1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về thụ lý, trả lại đơn khởi kiện và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thụ lý và trả lại đơn khởi k

9 215 3

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

˜ LỜI MỞ ĐẦU˜ Sau khi nhận đơn khởi kiện thì tòa án phải xem xét và ra một trong các quyết định được quy định tại Điều 167 BLTTDS trong đó có các quyết định như thụ lý vụ án dân sự và tr

Trang 1

˜ LỜI MỞ ĐẦU˜

Sau khi nhận đơn khởi kiện thì tòa án phải xem xét và ra một trong các quyết định được quy định tại Điều 167 BLTTDS trong đó có các quyết định như thụ lý vụ án dân sự và trả lại đơn khởi kiện vụ án dân sự Thụ lý là một giai đoạn quan trọng trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa Án, nếu không có thụ lý sẽ không làm phát sinh những quy định của pháp luật Tố tụng dân sự về thụ lý vụ án và giải quyết vụ án dân

sự Với ý nghĩa đó, trong nội dung bài tiểu luận cuối kì em xin được chọn đề tài: “Các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về thụ lý, trả lại đơn khởi kiện và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thụ lý và trả lại đơn khởi kiện”.

˜ NỘI DUNG˜

I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG

1 Thụ lý vụ án dân sự

Xét về mặt thuật ngữ, Theo từ điển Tiếng Việt: “Thụ lý là tiếp nhận giải quyết vụ kiện”1 Theo cách giải thích này thì thụ lý vụ án dân sự (VADS) là việc Tòa

án bắt đầu nhận trách nhiệm giải quyết VADS

Dưới góc độ pháp lý, theo Từ điển Luật học thì: “Thụ lý vụ án là bắt đầu tiếp nhận một vụ việc để xem xét và giải quyết Theo pháp luật tố tụng dân sự, thụ lý vụ án

là việc Tòa dân sự nhận đơn yêu cầu của đương sự đề nghị xem xét, giải quyết một vụ việc để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, tổ chức cơ quan”2 Có thể thấy về mặt khoa học pháp lý, khái niệm thụ lý VADS được tiếp cận theo hướng từ khái quát tới cụ thể, là việc Tòa án dân sự nhận đơn đề nghị của đương sự để xem xét giải quyết

Như vậy, có thể hiểu “Thụ lý vụ án dân sự là việc Tòa án có thẩm quyền chấp nhận giải quyết đơn khởi kiện của đương sự và vào sổ thụ lý vụ án dân sự để giải quyết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự”.

Việc thụ lý vụ án dân sự có ý nghĩa rất quan trọng vì nó đặt trách nhiệm cho Tòa Án giải quyết vụ án trong thời gian luật định Sau khi thụ lý vụ án, thẩm phán phải triệu tập các đương sự đến Tòa án để xác minh và hòa giải; đối với những việc

1 (Trang 961) Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng Việt, nxb Đà Nẵng

2 (Trang 732) Từ điển luật học (2006), Nxb Bách khoa và Tư pháp Hà Nội

1

Trang 2

pháp luật quy định không được hòa giải thì khẩn trương hoàn thiện hồ sơ để đưa vụ án

ra xét xử tại phiên tòa Thụ lý vụ án còn có ý nghĩa thiết thực bảo vệ kịp thời những quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong lĩnh vực dân sự, kinh tế, lao động và hôn nhân gia đình; giải quyết kịp thời những mâu thuẫn, tranh chấp nội bộ nhân dân vào các cơ quan trực tiếp thụ lý giải quyết

Ngoài ra, việc Tòa án thụ lý vụ án sẽ là một trong những căn cứ để xác định các thời hạn tố tụng như quy định tại Điều 157 Bộ luật TTDS 3

2 Trả lại đơn khởi kiện

Sau khi nhận đơn khởi kiện trong thời hạn 5 ngày làm việc nếu xét thấy không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình hoặc không đáp ứng được các điều kiện để tiếp tục khởi kiện thì Tòa án phải trả lại đơn khởi kiện cùng với chứng cứ tài liệu cho người khởi kiện hoặc chuyển vụ án khởi kiện đến tòa án có thẩm quyền giải quyết

Như vậy, có thể hiểu “Trả lại đơn khởi kiện là việc Tòa án sau khi xem xét thụ

lý vụ án, đã trả lại đơn khởi kiện và các chứng cứ, tài liệu kèm theo cho người khởi kiện bởi thấy việc khởi kiện chưa đáp ứng đủ các điều kiện khởi kiện nên không thể thụ lý vụ án”.

II CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ HIỆN HÀNH

VỀ THỤ LÝ VÀ TRẢ LẠI ĐƠN KHỞI KIỆN

1 Các quy định về thụ lý vụ án dân sự

1.1 Nhận đơn khởi kiện

Theo quy định tại Điều 166, 167 BLTTDS thì Người khởi kiện có thể nộp đơn trực tiếp tại tòa án hoặc gửi qua bưu điện, Tòa án phải nhận đơn khởi kiện do đương sự nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi qua bưu điện và phải ghi vào sổ nhận đơn Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Tòa án phải xem xét và có một trong các quyết định sau đây: Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án nếu vụ

án thuộc thẩm quyền giải quyết của mình; Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và báo cho người khởi kiện, nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác; Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện, nếu việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

3 Giáo trình Luật tố tụng dân sự Trường Đại học luật Hà Nội, trang 239,240

2

Trang 3

1.2 Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện

Trong trường hợp đơn khởi kiện không có đủ các nội dung quy định tại khoản 2 Ðiều 164 của BLTTDS thì Tòa án thông báo cho người khởi kiện biết để họ sửa đổi, bổ sung trong một thời hạn do Tòa án ấn định, nhưng không quá ba mươi ngày; trong trường hợp đặc biệt, Tòa án có thể gia hạn, nhưng không quá mười lăm ngày Trong trường hợp người khởi kiện đã sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo đúng quy định tại khoản 2 Ðiều 164 của BLTTDS thì Tòa án tiếp tục việc thụ lý vụ án; nếu

họ không sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu của Tòa án thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện

1.3 Xác định tiền tạm ứng án phí và thông báo cho người khởi kiện

Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ

án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Tòa án phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp

họ phải nộp tiền tạm ứng án phí Tòa án dự tính số tiền tạm ứng án phí, ghi vào phiếu báo và giao cho người khởi kiện để họ nộp tiền tạm ứng án phí Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí

1.4 Vào sổ thụ lý vụ án dân sự

Khi người khởi kiện nộp cho tòa án biên lai nộp tiền tạm ứng án phí thì tòa

án ra quyết định thị lý vụ án và vào sổ thụ lý vụ án dân sự Trong trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí, án phí thì tòa án phải thụ lý vụ án khi nhận được đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ kèm theo Điều 174 BLTTHS quy định trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án tòa án phải thông báo bằng văn bản cho bị đơn, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho viện kiểm sát cùng cấp biết việc tòa án đã thụ

lý vụ án Nội dung thông báo phải thể hiện được những yêu cầu của người khởi kiện

và danh sách tài liệu chứng cứ người khởi kiện nộp theo đơn khởi kiện Đây là một trong những quy định mới của BLTTDS để hòa nhập chung với xu hướng của thế giới4

4 Vấn đề khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự, ThS Lê Thị Bích Lan, thẩm phán Tòa dân sự Tòa án nhân dân thành phố

Hà Nội, Tạp chí Luật học – Đặc san về BLTTDS 2004

3

Trang 4

2 Các quy định về trả lại đơn khởi kiện

2.1 Những trường hợp Tòa án trả lại đơn khởi kiện

Khi xem xét thụ lý vụ án, nếu thấy việc khởi kiện chưa đáp ứng đủ các điều kiện khởi kiện nên không thể thụ lý được vụ án thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện và các chứng cứ, tài liệu kèm theo cho người khởi kiện Khi trả lại đơn khởi kiện, Tòa án phải

có văn bản kèm theo ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện

Theo khoản 1 Điều 168 BLTTDS và BLTTDS và hướng dẫn tại Mục 7 Phần

I Nghị quyết 02/2006, Tòa án có quyền trả lại đơn khởi kiện cho người nộp đơn trong các trường hợp sau:

- Thời hiệu khởi kiện đã hết Việc xác định thời hiệu khởi kiện tương tự như việc xác định thời hiệu khởi kiện để thỏa mãn về điều kiện thụ lý vụ án dân sự đã nêu ở trên;

- Người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự Người khởi kiện không có quyền khởi kiện là người không thuộc một trong các chủ thể quy định tại Điều 161 và Điều 162 của BLTTDS và hướng dẫn tại mục 1 và mục 2 Phần I của Nghị quyết 02/2006;

- Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp vụ án đã bị Tòa án bác đơn mà đương sự có quyền khởi kiện lại; ví dụ như:

ly hôn, thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại hoặc vụ

án đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu do chưa đủ điểu kiện khởi kiện;

- Hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí mà người khởi kiện không đến tòa làm thủ tục thụ lý vụ án, trừ trường hợp có lý do chính đáng;

- Chưa có đủ điều kiện khởi kiện, là trường hợp các đương sự có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định về các điều kiện để khởi kiện (kể cả quy định về hình thức, nội dung đơn kiện), nhưng đương sự đã khởi kiện khi còn thiếu một trong các điều kiện

đó, ví dụ: người chồng nộp đơn ly hôn khi người vợ đang mang thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi ;

4

Trang 5

- Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; là trường hợp không thuộc một trong các tranh chấp quy định tại các Điều 25, 27, 29 và 31 của BLTTDS, hoặc pháp luật không quy định giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự, ví dụ: đương sự gửi đơn đến tòa án không tuân theo quy định của pháp luật;

- Trường hợp đơn khởi kiện không có đủ các nội dung quy định tại Khoản 2 Điều

164 BLTTDS mà tòa án đã báo cho người khởi kiện biết mà họ không sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu của Tòa án

2.2 Khiếu nại và giải quyết khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện

Khi trả lại đơn kiện cho người khởi kiện, tòa án phải có văn bản ghi rõ lý do trả lại đơn kiện để người khởi kiện có căn cứ khiếu nại về việc trả lại đơn kiện Đây là quy định mới giúp cho các đương sự thực hiện quyền khiếu nại khi họ bị tòa án trả lại đơn khởi kiện không đúng Theo Điều 170 BLTTDS thì người khởi kiện có quyền khiếu nại với chánh án tòa án đã trả lại đơn kiện trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày

họ nhận được đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo do tòa án trả lại Trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại, chánh án phải ra một trong các quyết định sau:

- Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện;

- Nhận lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo để tiến hành thụ lý vụ án

III THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TTDS VỀ THỤ LÝ, TRẢ LẠI ĐƠN KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ; ĐÁNH GIÁ TÍNH KHẢ THI CỦA CÁC QUY ĐỊNH

1 Thực tiễn về thụ lý, trả lại đơn khởi kiện vụ án dân sự

Quan sát số liệu báo cáo của TANDTC những năm gần đây, có thể thấy thấy số lượng các vụ án về dân sự nói chung đã có sự tăng lên về số lượng thụ lý và giải quyết, việc thực hiện quyền khởi kiện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương

sự ngày càng được đảm bảo Bên cạnh việc tăng về số lượng vụ án được thụ lý và giải quyết tại các Tòa án thì kể từ khi có BLTTDS, việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình khởi kiện cũng có bước chuyển biến tích cực

5

Trang 6

Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng, bên cạnh những thành tựu đạt được thì vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là vướng mắc, bất cập trong việc áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về vấn đề thụ lý vụ án dân sự, trả lại đơn khởi kiện vào thực tiễn Phó Chánh án thường trực TAND Tối cao Đặng Quang Phương cũng thừa nhận:

“lãnh đạo một số tòa án địa phương chưa phát huy đầy đủ tinh thần trách nhiệm, năng lực quản lý và điều hành còn hạn chế Vẫn còn một số thẩm phán, cán bộ tòa án hạn chế về năng lực và trình độ… Phương pháp, lề lối làm việc và thủ tục hành chính còn chậm đổi mới Thái độ phục vụ của một số cán bộ quan liêu, có trường hợp hách dịch, sách nhiễu, gây phiền hà cho đương sự”

2 Đánh giá tính khả thi của các quy định

II.1 Về trình tự nhận và giải quyết đơn

Theo hướng dân tại Mục 6 Phần I Nghị quyết 02/2006/NQ-HĐTP ngày

12/5/2006 của HĐTP TANDTC: “ Đối với TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là Tòa án cấp huyện) thì Chánh án hoặc Phó chánh án được ủy nhiệm phân công cho một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện Đối với TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì Chánh án hoặc Phó chánh tòa được Chánh án

ủy quyền phân công cho một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện” Theo quy định này

thì mỗi khi có một đơn khởi kiện được gửi đến Tòa mới thực hiện việc phân công xem xét đơn khởi kiện Như vậy, phải qua nhiều khâu mất nhiều thời gian

2.2 Về hình thức văn bản

Điều 171 BLTTDS quy định: “ Tòa án thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai nộp tiền tạm ứng phí” Như vậy, điều luật này đã không quy định bất

kì một hình thức văn bản nào để xác nhận việc Tòa án thụ lý vụ án Khoản 2 Điều 168 BLTTDS quy định: “Khi trả lại đơn khởi kiện, Tòa án phải có văn bản kèm theo ghi rõ

lý do trả lại đơn khởi kiện”, nhưng điều luật lại không xác định cụ thể loại hình thưc văn bản nào cần được áp dụng, quyết định, thông báo hay công văn ?

2.3 Về thủ tục nộp tiền tạm ứng phí

Theo quy định tại khoản 2 Điều 171 BLTTDS: “1 nếu thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Tòa án phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết

6

Trang 7

để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng phí 2 Tòa án dự tính số tiền tạm ứng phí, ghi vào phiếu báo cáo và giao cho người khởi kiện ” Hiện nay, chưa có hướng

dẫn thủ tục nộp tiền tạm ứng phí như thế nào và chưa có quy định hình thức của phiếu báo Thông thường các Tòa án viết giấy báo yêu cầu người khởi kiện đến Tòa án nhận thông báo nộp tiền tạm ứng án phí rồi đi nộp Cách làm này gây khó khăn cho người khởi kiện nếu họ ở xa sẽ phải đi lại nhiều lần, các đương sự khi đọc thông báo thường hiểu lầm là phải nộp tạm ứng án phí tại Tòa án Một số Tòa án ghi ngay số tiền tạm ứng án phí mà người khởi kiện phải nộp và ghi rõ nơi nộp tiền tạm ứng án phí vào thông báo cho người khởi kiện để họ có thể chuẩn bị tiền đi nộp, sau đó nộp lại biên lai nộp tiền tạm ứng án phí cho Tòa án Cách làm này đã giảm bớt khó khăn trong việc

đi lại cho người khởi kiện và tiết kiệm được thời gian

2.4 Về quy định chuyển đơn khởi kiện

Tại khoản 2 Điều 167 BLTTDS quy định: “Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án

có thẩm quyền và báo cho người khởi kiện, nếu vụ án thuộc thẩm quyền của Toàn án khác” Theo quy định tại Điều luật này và hướng dẫn tại điểm b Tiểu mục 6.4 Mục 6

Phần I Nghị quyết 02/2006/NQ - HĐTPTANDTC thì vừa phải thông báo cho người khởi kiện vừa phải ra quyết định để gửi cho người khởi kiện và những người có liên quan như vậy không cần thiết Hơn nữa, theo quy định này thì Tòa án đã nhận đơn sẽ chuyển đơn đến Tòa án có thẩm quyền hay để cho đương sự tự mang đến Tòa án có thẩm quyền nộp?

IV KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THỤ

LÝ, TRẢ LẠI ĐƠN KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ

1 Kiến nghị hoàn thiện các quy định về thụ lý vụ án dân sự

- Về trình tự giải quyết đơn, nên quy định mỗi Tòa án có một bộ phận chuyên trách giải quyết đơn Quy định như vậy sẽ giảm bớt thời gian thụ lý, đảm bảo tính chuyên môn, nâng cao được trách nhiệm của cán bộ được phân công thụ lý vụ án

- Về hình thức, BLTTDS nên bổ sung quy định hoạt động thụ lý vụ án phải được thể hiện bằng một quyết định trong đó ghi số, ngày tháng năm thụ lý, ghi rõ tranh chấp phải được giải quyết, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (nếu có)

7

Trang 8

- Về thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí, nên sửa đổi điều 171 BLTTDS quy định trong trường hợp người khởi kiện để họ đi nộp Thông báo phải ghi rõ các nội dung:

số tiền tạm ứng án phí, thời hạn, địa điểm nộp tiền tạm ứng án phí và thời hạn nộp lại biên lai cho Tòa án

2 Kiến nghị hoàn thiện các quy định về trả lại đơn khởi kiện vụ án dân sự

- Cần phải ra quyết định trả lại đơn khởi kiện phù hợp với Luật ban hành văn bản pháp luật vì cho dù là ai thực hiện hành vi trả lại đơn khởi kiện cho đương sự thì văn bản do Tòa án phát ra đều có chữ ký và con dấu của Tòa án đó;

- Điểm đ khoản 1 Điều 168 BLTTDS quy định trường hợp người khởi kiện chưa

có đủ điều kiện khởi kiện sẽ bị trả đơn khởi kiện Pháp luật cần có quy định về cách hiểu thống nhất trong trường hợp này để áp dụng cho đúng

˜ LỜI KẾT˜

Qua quá trình phân tích trên, có thể thấy rằng, Pháp luật TTDS về thụ lý vụ án và trả lại đơn khởi kiện đã quy định khá chi tiết và đầy đủ về vấn đề này Tuy nhiên trong thực tế áp dụng vẫn còn một số quy định chưa phù hợp dẫn tới nhiều cách hiểu khác nhau gây khó khăn cho Tòa án trong việc áp dụng Hi vọng rằng trong thời gian tới, pháp luật về thụ lý và trả lại đơn khởi kiện vụ án dân sự sẽ ngày càng được hoàn thiện hơn, nhằm hướng tới một hệ thống pháp luật TTDS đầy đủ, đúng đắn, theo pháp chế

xã hội chủ nghĩa./

˜ DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO˜

1 Trường đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Tư Pháp;

2 Bộ Luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2011;

3 Bộ luật dân sự năm 2005;

4 Nghị quyết 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của HĐTP TANDTC;

5 Vấn đề khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự, ThS Lê Thị Bích Lan, thẩm phán Tòa dân

sự Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, Tạp chí Luật học – Đặc san về BLTTDS 2004;

8

Trang 9

6 Lưu Tiến Dũng: “Xung quanh vấn đề nhận, trả lại đơn khởi kiện và giải quyết khiếu nại đối với vụ việc dân sự” Tạp chí TAND số 09/2006;

7 Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004;

8 Một số trang web khác:

http://www.gov.vn

http://www.tapchiphapluat.vn

http://www.toaannhandan.vn

˜ MỤC LỤC˜

9

Ngày đăng: 21/03/2019, 15:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w