1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

bàihocj kỳ dân sự 2 đề tài đánh giá quy định của pháp luật dân sự 2005 về hợp đồng dân sự vô hiệu

24 181 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 60,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, dựa trên cơ sở điều 127 BLDS năm 2005 : “giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại điều 122 của Bộ luật này thì vô hiệu”; ta có thể hiểu: hợp đồng dâ

Trang 1

MỞ BÀI

Hợp đồng dân sự luôn là loại giao dịch dân sự mang tính phổ biến và thông dụngnhất trong việc làm phát sinh, thay đổi và chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự Nó đượccoi là công cụ pháp lí quan trọng để thỏa mãn các nhu cầu trong sinh hoạt, tiêu dùng vàsản xuất, kinh doanh Chính vì vậy chế định về hợp đồng luôn là chế định cơ bản nhấttrong pháp luật dân sự của các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Chếđịnh về hợp đồng dân sự theo BLDS 2005 được đánh giá là khá hoàn thiện và tiến bộ.Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực nêu trên, nhiều quy định của luật còn chưa cụ thểdẫn tới nhiều vướng mắc trong thực tiễn áp dụng dẫn tới hợp đồng bị tuyên là vô hiệu Để

làm rõ hơn vấn đề này trong bài tập lớp em xin đi sâu vào vấn đề: “đánh giá quy định của pháp luật dân sự 2005 về hợp đồng dân sự vô hiệu”.

0

Trang 2

THÂN BÀI

I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ

VÔ HIỆU

1 Khái niệm chung và điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự

1.1 Khái niệm hợp đồng dân sự

Ở nước ta khái niệm về hợp đồng dân sự được xem xét trên hai phương diện: vềmặt khách quan thì hợp đồng dân sự được xem là tổng hợp các quy phạm pháp luật củaNhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong quá trình dịch chuyển cáclợi ích vật chất giữa các chủ thể với nhau Về mặt chủ quan thì hợp đồng dân sự đượcxem là kết quả của sự thỏa thuận, thống nhất ý chí của các bên nhằm mục đích xác lập,

thay đổi và chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự Tại điều 388 BLDS quy định: “hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền

và nghĩa vụ dân sự”

1.2 Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự

Hợp đồng dân sự là một hình thức của giao dịch dân sự làm phát sinh, thay đổi,chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự Theo đó, điều kiện có hiệu lực của hợp đồng cũngchính là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự được quy định tại Điều 122 BLDS

2005 Cụ thể:

thứ nhất, người tham gia giao dịch phải có năng lực hành vi dân sự, đây là một

trong những điều kiện tiên quyết đối với chủ thể tham gia giao dịch dân sự Bởi lẽ giaodịch dân sự nói chung và hợp đồng dân sự nói riêng về bản chất là sự thống nhất ý chí vàbày tỏ ý chí chủ thể tham gia giao dịch Do đó, chỉ những người có năng lực hành vi dân

sự mới có ý chỉ và khả năng bằng hành vi của mình xác lập thực hiện quyền và nghĩa vụdân sự

Thứ hai, mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội Khi tham gia vào các giao dịch dân sự nói chung

và các quan hệ hợp đồng dân sự nói riêng, các chủ thể có thể đạt được những mục đíchkhác nhau Các mục đích này là những lợi ích vật chất hoặc tinh thần mà các chủ thểtham gia vào giao dịch nhằm đạt được Động cơ mục đích cũng như nội dung của giaodịch dân sự do các chủ thể xác định, tuy nhiên trên tinh thần đáp ứng những lợi ích củachủ thể nhưng không làm ảnh hưởng đến lợi ích chung thì pháp luật quy định mục đích

và nội dung của hợp đồng dân sự không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạođức xã hội

1

Trang 3

Người tham gia giao dịch phải hoàn toàn tự nguyện Cơ sở hình thành các giao

dịch dân sự là ý chỉ của các chủ thể tham gia Ý chí là nguyện vọng, mong muốn chủquan bên trong của chủ thể và phải được thực hiện ra bên ngoài dưới một hình thức nhấtđịnh Khi tham gia vào hợp đồng dân sự các bên phải hoàn toàn tự nguyện, có nghĩa làmong muốn nguyên vọng bên trong của chủ thể phải được thể hiển ra bên ngoài đúngnhư ý chí đích thực của các chủ thể, họ không bị tác động của bất cứ yếu tố khách quanhay chủ quan nào khác dẫn tới việc chủ thể đó không nhận thức hoặc không kiểm soátđược ý chỉ của mình

Thứ tư, hợp đồng dân sự phải tuân thủ hình thức do pháp luật quy định Hình

thức của hợp đồng được coi là phương tiện vật chất thể hiện nội dung của hợp đồng, làphương tiện biểu đạt ý chí ra bên ngoài ý chỉ sự thỏa thuận của các chủ thể Hợp đồng cóthể giao kết bằng nhiều hình thức khác nhau như: lời nói, hành vi hoặc văn bản Theoquan điểm của BLDS Việt Nam thì các bên được phép chủ động lựa chọn hình thức hợpđồng phù hợp, việc tuân thủ quy định về hình thức chỉ là điều kiện có hiệu lực của hợpđồng trong trường hợp pháp luật có quy định cụ thể

2 Khái niệm chung về hợp đồng dân sự vô hiệu

2.1khái niệm và đặc điểm của hợp đồng dân sự vô hiệu

Pháp luật dân sự hiện nay chưa xây dựng được khái niệm khái quát về hợp đồngdân sự vô hiệu Khoa học pháp lí cũng như pháp luật thực định của Việt Nam mới chỉđưa ra các tiêu chí xác định vô hiệu của hợp đồng và từ đó đưa ra cách xử lí Tuy nhiên,

dựa trên cơ sở điều 127 BLDS năm 2005 : “giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại điều 122 của Bộ luật này thì vô hiệu”; ta có thể hiểu: hợp

đồng dân sự vô hiệu là hợp đồng vi phạm một trong các điều kiện có hiệu lực theo quyđịnh của pháp luật

Hợp đồng dân sự vô hiệu có các đặc điểm sau:

Thứ nhất, hợp đồng vô hiệu là kêt quả của sự vi phạm về mặt ý chí đích thực của chủ thể

hoặc xâm phạm lợi ích công cộng, lợi ích của các bên chủ thể khác hay đôi khi là xâmphạm đến lợi ích của chính bản thân chủ thể

Thứ hai, hợp đồng dân sự vô hiệu là thể hiện ý chí của Nhà nước (nhằm bảo vệ lợi ích

của Nhà nước, của cơ quan, chủ thể khác…) đối với việc công nhận sự thỏa thuận của cácbên chủ thể do vậy các nhà nước khác nhau quy định hợp đồng dân sự vô hiệu có thểkhác nhau

Thứ ba, khi hợp đồng dân sự vô hiệu các bên có thể phải gánh chịu những hậu quả pháp

lí nhất định: hợp đồng vô hiệu không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên kể từ

2

Trang 4

thời điểm giao kết; các bên hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận Đây chính là một tổnthất đối với các bên khi các bên đã không đạt được mục đích mong muốn ban đầu củaviệc giao kết hợp đồng nhằm phát sinh các quyền và nghĩa vụ dân sự, thỏa mãn các nhucầu chính đáng của mình.

2.2 Phân loại hợp đồng dân sự vô hiệu

Phân loại hợp đồng dân sự vô hiệu là việc phân chia hợp đồng dân sự thành nhữngloại khác nhau theo các tiêu chí và nhằm những mục đích nhất định Thông qua việc phânloại hợp đồng dân sự vô hiệu cho ta nhìn nhận một cách toàn diện về hợp đồng vô hiệudưới những khía cạnh và phương diện khác nhau để từ đó đưa ra cách thức xử lí thíchhợp Mỗi phương pháp phân loại dựa trên những tiêu chí khác nhau tùy thuộc vào mụcđích của việc phân loại Sau đây là một số cách thức phân loại hợp đồng dân sự phổ biến

Căn cứ vào tính chất vô hiệu của hợp đồng dân sự chia thành:

-Hợp đồng vô hiệu tuyệt đối là những hợp đồng có nội dung xâm hại đến lợi ích công

cộng và hợp đồng vô hiệu ngay kể từ thời điểm giao kết Các dạng thường gặp của hợpđồng vô hiệu tuyệt đối là các hợp đồng mà nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, tráiđạo đức xã hội, hợp đồng giả tạo; hợp đồng vi phạm điều kiện bắt buộc về hình thức theoquy định của pháp luật

-Hợp đồng vô hiệu tương đối là những hợp đồng mà nội dung chỉ xâm hại đến lợi ích cá

nhân hoặc có sự khiếm khuyết của ý chí và sự thống nhất ý chí, Hợp đồng có thể vô hiệunếu có yêu cầu của bên được pháp luật bảo vệ và được tòa án tuyên bố vô hiệu Nhữngnguyên nhân dẫn đến hợp đồng vô hiệu tương đối thường là hợp đồng được giao kết donhầm lẫn, đe dọa hay lừa dối

Căn cứ phạm vi vô hiệu, hợp đồng vô hiệu được chia thành:

-Hợp đồng vô hiệu toàn bộ: khi các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng bị vi phạm làm

cho toàn bộ hợp đồng không có hiệu lực, mọi điều khoản của hợp đồng không có giá trịpháp lý

-hợp đồng dân sự vô hiệu một phần: khi chỉ có một hoặc một số thỏa thuận của hợp đồng

là vô hiệu mà điều đó không ảnh hưởng đến hiệu lực của toàn bộ hợp đồng Nói cáchkhác hợp đồng vô hiệu một phần là hợp đồng mà ở đó chỉ có một phần của hợp đồng bị

vô hiệu, các phần khác vẫn có hiệu lực

Căn cứ vào điều kiện có hiệu lực của hợp đồng vi phạm thì có thể chia hợp đồng

vô hiệu thành:

3

Trang 5

- Hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội

- Hợp đồng vô hiệu do giả tạo

- Hợp đồng vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vidân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện

- Hợp động vô hiệu do bị nhầm lần

- Hợp đồng dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa

- Hợp đồng vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành

vi của mình

- Hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức

II HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÔ HIỆU THEO QUY ĐỊNH CỦA BLDS 2005

1 Căn cứ xác định hợp đồng dân sự vô hiệu

Theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành, hợp đồng dân sự đượcxác định là vô hiệu khi vi phạm một trong các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng Trên

cơ sở quy định tại điều 122 BLDS năm 2005 có thể đưa ra hai căn cứ cơ bản sau để xácđịnh một hợp đồng dân sự vô hiệu:

- Hợp đồng vi phạm ý chí của chủ thể

- Hợp đồng vi phạm các điều kiện do ý chí của nhà nước

1.1 Hợp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm điều kiện ý chí về chủ thể

Như chúng ta đã biết, bản chất pháp lí của hợp đồng chính là sự thể hiện ý chí vàthống nhất ý chí trên cơ sở thỏa thuận, hoàn toàn tự nguyện của các bên chủ thể Các điềukhoản thỏa thuận trong hợp đồng phải phù hợp với ý chí chủ quan, mong muốn của cácchủ thể; đồng thời phải có sự thống nhất ý chí đích thực và sự thể hiện ý chí đó ra bênngoài một cách hoàn toàn tự nguyện Theo đó các hợp đồng được giao kết chỉ có thể bịtuyên là vô hiệu khi thỏa mãn 2 điều kiện sau:

+ có yêu cầu tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu của người có quyền yêu cầu

+ có quyết định của tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu

Quy định này là hoàn toàn hợp lí, thể hiện sự tiến bộ của pháp luật dân sự ViệtNam Nhà nước không can thiệp sâu vào quyết định hợp đồng vô hiệu hay không màgiành quyền ưu tiên này cho chính các chủ thể trong quan hệ hợp đồng Nếu người nàykhông yêu cầu tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu thì hợp đồng vẫn được coi là có giá trịpháp lí Một đặc điểm nữa đó là, thời hiệu yêu cầu tuyên bố vô hiệu đối với các hợp đồnhtrong trường hợp vi phạm ý chí của củ thể là hai năm, kể từ ngày giao kết Pháp luật chỉdành cho các chủ thể thực hiện quyền yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng để bảo vệ

4

Trang 6

quyền và lợi ích chính đáng của mình trong một thời hạn nhất định hợp đồng vi phạm ýchí về mặt chủ thể có thể bị tuyên vô hiệu trong các trường hợp sau:

Thứ nhất, hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn, điều 131 BLDS quy định: “khi một

bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch dân sự mà xác lập giao dịch thì bên nhầm lần có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó, nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu Trong trường hợp một bên do lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch thì được giải quyết theo quy định tại điều 132 của Bộ luật này” Nếu

bên bị nhầm lẫn1 chứng minh được sự nhầm lẫn của mình thì hợp đồng do các bên giaokết có thể bị tuyên vô hiệu Trong nhiều trường hợp sự nhầm lẫn xảy ra do lỗi của bên đốitác, khi một bên có lỗi làm cho bên bên kia nhầm lẫn về nội dung của hợp đồng mà giaokết hợp đồng thì bên kia nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của hợpđồng đó, nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa ántuyên bố hợp đồng vô hiệu.Ví dụ: A bán cho B một cái máy giặt hàng ngoại nhập, vì nghĩ

là B biết cách sử dụng do không thấy B hỏi gì thêm nên A không hướng dẫn về cách sửdụng nguồn điện Khi B về nhà cắm vào nguồn điện 220v thì thấy có mùi cháy khét và bịtắt điện, B đem đến trả lại cho A thì A bảo trong hướng dẫn có ghi rõ là dùng với nguồnđiện 110v nên A không chấp nhận cho trả lại hàng và hôm sau B khởi kiện ra tòa Trongtrường hợp này trên thực tế, B nghĩ là máy hút bụi cũng sử dụng được nguồn điện bìnhthường trong nhà và sách hướng dẫn bằng tiếng Nhật nên không biết, nếu biết phải sửdụng bằng nguồn điện 110v thì B sẽ không mua Còn A thì nghĩ là B biết nên cũng khônghướng dẫn B cách sử dụng Như vậy, A có lỗi cố ý trong việc không hướng dẫn cho B vềcách sử dụng Như vậy A có lỗi trong việc không hướng dẫn cho B cách sử dụng máygiặt khiến cho B về nhà dùng thì bị cháy máy, hợp đồng được thiết lập giữa A và B bị vôhiệu do sự nhầm lẫn của B

Tuy nhiên, lỗi của bên gây ra sự nhầm lẫn phải là lỗi vô ý, nếu sự nhầm lẫn do lỗi

cố ý của các bên đối tác thì hợp đồng đã giao kết không phải vô hiệu do nhầm lần mà lạithuộc trường hợp vô hiệu do lừa giối Xung quanh vấn đề lỗi của các bên trong trườnghợp hợp đồng giao kết do nhầm lẫn thì hợp đồng chỉ bị tuyên là vô hiệu nếu sự nhầm lần

xảy ra do lỗi vô ý của bên đối tác Điều 31 BLDS quy định: “khi bên có lỗi làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch dân sự thì bên bị nhầm lần có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó, nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn

có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu……….bên cạnh đó khi giải quyết

vấn đề này còn có thể áp dụng nguyên tắc chung về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng

1 Nhầm lẫn là việc các bên hình dung sai về nội dung của hợp đồng mà tham gia giao kết hợp đồng gây thiệt hại cho

mình hoặc cho bên kia Sự nhầm lẫn xuất phát từ nhận thức của các bên hoặc phán đoán sai lầm về đối tượng sự

việc, sự nhầm lẫn phải được thể hiện rõ ràng mà căn cứ vào nội dung của hợp đồng phải xác định được.

5

Trang 7

để giải quyết người tham gia giao dịch phải hoàn toàn tự nguyện( điểm c, khoản 1 Điều

122 BLDS 2005) Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng dân sự vô hiệu là 2 năm( điều 136 BLDS 2005) kể từ ngày xác lập hợp đồng.Tuy nhiên nếu hết thời hiệu này màbên bị nhầm lẫn không yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu thì vấn đề tranh chấp

về hiệu lực của hợp đồng không còn tồn tại nữa và hợp đồng giao kết vẫn phát sinh hiệulực kể từ thời điểm giao kết

Thứ hai, hợp đồng dân sự vô hiệu do bị lừa giối Cũng như nhầm lần lừa giối là

một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong đời sống hằng ngày Lừa giối được coi là yếu

tố dẫn đến sự vô hiệu của hợp đồng khi một bên cố ý làm cho bên kia phải giao kết hợpđồng không theo ý muốn thực theo quy định của BLDS 2005 tại điều 132 thì khi mộtbên tham gia hợp đồng dân sự do bị lừa giối2 thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợpđồng dân sự đó là vô hiệu Như vậy, hành vi lừa giối có thể do một bên chủ thể tham giagiao kết hợp đồng thực hiện mà cũng có thể do người thứ ba gây ra nhằm làm cho bên kiahiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của hợp đồng nên đã giaokết hợp đồng Tuy nhiên trong trường hợp người thứ ba gây ra cần phải hiểu là người thứ

ba đó phải có mối quan hệ với một bên chủ thể tham gia giao kết hợp đồng và bên chủthể đó biết rõ về hành vi lừa giối bên đối tác hiểu sai lệch của người thứ ba Khi đó, hợpđồng đã được các bên giao kết mới bị coi là vô hiệu Ngoài ra hợp đồng chỉ vô hiệu khilừa giối thuộc một trong các trường hợp sau:

- Lừa giối về chủ thể của hợp đồng khi yếu tố chủ thể đóng vai trò quyết định

- Lừa giối về tính chất của hợp đồng

- Lừa giối về nội dung của hợp đồng

Để đảm bảo quyền lợi của bên chủ thể bị lừa giối, pháp luật cũng quy định, chỉ cóbên chủ thể bị lừa giối mới có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng dân sự đã đượcgiao kết bị vô hiệu do lừa giối Tuy nhiên, thời hiệu khỏi kiện trong trường hợp này là hainăm, sau hai năm thì hiệu lực của hợp đồng sẽ không còn bị tranh chấp, hợp đồng đã giaokết sẽ tiếp tục phát huy hiệu lực pháp lí

Thứ ba, hợp đồng dân sự vô hiệu do bị đe dọa Đe dọa3 trong hợp đồng có thểđược thể hiện dưới hai hình thức: đe dọa về thể chất như bắt buộc một người phải kí kếthợp đồng hoặc làm cho người khác bị say rồi kí kết hợp đồng với mình, đe dọa về tinhthần như đe dọa sẽ làm lộ một bí mật nào đó của người khác làm cho họ phải giao kếthợp đồng với mình Khoa học pháp lí cũng như luật thực định Việt Nam đều thừa nhận

đe dọa trong giao kết hợp đồng là một yếu tố có thể dẫn đến sự vô hiệu của hợp đồng2

Lừa giối ở đây được hiểu là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính

chất của đối tượng hoặc nội dung của hợp đồng nên đã giao kết hợp đồng.

3 Đe dọa trong giao kết hợp đồng là hành vi làm cho một người khiếp sợ, khiến cho người này phải giao kết hợp đồng ngoài ý

muốn của họ.

6

Trang 8

(điều 132- BLDS 2005) Tuy nhiên đe dọa chỉ trở thành yếu tố có thể dẫn tới sự vô hiệucủa hợp đồng khi thỏa mãn hai điều kiện Thứ nhất, phải có hành vi cố ý của một bên làmcho bên kia sợ hãi mà giao kết hợp đồng Thứ hai, bên bị đe dọa phải giao kết hợp đồngnhằm tránh gây thiệt hại về mọi mặt cho chính họ hoặc cho những người thân thích của

họ nếu hành vi không đáp ứng điều kiện trên thì không được coi là đe dọa trong giao kết

hợp đồng, không dẫn tới sự vô hiệu của hợp đồng Điều 132 BLDS quy định: “khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị đe dọa thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó là vô hiệu”

Cũng theo quy định của BLDS, đe dọa trong giao kết hợp đồng được hiểu là hành

vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịchnhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của cha,

mẹ, vợ, chồng, con của mình Như vậy đe dọa ở đây không chỉ là đe dọa về tính mạng,sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản của bên đối tác (người mà họ định giao kếthợp đồng) mà còn là sự đe dọa đối với những người có quan hệ huyết thống đối với bênđối tác cũng có thể dẫn tới sự vô hiệu của hợp đồng dân sự

Ngoài ra pháp luật cũng quy định trong trường hợp này, phải có sự yêu cầu của bên

bị đe dọa thì Tòa án mới tuyên hợp đồng đã được giao kết giữa các bên vô hiệu Và thờihiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu trong trường hợp này là hai năm

Thứ tư, hợp đồng dân sự vô hiệu do người xác lập tại thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình

Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng hành động của chính chủ thể đểtạo ra các quyền, thực hiện quyền và nghĩa vụ của họ (điều 17 BLDS) Nó là thuộc tínhcủa cá nhân, tạo thành tư cách chủ thể độc lập của cá nhận trong quan hệ dân sự Bêncạnh đó, pháp luật cũng quy định cá nhân nếu có năng lực hành vi dân sự đầy đủ thì cóquyền tham gia vào mọi quan hệ dân sự với tư cách là chủ thể độc lập và tự chịu tráchnhiệm về những hành vi do họ thực hiện trừ trường hợp bị tuyên bố mất năng lực hành vidân sự hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự

1.2 Hợp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm ý chí của nhà nước

Khi giao kết hợp đồng các bên được tự do thỏa thuận về nội dung hợp đồng, tự doxác định vi phạm quyền và nghĩa vụ của các bên Tuy nhiên sự tự do hợp đồng khôngphải là tuyệt đối mà là trong khuôn khổ pháp luật quy định, trong mối quan hệ biệnchứng với đảm bảo lợi ích, trật tự công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thểkhác Như chúng ta đã biết pháp luật thời kì nào cũng luôn mang tính giai cấp và nó là sựthể hiện ý chí của Nhà nước một cách rõ ràng nhất Trong những trường hợp cần thiết,

7

Trang 9

nhân danh tổ chức quyền lực công, Nhà nước có thể can thiệp vào việc kí kết hợp đồng

và do đó giới hạn quyền tự do giao kết hợp đồng

Hợp đồng vi phạm ý chí của nhà nước không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến các chủthể mà trên hết nó ảnh hưởng đến lợi ích chung của cộng đồng nên phần lớn các hợpđồng do vi phạm ý chí của nhà nước bị coi là vô hiệu tuyệt đối – vô hiệu ngay từ thờiđiểm giao kết mà không phụ thuộc vào chủ thể yêu cầu, vào quyết định của Tòa án Cũngchính bởi quan điểm coi hợp đồng vi phạm ý chí của Nhà nước là đương nhiên vô hiệu

mà vì thế BLDS năm 2005 đã không hạn chế thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu đốivới phần lớn hợp đồng này Tuy nhiên ngoài các đặc điểm nói chung trên, mỗi hợp đồng

vi phạm ý chí Nhà nước cụ thể lại có những đặc điểm rất riêng biệt

Thứ nhất, hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều kiện về năng lực chủ thể

Như chúng ta đã biết, một trong những điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự

theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 122 BLDS đó là “ người tham gia giao dịch phải

có năng lực hành vi dân sự”, điều 127 BLDS cũng xác định “ giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện quy định tại điều 122 của Bộ luật này thì vô hiệu” Do vậy, khi

chủ thể tham gia giao kết hợp đồng không đáp ứng điều kiện có năng lực hành vi dân sựthì hợp đồng có thể bị vô hiệu BLDS đã cụ thể hóa quan điểm này thông qua quy định tại

điều 130: “khi giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu thì nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện”.

Hợp đồng được giao kết vi phạm điều kiện về năng lực của chủ thể được xếp vàonhóm hợp đồng vi phạm ý chí của Nhà nước, vì xét về bản chất, việc đưa ra các tiêu chí

để xác định năng lực hành vi dân sự của chủ thể là do ý chí của Nhà nước, được các nhàlàm luật cụ thể hóa thành các quy định pháp luật cụ thể Nên khi hợp đồng giao kết viphạm quy định pháp luật về điều kiện năng lực chủ thể thì sẽ bị vô hiệu Tuy nhiên,không giống với sự vô hiệu của phần lớn các hợp đồng vi phạm ý chí của Nhà nước Sự

vô hiệu của hợp đồng vi phạm điều kiện về năng lực chủ thể chỉ được coi là tương đối, và

bị giới hạn về thời hạn tuyên bố yêu cầu tuyên vô hiệu – 2 năm kể từ ngày giao dịch đượcxác lập ( khoản 1 điều 136) Theo quy định của pháp luật dân sự hiện hành, hợp đồngđược xác lập, thực hiện bởi người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sựhoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự có thể bị tuyên vô hiệu nếu thỏa mãn cácđiều kiện sau:

- pháp luật quy định hợp đồng đó phải do người đại diện xác lập, thực hiện

- phải có yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu của người đại diện

8

Trang 10

- có quyết định tuyên vô hiệu của Tòa án

Thứ hai, hợp đồng vô hiệu do giải tạo Điều 129 BLDS năm 200 quy định: “khi

các bên xác lập giao dịch dân sự vô hiệu một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này Trong trường hợp xác lập giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch đó vô hiệu”

Có nhiều ý kiến cho rằng nên xếp hợp đồng giả tạo vào trường hợp vi phạm sự tựnguyện, vi phạm ý chí của chủ thể Với lí do hợp đồng giải tạo không phải là sự thể hiện

ý chí đích thực của các bên chủ thể mà thực chất đây là kết quả cụ thể hóa của hành vigiao dối mà các bên thực hiện nhằm hướng đến mục đích che giấu một hợp đồng kháchoặc để trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba Các bên xác lập hợp đồng không nhằm phátsinh hậu quả pháp lí, mà sự thiết lập hợp đồng chỉ tạo ra một hình thức – vỏ bọc che đậycho mục đích thực hiện của các bên Tuy nhiên trên cơ sở quy định tại điều 4 BLDS 2005

“trong quan hệ dân sự, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được áp đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe dọa, ngăn cản bên nào” có thể toát lên một tinh thần cơ bản của các

nhà làm luật Việt Nam coi sự tự nguyện là sự tự do lựa chọn Hợp đồng giải tạo khôngchống lại tự do lựa chọn của các bên, việc giao kết hợp đồng hoàn toàn là do mong muốncủa họ ( mặc dù đây là những mong muốn bất hợp pháp) Nhưng nó lại nhằm tạo ra mộthậu quả pháp lí giả giối, không đúng sự thực về mối quan hệ giữa các bên Tức là, nóchống lại ý chí của nhà nước – của các nhà làm luật trong việc kiểm soát giao dịch pháp

lý nhằm bảo vệ trật tự công cộng xuất phát từ các nguyên tắc thiện chí, trung thực cũngnhư đòi hỏi nguyên nhân chính đáng của nghĩa vụ hợp đồng Do vậy, hợp đồng giả tạophải được xếp vào nhóm vi phạm ý chí của Nhà nước, điều này hoàn toàn hợp lí, bởi xemxét các quy định của BLDS năm 2005 ta có thể nhận thấy, khi hợp đồng được giao kết dogiả tạo nó sẽ bị mặc nhiên vô hiệu mà không phụ thuộc vào ý chí chủ thể yêu cầu vàquyết định của Tòa án Đồng thời, nó cũng không bị giới hạn về thời hiệu yêu cầu Tòa ántuyên bố vô hiệu

Hợp đồng vô hiệu do giả tạo có thể xảy ra hai khả năng:

-Các bên xác lập, giao kết hợp đồng giả tạo nhằm che giấu một hợp đồng khác.Đây là một hành vi gian dối được thực hiện thông qua việc xác lập, giao kết hai hợpđồng: hợp đồng giả tạo và hợp đồng bị che giấu ( thường được các bên xác lập cùng lúc).Trường hợp này, theo quy định của BLDS 2005 chỉ hợp đồng giả tạo bị vô hiệu còn hợpđồng chính thực (hợp đồng bị che giấu) thì vẫn có hiệu lực

-Các bên xác lập hợp đồng giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba,nghĩa là trước khi giao kết hợp đồng giả tạo, một trong hai bên đã tồn tại quan hệ nghĩa

9

Trang 11

vụ với người thứ ba và việc giao kết hợp đồng giả tạo này là nhằm trốn tránh, không phảithực hiện nghĩa vụ Việc các bên chủ thể giao kết hợp đồng giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa

vụ không chỉ vi phạm ý chí tự nguyện ( không có sự thể hiện ý chí đích thực) mà còn xâpphạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba, làm ảnh hưởng đến trật tự côngcộng

Thứ ba, hợp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội về đối tượng, mục đích, nội dung

Điều 12 BLDS năm 2005 quy định: “giao dịch dân sự có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu” Khi các bên chủ thể tham

gia giao kết hợp đồng có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm54 của pháp luật hoặc tráiđạo đức xã hội thì hợp đồng đó sẽ bị coi là vô hiệu tuyệt đối; và thời hiệu yêu cầu Tóa ántuyên bố hợp đồng vô hiệu là không hạn chế.ở đây không chỉ có những điều cấm củapháp luật dân sự mà còn được hiểu là điều cấm quy địnhtrong tất cả các van bản phápluật khác như Luật doanh nghiệp, các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã kí kết hoặc thamgia…ví dụ: xác lập hợp đồng vay với lãi suất cắt cổ, hợp đồng có đối tượng bị cấm giaodịch: vũ khí, chất độc, chất phóng xạ, ma túy, mại dâm, buôn bán phụ nữ, trẻ em, thựcvật, động vật hoang dã thuộc danh mục cấm…

Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng Không trái đạo đức xã hội tức là

nội dung và mục đích của hợp đồng không được trái với những quy tắc ứng xử chunggiữa người với người đã được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng, ví dụ: việc lợi dụnghoàn cảnh khó khăn, sự hiểu biết thiếu non kém của một bên chủ thể để giao kết hợpđồng có lợi cho mình một cách quá đáng…

Với bản chất là các chuẩn mực xử sự chung của mỗi cộng đồng nên trong mỗi thời

kì xã hội khác nhau thì quan niệm về chuẩn mực đạo đức xã hội lại có sự thay đổi Cónhững hành vi xử sự ở thời kì này không bị coi là vi phạm đạo đức xã hội nhưng ở nhữngthời kì khác lại vi phạm đạo đức xã hội, ví dụ: hành vi mua người trong xã hội phongkiến là một hành vi rất bình thường tuy nhiên trong xã hội ngày nay hành vi đó khôngnhững bị lên án mà còn bị coi là vi phạm pháp luật đôi khi việc xác định sự trái đạo đức

xã hội còn phụ thuộc vào cả truyền thống văn hóa của mỗi quốc gia

Thứ năm, hợp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm hình thức luật định

Hình thức hợp đồng là sự thể hiện nội dung của hợp đồng và những thủ tục màpháp luật quy định, bắt buộc các bên giao kết hợp đồng phải tuân thủ khi kí kết một số

4Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.

10

Trang 12

loại hợp đồng nhất định Cũng như pháp luật các nước, pháp luật dân sự Việt Nam thừanhận nguyên tắc tự do hình thức trong giao kết hợp đồng có thể được giao kết bằng cáchình thức khác nhau5 như: lời nói, văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể Nếu trường hợp

pháp luật quy định cụ thể loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất

định thì các bên phải tuân thủ Điều 134 BLDS năm 2005 quy định: “Trong các trường hợp pháp luật quy định hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch

mà các bên không tuân theo thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Tòa án, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch đó vô hiệu”

Theo khoản 2 điều 122 BLDS năm 2005 thì: “hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định” Đồng thời, khoản 2 điều 401 cũng xác định: “hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” Qua đó có thể thấy rằng

về nguyên tắc, hình thức không phải điều kiện bắt buộc để cho hợp đồng có hiệu lực pháp

lí, tức là hợp đồng chỉ bị tuyên vô hiệu do vi phạm điều kiện về hình thức luật định sẽ vôhiệu

Ngoài ra, xuất phát từ việc đối tượng của hợp đồng là một trong những yếu tố cấu thành hợp đồng, BLDS năm 2005 còn xác định hợp đồng dân sự là vô hiệu khi đối tượng của hợp đồng không thể thực hiện được.

Hợp đồng chỉ có thể vô hiệu với lí do đối tượng không thể thực hiện được nếu đápứng đủ hai điều kiện: ngay từ khi kí kết với lí do khách quan Vậy, ngay từ khi kí kết phảiđược hiểu như thế nào? đó có phải đơn thuần chỉ là thời điểm các bên kí kết vào hợpđồng bằng văn bản không hay phải hiểu cách khái quát đó chính là thời điểm giao kết hợpđồng Cho đến nay vẫn chưa có một hướng dẫn cụ thể, nhưng theo quan điểm của chúngtôi có lẽ nên hiểu “ ngay từ khi kí kết” là từ thời điểm giao kết hợp đồng sẽ hợp lí hơn.Một vấn đề nữa cần quan tâm khi xác định do có đối tượng không thể thực hiện đượcphải là” lí do khách quan” Lí do khách quan ở đây có thể được hiểu là những tác độngbên ngoài , hoàn toàn không phụ thuộc vào ý chỉ chủ quan của các bên chủ thể như: thiêntai, mưa bão, lũ lụt hoặc sự kiện bất khả kháng; cháy, hỏa hoạn, bị cắt điện sản xuất… vídụ: A cam kết sẽ sản xuất để bán cho B một loại thuốc có thể chữa được bênh tim mạch,

B tin tưởng rằng A có thể bán cho mình loại thuốc đó và A cũng biết rằng mình sẽ khôngthể giao cho B loại thuốc đó nhưng lại không thông báo cho B biết Trong trường hợpnày hợp đồng bị coi là vô hiệu và A phải bồi thường cho B

5Khoản 1 điều 401 BLDS quy định hình thức của hợp đồng dân sự: “hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng

văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất

định”

11

Ngày đăng: 21/03/2019, 15:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w