Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định khái niệm nuôi con nuôi tại Điều 67: “Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nu
Trang 1M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC
A/ ĐẶT VẤN ĐỀ: 2
B/ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 2
I Khái quát chung về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài: 2
1 Khái niệm nuôi con nuôi 2
2 Khái niệm nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài: 3
3 So sánh khái niệm nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài và nuôi con nuôi quốc tế 4
II Thực trạng nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam 5
1 Thực trạng nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam trước khi luật nuôi con nuôi năm 2010 có hiệu lực: 5
2 Thực trạng nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở việt nam khi luật nuôi con nuôi năm 2010 có hiệu lực 7
III Kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện pháp luật việt nam về nuôi con nuôi .11
1 Tiếp tục hoàn thiện thể chế: 11
2 Tăng cường tuyên truyền, giáo dục pháp luật về nuôi con nuôi 13
3 Tăng cường công tác phối hợp liên ngành ở cấp trung ương và địa phương 13 4 Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra 13
5 Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nuôi con nuôi 14
Trang 2Đánh giá tình hình nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam hiện nay Từ đó đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này
A/ Đ T V N Đ : ẶT VẤN ĐỀ: ẤN ĐỀ: Ề:
Nuôi con là hiện tượng xã hội xảy ra ở các quốc gia và đều được pháp luật các nước điều chỉnh Ở nước ta, trong hoàn cảnh đất nước còn phải chịu đựng những di chứng nặng nề của chiến tranh, điều kiện kinh tế - xã hội có nhiều khó khăn, mức thu nhập của nhân dân còn thấp, nhiều trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn cần có mái ấm gia đình thì vấn đề nuôi con nuôi càng trở nên cấp thiết Trong những năm qua, pháp luật về nuôi con nuôi ở nước ta đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm thực hiện quyền trẻ em được chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trong môi trường gia đình; động viên, khơi dậy tinh thần nhân đạo, nhân văn của con người Việt Nam; giữ gìn và phát huy truyền thống tương thân, tương ái, lá lành đùm là rách trong nhân dân
B/ GI I QUY T V N Đ ẢI QUYẾT VẤN ĐỀ ẾT VẤN ĐỀ ẤN ĐỀ: Ề:
I Khái quát chung v nuôi con nuôi có y u t n ề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài: ếu tố nước ngoài: ố nước ngoài: ước ngoài: c ngoài:
1 Khái ni m nuôi con nuôi ệm nuôi con nuôi
Nuôi con nuôi là một quan hệ xã hội được pháp luật nhiều nước điều chỉnh
Ở nước ta, vấn đề nuôi con nuôi được pháp luật điều chỉnh từ lâu, đã có nhiều thay đổi qua từng thời kì Trong thời kì đất nước đổi mới, kinh tế hội nhập thế giới hiện nay, pháp luật về nuôi con nuôi đã thay đổi rất nhiều Trước khi đi tìm hiểu về những thay đổi đó, ta cần hiểu khái niệm nuôi con nuôi là gì?
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định khái niệm nuôi con nuôi tại Điều 67: “Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho người được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức
xã hội” Luật nuôi con nuôi năm 2010 quy định tại Khoản 1 Điều 3: “Nuôi con nuôi là việc xác lập cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được
Trang 3nhận làm con nuôi” Theo đó, có thể hiểu nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con với người nhận con nuôi và trẻ em được nhận làm con nuôi trên
cơ sở tình cảm, tạo mối quan hệ giữa gia đình hai bên, trẻ em được nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ bởi gia đình thay thế, cha, mẹ mới Quan hệ này phải được Nhà nước công nhận và bảo vệ
Tóm lại, nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững với người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi thông qua việc đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi các bên có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em được làm con nuôi, bảo đảm trẻ em được yêu thương, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trong môi trường gia đình thay thế
Luật nuôi con nuôi năm 2010 chia ra hai trường hợp nuôi con nuôi là nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Nuôi con nuôi trong nước được quy định tại Khoản 4 Điều 3 Luật nuôi con nuôi năm 2010: “Nuôi con nuôi trong nước là việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau, thường trú tại Việt Nam Như vậy, quan hệ nuôi con nuôi trong nước chỉ diễn ra giữa công dân Việt Nam, thường trú tại Việt Nam với trẻ em có quốc tịch Việt Nam, thường trú tại Việt Nam Quan hệ nuôi con nuôi trong nước không bao gồm việc cho và nhận con nuôi đối với những người không quốc tịch thường trú tại Việt Nam
2 Khái ni m nuôi con nuôi có y u t n ệm nuôi con nuôi ếu tố nước ngoài: ố nước ngoài: ước ngoài: c ngoài:
Khác với nuôi con nuôi trong nước, chủ thể nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài không phải là công dân Việt Nam với nhau mà một trong hai bên chủ thể hoặc hai bên chủ thể phải có yếu tố nước ngoài Khoản 5 Điều 3 Luật nuôi con nuôi 2010 quy định: “Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài, với người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam, giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên thường trú tại nước ngoài”
Trang 4Yếu tố nước ngoài trong quy định này phù hợp với quy định tại Điều 758 BLDS và quy định tại khoản 14 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Theo đó, quan hệ có yếu tố nước ngoài là quan hệ được hình thành giữa: công dân Việt Nam với người nước ngoài; người nước ngoài thường trú tại Việt Nam với nhau; công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài
Các trường hợp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được thừa nhận theo pháp luật Việt Nam được quy định tại Điều 28 Luật nuôi con nuôi năm 2010 Theo đó, quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là quan hệ được hình thành giữa:
Người nước ngoài với trẻ em VIệt Nam cư trú trên lãnh thổ việt nam hoặc
cư trú ở nước ngoiaf
Người việt nam với trẻ em nước ngoài cư trú trên lãnh thổ việt nam hoặc cư trú ở nước ngoài
Người việt nam với trẻ em việt nam mà một trong hai bên hoặc cả hai bên
cư trú tại nước ngoài
Người nước ngoài với trẻ em nước ngoài mà cả hai đều cư trú trên lãnh thổ việt nam
Như vậy, nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là quan hệ nuôi con nuôi giữa hai chủ thể mà ít nhất một bên chủ thể phải có yếu tố nước ngoài
3 So sánh khái ni m nuôi con nuôi có y u t n ệm nuôi con nuôi ếu tố nước ngoài: ố nước ngoài: ước ngoài: c ngoài và nuôi con nuôi
qu c t ố nước ngoài: ếu tố nước ngoài:
Nuôi con nuôi quốc tế là quan hệ chịu sự điều chỉnh của Công ước Lahay năm 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi giữa các nước Theo đó, nuôi con nuôi quóc tế được hiểu là việc một người/một cặp vợ chồng thường trú tại nước này nhận trẻ em thường trú tại nước khác làm con nuôi (các nước này đều là thành viên Công ước Lahay) Như vậy, yếu tố thường trú/ định cư tại các quốc gia khác nhau được coi là yếu tố chủ đạo để xác định
Trang 5đối tượng ddeiefu chỉnh trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế theo công ước lahay, chứ không phải là yếu tố quốc tịch
Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài và nuôi con nuôi quốc tế, xét về bản chất, mục đích thì đều giống nhau ở chỗ, đều nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi và trẻ em được nhận làm con nuôi Tuy nhiên, hai khái niệm này chỉ có sự khác nhau cơ bản về phạm vi Phạm vi của khá niệm nuôi con nuôi quốc tế bao hàm chủ yếu việc nuôi con nuôi liên quan đến việc dịch chuyển, di chuyển đứa trẻ từ quốc gia này đến quốc gia khác Còn việ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài đôi khi khoogn có chuyện di chuyển đứa trẻ ra khỏi lãnh thổ nơi nó sinh ra và có quốc tịch (ví dụ: người nước ngoài thường trú tại việt nam nhận trẻ em việt nam thường trú tại việt nam làm con nuôi Nói cách khác, nếu nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau trên lãnh thổ việt nam, giữa người việt nam vơi snhau trên lãnh thổ nươc sngoiaf, thì nuôi con nuôi quốc tế là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa những người thường trú tại các quốc gia khác nhau, đôi khi là họ cùng quốc tịch (ví dụ: công dân việt nam định cư tại pháp nhận trẻ em việt nam thường trú tại việt nam làm con nuôi
II Th c tr ng nuôi con nuôi có y u t n ực trạng nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt ạng nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt ếu tố nước ngoài: ố nước ngoài: ước ngoài: c ngoài t i Vi t ạng nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt ệm nuôi con nuôi Nam.
1 Th c tr ng nuôi con nuôi có y u t n ực trạng nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam ạng nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam ếu tố nước ngoài: ố nước ngoài: ước ngoài: c ngoài t i Vi t Nam ạng nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam ệt Nam
tr ước ngoài: c khi lu t nuôi con nuôi năm 2010 có hi u l c: ật nuôi con nuôi năm 2010 có hiệu lực: ệt Nam ực trạng nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam
Vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam bắt đầu từ những năm 80 và khởi nguồn là từ chiến tranh Mĩ trên lãnh thổ Việt Nam Tính đến cuối thấp kỉ 90 Việt Nam là một trương những nước đứng đầu với tư cách là nước cho con nuôi với ít nhất 10000 trẻ em được làm cho con nuôi ở tất cả các nước trong thập kỉ trước số liệu thống kê từ các cơ quan con nuôi ở cấp TW cho thấy số lượng con nuôi việt nam là tương đối nhiều, đặc biệt tăng với những nước có quan hệ gần gũi với việt nam và những nước đã kí hiệp định hợp tác về
Trang 6nuôi con nuôi với việt nam Có thể thấy được điều này thông qua bảng thống kê con nuôi Việt Nam đến các nước nhận nuôi từ năm 2002-2008
Năm
Quốc gia
số
Qua đó cho thấy từ năm 2002 đến năm 2008, trung bình hàng năm có ít nhất 1000 trẻ em việt nam được cho làm con nuôi ở nước ngoài, trong năm 2007
và năm 2008 mỗi năm có trên 1600 trẻ em được cho làm con nuôi nước ngoài Trong năm 2003, chính phủ đã cho phép thành lập cục con nuôi quốc tế thuộc bộ tư pháp để xét duyệt việc nhận con nuôi và đưa ra những yêu cầu đối với nước nhận nuôi để ký kết thỏa thuận song phương với việt nam Các thỏa thuận song phương đã được ký với: pháp, đan mạch, ý, thụy điển, ai len, cannada, mỹ, các nước nhận con nuôi trong khuôn khổ hiệp định song phương
đã ủy quyền cho một số tổ chức con nuôi quốc tế phát triển hoạt động con nuôi
ở việt nam Đến năm 2008, có gần 70 tổ chức con nuôi nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ việt nam
2 Th c tr ng nuôi con nuôi có y u t n ực trạng nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam ạng nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam ếu tố nước ngoài: ố nước ngoài: ước ngoài: c ngoài vi t nam khi ở việt nam khi ệt Nam
lu t nuôi con nuôi năm 2010 có hi u l c ật nuôi con nuôi năm 2010 có hiệu lực: ệt Nam ực trạng nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam
Năm 2010, quốc hội thông qua luật nuôi con nuôi là kết quả của một công cuộc đổi mới pháp luật về vấn đề nuôi con nuôi nói chung, nuôi con nuôi có yếu
tố nước ngoiaf nói riêng Không những thế năm 2011 việt nam chính thức ký kết
Trang 7công ước la hay 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi giữa các nước
2.1 Một số thành công đã đạt được trong lĩnh vực nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
Trên cơ sở nhìn nhận thực tiễn áp dụng luật nuôi con nuôi năm 2010, nghị định 19/2011/NĐ-CP đã đạt được một số những thành công cơ bản sau về vấn
đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài:
Thứ nhất, việc cho trẻ em làm con nuôi nước ngoài đã tìm được mái ấm gia đình thay thế cho nhiều trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Việc cho trẻ em việt nam làm con nuôi nước ngoài đã giải quyết được khó khăn về đời sống cho một số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt như bị bỏ rơi, mồ côi, trẻ em khuyết tật, mắc bệnh hiểm nghèo mà gia đình cũng cơ sở nuôi dưỡng không đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng, chữa trị cho trẻ
Thứ hai, cơ sở pháp lý về nuôi con nuôi thống nhất tạo hiệu quả cao trong việc thi hành Luật nuôi con nuôi năm 2010 ra đời là một bước cải thiện đáng kể những quy định cũ về nuôi con nuôi nói chung, nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng, tiệm cận với công ước lahay 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi giữa các nước luật nuôi con nuôi điều chỉnh thống nhất vấn đề nuôi con nuôi trong nước và vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài giúp việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được giải quyết dễ dàng, nhanh chóng hơn Luật nuôi con nuôi ra đời đã tạo ra một hành lang pháp lý vững chắc về vấn đề nuôi con nuôi trong đó nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được bình đẳng với nuôi con nuôi trong nước
Thứ ba, cải thiện đời sống của trẻ em tại nhiều cơ sở nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt bị bỏ rơi, mồ côi phải sống trong các cơ sở nuôi dưỡng thiếu thốn rất nhiều các em sống trong cơ sở nuôi dưỡng thiếu tình thương yêu đùm bọc của gia đình, về vật chất không được đầy đủ như ở trong một gia đình vì các
cơ sở nuôi dưỡng phải nuôi dưỡng rất nhiều em mà điều kiện kinh tế, vật chất thì lại eo hẹp trong điều kiện đất nước còn nghèo, trình độ phát triển kinh tế xã hội còn chưa cao, năng lực chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em còn hạn chế thì nguồn
Trang 8hỗ trợ nhân đạo, tài trợ từ thiện của các tổ chức, cá nhân trong nước cũng như nước ngoài sẽ đóng vai trò tích cực tháo gỡ những khó khăn của cơ sở nuôi dưỡng trẻ em trong khi không có đủ ngân sách nhà nước cho lĩnh vực này
Trước năm 2011, các tổ chức, cá nhân nước ngoài đã hỗ trợ nhân đạo cho nhiều cơ sở nuôi dưỡng trẻ em Các cơ sở nuôi dưỡng nhờ có sự hỗ trợ này đã phần nào cải thiện được đời sống của các em, điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục các em tốt hơn ảnh hưởng tốt hơn đến sự phát triển của các em Theo luật nuôi con nuôi 2010, Nhà nước tiếp tục khuyến khích cá nhân, tổ chức trong
và ngoài nucows hỗ trợ nhân đạo cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt, để các em có đủ điều kiện phát triển một cách toàn diên Tuy nhiên, Luật Nuôi con nuôi đã quy định rõ ràng việc hỗ trợ nhân đạo không ảnh hưởng đến việc cho nhận trẻ em làm con nuôi
Thứ tư, bảo đảm minh bạch về lệ phí đăng ký nuôi con nuôi và chi phí giải quyết nuôi con nuôi nước ngoài Vấn đề tài chính luôn vấn đề nhạy cảm và luôn gặp phải những khó khăn nhất định Luật nuôi con nuôi quy định cho phép thu
lệ phí đăng ký nuôi con nuôi và chi phí giải quyết nuôi con nuôi nước ngoài Quy định này cho thấy vấn đề tài chính trong lĩnh vực nuôi con nuôi tại Việt Nam đã được công khai, minh bạch và không né tránh Đây là một việc làm hết sức tế nhị thể hiện sự quan tâm của nhà nước, chính phủ đối với công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em của Việt Nam, cũng như quyết tâm làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội trong việc giải quyết cho trẻ em làm con nuôi , nhất là con nuôi ở nước ngoài, góp phần ngăn ngừa và chống tham nhũng, tiêu cực trong lĩnh vực nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
Thứ năm, trình tự, thủ tục giải quyết trẻ em làm con nuôi ở nước ngoài được cải tiến, khắc phục được nhiều tồn tại trước đó Pháp luật hiện hành quy định rất rõ ràng, chặt chẽ về trình tự, thủ tục giải quyết trẻ em làm con nuôi ở nước ngoài Pháp luật hiện hành trên cơ sở kế thừa, phát huy các quy định cũ còn phù hợp, quy định nhiều điểm mới để đáp ứng yêu cầu hiện tại về trình tự, thủ tục giải quyết trẻ em làm con nuôi ở nước ngoài Từ đó, pháp luật hiện hành
đã khắc phục được nhiều tồn tại, bất cập xảy ra trước đó như: làm giả hồ sơ, việc
Trang 9trẻ em được nhận làm con nuôi nước ngoài nhưng không được cấp visa do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài không đồng ý
Thứ sáu, hoạt động hợp tác con nuôi quốc tế được mở rộng VIệt nam ban hành luật nuôi con nuôi năm 2010, tham gia kí kết công ước lahay 1993 về bảo
vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi giữa các nước tạo cơ sở cho việc hợp tác quốc tế về vấn đề nuôi con nuôi được mở rộng việt nam sẽ có quan
hệ hợp tác nuôi con nuôi với các nước là thành viên của công ước lahay 1993 chứ không còn hạn chết trong những nước kí hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi với việt nam nữa như vậy, trẻ em việt nam có hoàn cảnh đặc biệt có cơ hội nhiều hơn để trở thành con nuôi ở nước ngoài, trẻ em sẽ có cơ hội được đoàn tụ gia đình với những người thân đang sinh sống tại quốc gia là thành viên của công ước lahay 1993
2.2Những vướng mắc của việc thực thi pháp luật về nuôi con nuôi có yếu
tố nước ngoài trong bối cảnh Việt Nam là thành viên của công ước lahay 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi giữa các nước
Luật nuôi con nuôi năm 2010 ra đời đã khắc phục được nhiều bất cập trong lĩnh vực nuôi con nuôi nói chung, nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng Tuy nhiên, qua hơn một năm có hiệu lực, quá trình thực thi cho thấy còn một số vướng mắc sau
Một là, nhận thức chưa đúng về vấn đề nuôi con nuôi Khi được cho làm con nuôi nước ngoài, trẻ em phải rời xa quê hương, sống ở một nơi xa lạ với những điều kiện tự nhiên hoàn toàn khác, đó là những khó khăn mà trẻ em phải vượt qua Vì thế, việc cho trẻ em làm con nuôi ở nước ngoài là giải pháp cuối cùng khi không tìm được gia đình thay thế cho trẻ ở trong nước, vì lợi ích tốt nhất của trẻ, đây là mục đích nhân đạo cao cả của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Tuy nhiên hiện nay còn nhiều địa phương chạy theo lợi ích vật chất trong việc giải quyết nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, một ssoo cơ quan nhà nucows cũng như người dân chưa nhận thức đúng về vấn đề nuôi con nuôi nói chung, nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng Tình trạng giải quyết cho
Trang 10trẻ em làm con nuôi có yếu tố nước ngoài vì lợi ích cá nhân, vì trục lợi riêng cho bản thân mà không vì lợi ích của trẻ em vẫn còn diễn ra Việc làm sai trái này có thể dẫn đến hậu quả to lớn trước hết là đối với trẻ em, người nhận con nuôi, những người có liên quan, có khi còn ảnh hưởng đến quan hệ chính trị giữa việt nam và nước ngoài
Hai là, chưa có quy định về việc tiếp nhận và sử dụng các khoản hỗ trợ nhân đạo của tổ chức, cá nhân nước ngoài Yêu cầu về sự minh bạch trong vấn
đề tài chính liên quan đến việc tiếp nhận và sử dụng cách khoản hỗ trợ nhân đạo của tổ chức con nuôi nước ngoài cho cơ sở nuôi dưỡng luôn được các quốc gia đặt ra Trên thực tế ở nước ta, các khoản hỗ trợ nhân đạo phàn lớn là do cơ sở nuôi dưỡng tiếp nhận và quản lý Cơ sở nuôi dưỡng sử dụng các khoản hỗ trợ nhân đạo này và có trách nhiệm báo cáo cơ quan có thẩm quyền của địa phương theo quy định Nhưng thực hiện nay cho thấy, chúng ta chưa có văn bản của chính phủ hướng dẫn riêng về vấn đề, do đó, việc thực hiện Luật nuôi con nuôi còn gặp khó khăn
Ba là, hệ thống văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành Luật nuôi con nuôi năm 2010 cần tiếp tục được hoàn thiện nhiều vấn đề trong Luật nuôi con nuôi chưa được hướng dẫn thi hành cụ thể Ví dụ như trong việc chọn lựa hồ sơ người nhận con nuôi phải dựa trên yêu cầu nào, tiêu chí nào, lựa chọn hồ sơ nào trước, lựa chọn hồ sơ nào sau Mặc dù chính phủ đã ban hành Nghị định 19/2011/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều Luật nuôi con nuôi năm 2010 mới chỉ quy định chi tiết về một số vấn đề cơ bản cần thiết nhất chưa quy định được hết các vấn đề được đặt ra trong Luật nuôi con nuôi 2010
Cuối cùng, chưa có văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính về việc sử dụng lệ phí đăng ký nuôi con nuôi, chi phí giải quyết nuôi con nuôi nước ngoài cũng như chưa có cơ chế nào bảo đảm việc chuyển chi phí từ cục con nuôi cho ngân sách cấp tỉnh, do đó nhiều địa phương còn gặp khó khăn trong việc thực hiện luật nuôi con nuôi và giải quyết cho trẻ em làm con nuôi ở nước ngoài theo công ước lahay 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi giữa các nước