chi với giá chỉ một nửa so với giá thực tế thị trường ( bán với giá 8 tỷ) Vụ án lại đưa về xét xử lại từ đầu (lần 2)

Trong thời gian chờ tòa án nhân dân quận 5 xét xử sơ thẩm lại, bà Nhâm gửi đơn nhiều lần yêu cầu TAND quận 5 áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là cấm

Trang 6

bà Hồng chuyển dịch về quyền sở hữu căn nhà 121 Trần Hưng Đạo (vì trên thực tế thời điểm này nhà 121 Trần Hưng Đạo vẫn đứng tên và bà Hồng chưa sang tên ông Chi) Cũng tiếp tục qua 2 lần sơ và phúc thẩm, bà Nhâm tiếp tục thắng kiện bà Hồng, bên cạnh đó tại bản phúc thẩm (lần 2) của TAND TPHCM, số 1066/2012/DSPT ngày 4.9.2012 tuyên “Hợp đồng chuyển nhượng nhà 121 Trần Hưng Đạo, P.6, Q.5 giữa bà Hồng và ông Chi là vô hiệu”

Tòa phúc thẩm nhận định “Ông Chi biết bà Hồng còn nợ tiền người khác, nên

để đối phó với cơ quan nhà nước và những người bà Hồng còn nợ tiền, bà Hồng và ông Chi giả tạo giá mua bán từ 490 lượng vàng SJC giao dịch thực tế xuống còn 8

tỉ đồng tại hợp đồng công chứng (giảm 1/2 giá thực) Càng thể hiện sự giả tạo là tại ngân hàng, ông Chi không giao vàng cho bà Hồng mà chuyển giao số vàng cho ông Phan Thành Muôn - người bà Hồng nhờ nhận thay - trong khi đó bà Hồng chưa từng quen biết ông Muôn Điều này cho thấy việc mua bán giữa bà Hồng và Ông Chi không ngay tình

Càng thể hiện sự mờ ám ở đây là ngày 29.10.2010, ông Muôn rút tiền tại ngân hàng, nhưng trước đó, bà Hồng đã có sẵn hơn 8 tỉ đồng tiền mặt trả nợ ngân hàng vào ngày 27.10.2010? Như vậy, bà Hồng có tiền trả nợ cho ngân hàng trước khi ông Muôn rút tiền bán nhà do ông Chi chuyển, số tiền thu được từ tiền bán nhà

121 Trần Hưng Đạo, Q.5 không được bà Hồng thi hành cho bản án buộc trả nợ bà Nhâm

Theo quyết định giám đốc thẩm của TAND tối cao ngày 27.5.2013 vừa qua: “ không chấp nhận kháng nghị số 20/QĐ-KNGĐT-V5 ngày 4.3.2013 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao đối với bản án dân sự phúc thẩm số 1066/2012/DSPT ngày 4.9.2012 của TAND thành phố Hồ Chí Minh”

Trang 7

Như vậy bản án phúc thẩm ( lần 2) số 1066/2012/DS-PT của TAND thành phố

Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng mua bán nhà 121 Trần Hưng Đạo, Quận 5 giữa bà Nguyễn Thị Ngọc Hồng và ông Vồng Mạnh Chi, tại thời điểm bà Hồng nhận cọc của ông Chi căn nhà này đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Tòa phúc thẩm TAND thành phố Hồ Chí minh nhận định : “ giao dịch giữa

bà Hồng và ông Chi có dấu hiệu tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ Điều 129 Bộ luật dân sự quy định trong trường hợp xác lập giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ đối với người thứ ba thì giao dịch đó vô hiệu” Bản án đã tuyên “ hợp đồng chuyển nhượng nhà 121 Trần Hưng Đạo, phường 6 , Quận 5 giữa bà Hồng và ông Chi là vô hiệu Hủy giấy chưng nhận quyền sử dụng đất ở và quyền sử dụng nhà ở số CH 04496 ngày 14.9.2011 do UBND quận 5 cấp cho ông Vòng Mạnh Chi”

2 Hướng giải quyết của nhóm

2.1 Trước khi đưa ra hướng giải quyết chúng em xin tóm tắt quá trình xử lý vụ

án của tòa án nhân dân các cấp cũng như các cơ quan ban nghành liên quan Đầu tiên, tòa án chấp nhận đơn kiện của bà Lê Thị Nhâm., TAND TPHCM đưa vụ án dân sự này ra xét xử

- Xét xử lần thứ nhất:

Ngày 15.12.2009, TAND Q.5 xét xử sơ thẩm, tuyên “buộc bà Hồng trả cho

bà Nhâm 200 lượng vàng SJC (100 lượng là tiền đặt cọc và 100 lượng là tiền bồi thường theo hợp đồng) và trả cho bà Nhâm 23 lượng vàng SJC tiền mua nhà” (bản

án dân sự sơ thẩm số 45/2009/DSST)

Theo Bản án phúc thẩm số 300/2010/DSPT ngày 24-3-2010 của TAND Thành phố Hồ Chí Minh buộc bà Hồng có nghĩa vụ trả cho bà Nhâm 100 lượng

Trang 8

vàng SJC đặt cọc, bồi thường tiền cọc 100 lượng vàng SJC và 23 lượng vàng SJC tiền mua bán nhà đã nhận Tổng cộng bà Hồng phải thanh toán cho bà Nhâm 223 lượng vàng SJC

Cả hai cấp xét xử sơ thẩm và phúc thẩm đều tuyên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, hủy hợp đồng nhận tiền cọc bán nhà đất của bà Lê Thị Nhâm và bà Nguyễn Thị Ngọc Hồng ký ngày 21-7-2008.Bản án có hiệu lực

Ngày 8-4-2010, THA quận 5 ra Quyết định số 656 cho thi hành Bản án số 300/2010/DSPT ngày 24-3-2010 của TAND Thành phố Hồ Chí Minh buộc bà Hồng có nghĩa vụ trả cho bà Nhâm 223 lượng vàng SJC

Ngày 20-9-2010, THA quận 5 đã có văn bản số 691 gửi các cơ quan chức năng nhằm ngăn chặn chuyển dịch căn nhà này để đảm bảo thi hành quyết định số

66 ngày 14-9-2009 của TAND quận 5 và bản án số 300 ngày 24-3-2010 cùng bản

án số 613 ngày 13-5-2010 của TAND TPHCM

Ngày 18/10/2010, VKSND tối cao ra QĐ kháng nghị số 152/QĐ-KNGĐT,do

bà Nguyễn Thị Thủy Khiêm-Phó Viện trưởng VKSND Tối cao ký, kháng nghị bản

án số 300 ngày 24.3.2010 của TAND TPHCM, tạm đình chỉ thi hành bản án, chờ kết quả giám đốc thẩm

Căn cứ vào kháng nghị trên,Ngày 22.10.2010, Chi cục trưởng Chi cục THA Q.5 ra thông báo tạm đình chỉ THA bản án số 300 của TAND TPHCM

Ngày 27/10/2010, cơ quan THA dân sự quận 5 có CV số 65/CV-THA cho giải tỏa ngăn chặn với căn nhà 121 Trần Hưng Đạo

Xét xử lần 2:

Trang 9

Tại phiên xử phúc thẩm (lần 2) của TAND TPHCM số 1066/2012/DSPT ngày 4.9.2012, tuyên “Hợp đồng chuyển nhượng nhà 121 Trần Hưng Đạo, P.6, Q.5 giữa bà Hồng và ông Chi là vô hiệu Hủy giấy chứng nhận QSD đất ở và QSH nhà

ở số CH 04496 ngày 14.9.2011 do UBND Q.5 cấp cho ông Vòng Mạnh Chi” Ngày 4.3.2013 ,bà Nguyễn Thị Thủy Khiêm - Phó Viện trưởng Viện KSND Tối cao - lại ra Quyết định số 20/QĐ-KNGĐT-V5,“Kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm số 1066/2012 của TAND TPHCM, đề nghị TAND Tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án dân sự phúc thẩm số 1066/2012 của TAND TPHCM

Ngày 27.5.2013, theo quyết định giám đốc thẩm của TAND tối cao bác bỏ kháng nghị số 20/QĐ-KNGĐT-V5 ngày 4.3.2013 của VKS nhân dân tối cao đối với bản án dân sự phúc thẩm số 1066/2012/DSPT ngày 4.9.2012 của TAND thành phố Hồ Chí Minh

Phân tích vụ việc và nhận xét, bình luận về cách giải quyết của Tòa

Trước hết chúng em đồng ý với kết luận mà tòa án đã tuyên:

- Thứ nhất bản án xét xử ngày 15.12.2009, TAND Q.5 xét xử sơ thẩm, tuyên

“buộc bà Hồng trả cho bà Nhâm 200 lượng vàng SJC (100 lượng là tiền đặt cọc và 100 lượng là tiền bồi thường theo hợp đồng) và trả cho bà Nhâm 23 lượng vàng SJC tiền mua nhà” (bản án dân sự sơ thẩm số 45/2009/DSST)

- Thứ hai là bản án tại phiên tòa xử phúc thẩm của TAND Tp Hồ Chí Minh

số 1066/2012/DSPT ngày 4.9.2012, tuyên “Hợp đồng chuyển nhượng nhà

121 Trần Hưng Đạo, P.6, Q.5 giữa bà Hồng và ông Chi là vô hiệu Hủy giấy chứng nhận QSD đất ở và QSH nhà ở số CH 04496 ngày 14.9.2011 do UBND Q.5 cấp cho ông Vòng Mạnh Chi

Trang 10

Theo Điều 129 BLDS :“Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu, còn giao dịch

bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này.

Trong trường hợp xác lập giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch đó vô hiệu.”

Theo tình huống trên, bà Nhâm kí hợp đồng mua nhà với bà Hồng với số tiền là 400 lượng vàng SJC đặt cọc 100 lượng vàng SJC và trả cho bà Hồng 23 lượng vàng tiền mua nhà Tuy nhiên bà Hồng không thực hiện hợp đồng nên bà NHâm đã khởi kiện, tòa yêu cầu bà Hồng trả lại tiền Đây là giao dịch thật sự

Trong thời gian tạm đình chỉ thi hành án, bà Hồng bán nhà cho ông Chi với giá 8 tỷ, bằng giá một nửa giá trị thực tế thị trường Đây là giao dịch giả tạo nhằm che giấu giao dịch giữa bà Hồng và bà Nhâm

Do vậy, Theo nhóm chúng tôi, cách giải quyết vụ việc tranh chấp như trên của Tòa phúc thẩm tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh là đúng theo các quy định của pháp luật, bởi vì:

Tòa phúc thẩm tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tuyên bố: “ Hợp đồng chuyển nhượng nhà 121 Trần Hưng Đạo, phường 6 quận 5 giữa bà Hồng và ông Chi là vô hiệu Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và quyền sử dụng nhà ở số CH 04496 ngày 14.9.2001 do Ủy ban nhân nhân quận 5 cấp cho ông Vòng Mạnh Chi vì các giao dịch mua bán nhà giữa bà Hồng và ông Chi có dấu hiệu tẩu tán tài sản, bà Hồng cố tính trốn tránh nghĩa vụ trả nợ cho bà Nhâm thể hiện ở chỗ: mặc dù căn nhà này đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn nhưng vẫn tiến hành giao dịch chuyển nhượng cho ông Chi và cũng theo Tòa phúc thẩm nhận định “Ông Chi biết bà Hồng còn nợ tiền người khác, nên để đối phó với cơ quan

Ngày đăng: 21/03/2019, 15:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w