1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Trình bày các quy luật của tri giác ứng dụng của các quy luật này trong cuộc sống và trong lĩnh vực pháp lý

11 799 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tri giác nằm trong mức độ nhận thức cảm tính, là một quá trình nhận thức quan trọng, nó giúp chúng ta hiểu rõ hơn về sự vật hiện tượng tồn tại trong cuộc sống của mình.. Định nghĩa: Tri

Trang 1

Mở đầu

Trong xã hội hiện đại, khi sức mạnh đồng tiền gần như chi phối hết tất cả những

gì xảy ra trong cuộc sống thì con người ta càng biết quý trong hơn những giá trị tinh thần, đời sống tính cảm và những tâm tư, nguyên vọng của cá nhân Những cái đó được gọi là tâm lí Tâm lí là một hiện tượng phức tạp mà con người là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội, là trung tâm để phản ánh thế giới khách quan Trong đó quá trình nhận thức giúp con người bày tỏ được thái độ, tình cảm và hành động đối với thế giới xung quanh mình

Tri giác nằm trong mức độ nhận thức cảm tính, là một quá trình nhận thức quan trọng, nó giúp chúng ta hiểu rõ hơn về sự vật hiện tượng tồn tại trong cuộc sống của mình Tuy nhiên mỗi một quá trình nào cũng tuân theo quy luật cụ thể và mỗi quy luật của tri giác đều là một thể nghiệm đã được thực tế chứng mình Nhân thức được tâm

thiết yếu của vấn đề, nhóm 7 xin chọn câu “ Trình bày các quy luật của tri giác Ứng dụng của các quy luật này trong cuộc sống và trong lĩnh vực pháp lý” để làm bài

tập nhóm cho mình

Nội dung

Nhận thức là một trong 3 mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người ( Nhận thức, tình cảm, hành động ) nó là tiền đề của hai mặt kia và đồng thời có quan hệ mật thiết với các hiện tượng tâm lý khác của con người Nó là quá trình tâm lý phản ánh hiện thực khách quan và bản thân con người thông qua các giác quan và dựa trên kinh nghiệm hiểu biết của bản thân

Hoạt động nhận thức bao gồm nhiều quá trình khác nhau và thể hiện ở những mức

độ phản ánh hiện thực khác nhau và mang lại những sản phẩm khác nhau về hiện thực khách quan( hình ảnh, biểu tượng, khái niệm)

Căn cứ vào tính chất phản ánh có thể chia họat động nhận thức thành hai mức độ: Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính có

Trang 2

quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau, chi phối lẫn nhau, thống nhất trong quá trình nhận thức

Trong quá trình nhận thức cảm tính thì tri giác là đại diện

1 Cơ sở lí luận

a Định nghĩa:

Tri giác là quá trình tâm lý phản ảnh một cách trọn vẹn các thuộc tính của sự vật, hiện tượng khi chúng trực tiếp tác động vào giác quan Là quá trình phản ảnh trong ý thức con người về những sự vật hiện tượng khi chúng tác động trực tiếp vào cơ quan cảm giác

Ví dụ: 1 đứa trẻ lần đầu tiên nhìn thấy 1 quả tròn màu vàng, có mùi thơm, bề mặt nhẵn chưa biết là quả gì Nhưng mẹ bảo là quả thị lần sau nhìn thấy quả đó nó biết ngay là quả thị

b §Æc ®iÓm:

- Tri giác là một quá trình nhận thức tức là có nảy sinh, diễn biến và kết thúc Kích

thích gây ra tri giác chính là các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan

- Tri giác phản ánh sự vật, hiện tượng một cách trọn vẹn Nghĩa là nó phải đem lại cho

ta một hình ảnh hoàn chỉnh về sự vật, hiện tượng

Tính trọn vẹn của tri giác là do tính trọn vẹn khách quan của bản thân sự vật và hiện tượng quy định

- Tri giác phản ánh hiện thực khách quan một cách tiếp nghĩa là sự vật, hiện tượng phải đang trực tiếp tác động vào các giác quan của chúng ta

- Tri giác của con người mang bản chất xã hội, lịch sử

- Tri giác là thành phần chính của nhận thức cảm tính, nhất là ở con người trưởng thành

c Vai trß:

Ở mức độ nhận thức cảm tính cao hơn cảm giác, tri giác đóng vai trò quan trọng trong đời sống tâm lí của con người Vai trò của tri giác được biểu hiện như sau :

Trang 3

- Trên cơ sở phản ánh thế giới một cách trọn vẹn và đầy đủ hơn cảm giác mà tri giác giúp con người định hướng nhanh chóng và chính xác hơn trong môi trường xung quanh

- Hình ánh tri giác với sự tham gia của vốn kinh nghiệm sống của các chức năng tâm

lý, hành vi và hoạt động của con người trong thế giới, giúp con người phản ánh thế giới có lựa chọn và mang tính ý nghĩa

- Ở trình độ phát triển cao của tri giác có mục đích, có kế hoạch, có biện pháp và đạt mức phản ánh đối tượng tốt nhất thì tri giác trở thánh hoạt động quan sát của con người

II Các quy luật của tri giác Ứng dụng của các quy luật này trong cuộc sống

và trong lĩnh vực pháp lý:

1 Quy luật về tính lựa chọn của tri giác:

Chúng ta biết rằng trong cuộc sống có rất nhiều các sự vật, hiện tượng tác động đến con người, nó đa dạng tới mức con người không thể tri giác và phản ứng với tất cả những kích thích đó một cách đồng thời Chúng ta chỉ tách ra một cách rõ ràng từ trong

vô số những tác động đó và tri giác một vài tác động mà thôi Đặc điểm này đã cho chúng ta thấy được tính lựa chọn của tri giác

Quy luật về tính lựa chọn của tri giác đã thể hiện một cách tích cực hoạt động tri giác: Tách đối tượng ra khỏi bối cảnh chung, là hình ảnh chủ quan vào thế giới khách quan và lấy nó làm đối tượng phản ánh của mình Theo như quy luật tính lựa chọn thì khi ta tri giác một vật nào đó tức là ta tách vật đó (Đối tượng mà ta tri giác) ra khỏi các vật xung quanh (bối cảnh) Sự lựa chọn trong tri giác không có tính chất vô định, vai trò của đối tượng và bối cảnh có thể đổi chỗ cho nhau Một vật nào đó lúc này là đối tượng, lúc khác lại là bối cảnh và ngược lại

Quy luật về tính lựa chọn của tri giác được thể hiện thông qua ví dụ sau: khi ta ra chợ mua ổi, trong rổ quả của người bán hàng có nhiều loại quả: ổi, cam, dứa, xoài Do tri giác ta biết được quả ổi có hình dạng là hình tròn, có màu xanh, vì vậy ta chỉ lựa

Trang 4

chọn những quả có đặc điểm như vậy mà không chọn quả cam, xoài hay dứa mặc dù các loại quả này đều có trong rổ Ví dụ này đã cho thấy tính lựa chọn của tri giác Quy luật về tính lựa chọn của tri giác được ứng dụng một cách rộng rãi trong cuộc sống của mỗi con người nói chung và đặc biệt là đối với những cán bộ trong khoa học pháp lý nói riêng Như chúng ta đã biết, trong cuộc sống hàng ngày con người phải luôn chịu sự tác động của rất nhiều sự kiện có thể là một sự kiện về văn hoá, xã hội hay một mảng nào đó của đời sống Nhưng không phải tất cả những sự kiện đó đều được mọi người quan tâm, xem xét, nghiên cứu hết mà ở đây chúng ta đã biết vận dụng quy luật về tính lựa chọn của tri giác vào việc lựa chọn những sự kiện có lợi, những sự kiện phụ vụ cho nhu cầu của cuộc sống

Ví dụ: Trong một ngày có rất nhiều sự kiện xảy ra có tác động trực tiếp đến cuộc sống của mọi người trong xã hội như: Sự kiện giá xăng dầu tăng, một bản tin về vấn đề kinh doanh bất động sản hay một số vấn đề văn hoá, xã hội khác Nhưng với nhiều sự kiện đó, có người chỉ lựa chọn và quan tâm đến sự kiện xăng dầu tăng mà không quan tâm đến những sự kiện khác vì vấn đề này có ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của

họ Đối với những người tham gia hoạt động kinh doanh bất động sản thì họ chỉ quan tâm đến thông tin bất động sản mà không hề quan tâm đến những vấn đề khác mặc dù trong cùng một ngày tất cả các sự kiện đó đều tác động tới mình Đó là quy luật tính lựa chọn của tri giác

Không chỉ được ứng dụng vào thực tế cuộc sống hằng ngày, quy luật về tính lựa chọn của tri giác còn được ứng dụng vào hoạt động điều tra, xét xử của các cán bộ trong ngành pháp lý Ví dụ: đối với một hoạt động điều tra của một điều tra viên trong quá trình điều tra, hỏi cung sẽ xuất hiện nhiều đối tượng có liên quan đến vụ án nhưng người cán bộ điều tra phải biết lựa chọn những đối tượng có liên quan đến vụ án mà mình đang điều tra và loại bỏ những đối tượng không liên quan Hay đối với hoạt động xét xử của thẩm phán cũng vậy, khi xét xử một vụ án có rất nhiều các quy phạm pháp luật điều chỉnh vụ việc đó nhưng người thẩm phán phải biết lựa chọn quy phạm pháp luật phù hợp có liên quan trực tiếp đến vụ việc mà mình giải quyết và loại bỏ những quy phạm không liên quan Vậy tính lựa chọn giúp những người hoạt động trong lĩnh

Trang 5

vực pháp lý xác định được đối tượng liên quan đến vụ án, lựa chọn biết đối tượng nào cần lưu tâm hơn, cần tri giác hơn Nhờ vậy, hoạt động điều tra của họ được nhanh chóng và hiệu quả hơn

2 Quy luật về tính đối tượng của tri giác:

Trong đời sống thực tế rất ít khi ta có cảm giác về một thuộc tính riêng lẻ nào đó của

sự vật, hiện tượng thông thường mà não bộ phản ánh hiện tượng, sự vật với toàn bộ những thuộc tính một cách trọn vẹn đó chính là hiện tượng tri giác Vậy thì ngoài quy luật nêu trên, tri giác còn có quy luật về tính đối tượng

Nội dung của quy luật: Khi những sự vật, hiện tượng nào đó của thế giới khách quan tác động trực tiếp vào các giác quan của con người thì tính tri giác được hình thành Mỗi hành động tri giác (Ví dụ như nghe, nhìn ) có một đối tượng cụ thể (nghe âm thanh, nhìn sự vật ) tồn tại khách quan được ta phản ánh

Tính đối tượng của tri giác có vai trò quan trọng nó là cơ sở của chức năng định hướng hành vi và hành động của con người

Ở mức độ nhận thức cao hơn cảm giác, tri giác đóng vai trò quan trọng trong đời sống tâm lí con người Trên cơ sở phản ánh thế giới một cách trọn vẹn và đầy đủ hơn cảm giác mà quy luật về tính đối tượng của tri giác giúp cho con người định hướng và xác định được chính xác đối tượng mà được ta tri giác Từ đó giúp con người hiểu rõ hơn về các sự vật, hiện tượng tồn tại bên ngoài chúng ta Ví dụ: Một họa sĩ cần vẽ bức chân dung của người phụ nữ thì người họa sĩ đó phải nhìn vào các đường nét, hình ảnh trên khuôn mặt người phụ nữ như: mắt, mũi, cằm…mà anh ta muốn vẽ tức là anh ta phải xác định rõ từng đối tượng cụ thể trên khuôn mặt của người phụ nữ ấy thì lúc đó anh ta mới vẽ giống và đẹp được

Không những vậy quy luật về tính đối tượng của tri giác còn có vai trò quan trọng trong lĩnh vực pháp lý, đặc biệt là trong cơ quan tố tụng, điều tra tội phạm Nó giúp cho các điều tra viên xác định được đối tượng liên quan đến vụ án cũng như các dấu vết hoặc các chi tiết nhỏ nhất trên hiện trường mà hung thủ để lại từ đó đưa ra phán quyết đúng về vụ án Mặt khác, thông qua quy luật này các điều tra viên có thể quan

Trang 6

sát hiện trường một cách tỉ mỉ và cũng có thể hình dung ra vụ án xảy ra như thế nào hoặc có thể là nhìn nét mặt một người nào đó cũng có thể linh cảm rằng đối tượng mà mình quan sát có thể là tội phạm Và khi đó kết hợp với tư duy thì điều tra viên có thể

sẽ nhanh chóng tìm ra thủ phạm gây án

3.Quy luật về tính ý nghĩa:

Qúa trình cảm giác chỉ phản ánh những thuộc tính riêng lẽ, bề ngoài của sự vật hiện tượng nên không nhận biết được ý nghĩa của sự vật, hiện tượng Tuy nhiên ở quá trình tri giác, con người có thể nhận biết ý nghĩa của sự vật, hiện tượng, gọi tên được sự vật, hiện tượng Việc tách đối tượng ra khỏi bối cảnh sẽ giúp con người hiểu được ý nghĩa của nó đồng thời gọi được tên của nó Vậy kết quả của quá trình tri giác bao giờ cũng

có nghĩa về sự vật hiện tượng mà chúng ta tri giác Vì thế, mặc dù tri giác nảy sinh do

sự tác động trực tiếp của sự vật, hiện tượng vào các giác quan nhưng những hình ảnh tri giác luôn luôn có một ý nghĩa xác định Vậy kết quả của quá trình tri giác bao giờ cũng có nghĩa về sự vật hiện tượng mà chúng ta tri giác

Tri giác ở con người gắn chặt với tư duy, với sự hiểu biết về bản chất của sự vật Tri giác sự vật một cách có ý nghĩa- điều đó có nghĩa là gọi tên được sự vật đó, và xếp được sự vật đang tri giác vào một nhóm, một lớp các sự vật xác định, khái quát nó trong một từ xác định Ví dụ: khi tri giác một sự vật có các thuộc tính như nó hình bầu dục, có nhiều gai, ruột màu vàng có hạt và rất thơm thì có thể cho phép người ta gọi vật đó là quả mít

Ngoài ra ngay cả khi tri giác không quen thuộc, chúng ta cũng cố thu nhận trong nó một sự giống nhau nào đó với những đối tượng mà mình đã biết, xếp nó vào một phạm trù nào đó

Quy luật về tính ý nghĩa của tri giác có ứng dụng rộng rãi trong đời sống và đặc biệt, trong hoạt động pháp lí, ứng dụng của nó có vai trò rất quan trọng Trong đời sống, ứng dụng của tính ý nghĩa giúp con người hiểu sâu sắc, cụ thể, rõ ràng hơn về các sự vật, hiện tượng mà mình tri giác được bởi nó gắn chặt với tư duy, với sự hiểu biết bản chất của sự vật Ví dụ, khi chúng ta ăn món bún chả, chúng ta tri giác được mùi thơm

Trang 7

của thịt heo nướng, hòa quyện với nước chấm chua chua, ngọt ngọt, ăn kèm với rau sống Qua đó ta hiểu được một phần nguyên liệu hay cách chế biến của món ăn này, giúp quá trình thưởng thức món ăn của chúng ta đậm đà và có ý nghĩa hơn

Trong hoạt động pháp lý, tính ý nghĩa của quy luật tri giác giúp cho mình hiểu được bản chất, vai trò, ý nghĩa của sự việc mình đang điều tra, qua đó có các phương án đối phó tối ưu và hiệu quả nhất Ví dụ khi xét xử một vụ án hình sự, các cơ quan xét xử phải tìm hiểu cặn kẽ những nguyên nhân, động cơ, mục đích của tội phạm, hiểu được chi tiết của từng sự việc liên quan đến vụ án, gọi đúng tên của hành vi phạm tội đó nhờ

đó sẽ quy án cho kẻ phạm tội một cách chính xác và đúng luật nhất Không để bỏ qua một đối tượng nào hay một chi tiết nào liên quan đến vụ án Như vậy tính ý nghĩa giúp cho hoạt động pháp lý được diễn ra một cách chặt chẽ, đầy đủ và chính xác nhất

Quy luật về tính ý nghĩa của tri giác giúp cho hoạt động của con người trong đời sống cũng như của các cán bộ làm việc trong lĩnh vực pháp lí được hoàn thiện và hiểu quả cao

4 Quy luật tính ổn định của tri giác:

Sự vật xung quanh ta nằm ở nhiều vị trí khác nhau đối với chủ thể tri giác và những điều kiện xuất hiện của chúng ( độ chiếu sáng, vị trí trong không gian, khoảng cách tới tri giác) cũng rất đa dạng Vì vậy, hình ảnh của chúng luôn luôn thay đổi, xoay chuyển theo những hướng khác nhau

Tính ổn định của tri giác là khả năng con người tri giác, phản ánh sự vật hiện tượng một cách không thay đổi khi điều kiện tri giác thay đổi Tính ổn định của tri giác được hình thành trong hoạt động với đồ vật và là một điều kiện cần thiết của đời sống con người Tính ổn định của tri giác do kinh nghiệm mà có

Như chúng ta đã biết, tâm lí là sự phản ánh hiên tượng khách quan vào bộ não người Bởi vậy, đối tượng mà tâm lí con người hướng đến ở đây chính là các hiên tượng khách quan đó Đó có thể là những hiện tượng thiên nhiên đơn giản, cũng có thể

là những hiện tượng đời sống phức tạp Trong mối quan hệ giữa cặp phạm trù bản chất

và hiện tượng, chủ nghĩa duy vật biện chứng đã khẳng định, bản chất là cái ổn định còn

Trang 8

hiện tượng là cái luôn thay đổi Tính ổn định của tri giác chính là khả năng cảm nhận được bản chất của các sự vật hiện tượng đó Sự vật, hiện tượng có thể thay đổi khi những điều kiện khách quan tác động đến nó thay đổi Cùng là hình ảnh của một người, nhưng khi đứng trước một chiếc gương phẳng sẽ khác khi đứng trước một chiếc gương cầu lồi hay lõm Cùng là một viên phấn, nhưng ở trong bóng tối, nó sẽ không còn có màu trắng như bình thường ta vẫn thấy Nhưng với đặc trưng phản ánh sự vật hiện tượng một cách trọn vẹn khi chúng trực tiếp tác động vào các giác quan của ta, tri giác giúp con người nhìn nhận sự vật hiện tượng là nó chứ không phải là một sự vật hiện tượng nào khác Một người dù đứng trước muôn vàn cái gương thì người đó vẫn

là chính họ, viên phấn dù trong bóng tối hay ngoài sang, nó vẫn là viên phấn, là vật hình trụ, dài, màu trắng…

Cũng như các quy luật khác của tri giác, quy luật tính ổn định của tri giác cũng mang đến những ứng dụng quan trong trong cuộc sống cũng như trong lĩnh vực pháp

lý Nhờ có tính ổn định này, con người khi tri giác một sự vật hiện tượng luôn nhìn nhận được những thuộc tính căn bản của sự vật, hiện tượng Từ đó tạo tiền đề vững chắc cho hoạt động tư duy Nhờ tri giác luôn ổn định con người dễ dàng tạo dựng được những mối liên kết giữa các sự vật, hiện tượng này với các sự, vật, hiện tượng khác, từ

đó có những phát minh, phát hiện hết sức thú vị, đáng ngạc nhiên Niu-tơn, từ việc nhìn thấy trái táo rụng xuống mà phát hiện ra định luật vạn vật hấp dẫn Sự phát minh này của Niu-tơn chính là do sự ổn định của tri giác mang lại Một ví dụ khác như một người có chiều cao 1m60 nhưng khi người đó đứng gần người cao 1m80, ta có cảm giác rằng người đó thấp, mặt khác, khi người đó đứng gần một người có chiều cao 1m50 ta lại thấy người đó cao Tuy nhiên trong thực tế ta vẫn tri giác người đó cao 1m60

Trong hoạt động pháp lý, bằng việc tăng cường khả năng quan sát, có sự tri giác nhạy bén, những nhà hoạt động tư pháp cũng sẽ có một tư duy ngành tư pháp phong phú hơn Sự quan sát, kích thích các giác quan, hay nói cách khác là tri giác sẽ dễ dàng tạo dựng được những mối liên kết sự ràng buộc, và từ đó tìm ra vấn đề vướng mắc Ví

dụ tính ổn định của tri giác giúp cho các cơ quan điều tra định hình rõ đối tượng mà

Trang 9

mình đang nghi ngờ, tìm hiểu, tức cho dù đối tượng có thay hình đổi dạng như thế nào thì mình vẫn nhận ra đối tượng đó, nó giúp cho nhà điều tra không bị nhầm lẫn trong quá trình điều tra vụ việc, không bị những kẻ phạm tội qua mặt hay lừa bịp, để xử lí công việc một cách hiệu quả và đúng đắn nhất

5 Quy luật tính tổng giác của tri giác:

Quá trình tri giác không những chịu sự tác động từ các kích thích bên ngoài mà còn chịu tác động bởi những yếu tố bên trong của chủ thể: nhu cầu, hứng thú, sở thích, tình cảm, mục đích, động cơ…Ngoài những kích thích gây ra tri giác, nó còn quy định bởi một loạt các nhân tố nằm trong bản thân chủ thể tri giác Không phải con mắt tách rời, không phải bản thân cái tai tự nó tri giác sự vật mà là một con người cụ thể, sống động tri giác sự vật

Sự phụ thuộc của tri giác vào nội dung của đời sống tâm lí con người, vào đặc điểm nhân cách của họ, được gọi là hiện tượng tổng giác

Tri giác luôn phản ánh trọn vẹn các thuộc tính của của sự vật, hiện tượng và để thực hiện điều này, chính sự tri giác cũng cần phải có sự tổng quan Con người tri giác các

sự vật, hiện tượng không chỉ bằng các giác quan mà còn có sự tham gia của tất cả đặc điểm tâm sinh lý, nhân cách của họ Giữa ngày hè nắng nóng, với một li nước trong tay, ta không chỉ tri giác đó là cốc nước, mà với cơn khát đang hành hạ, ta cảm thấy cốc nước đó mát, sảng khoái vô cùng Một bát cơm nguội thôi, đối với những người không trực tiếp làm ra chúng, nó chỉ đơn giản là gạo, một thức ăn nuôi sống con người, ngọt, mềm và có màu trắng Nhưng đối với những người đã bỏ công trồng lúa, gom lấy từng hạt thóc mà sang sẩy thành những hạt gạo, nó còn quý trọng hơn vàng, nó là

mồ hôi, công sức của họ Chính nhờ quy luật này, các sự vật, hiện tượng khi được tri giác không những có độ rộng mà còn có độ sâu

Quy luật này ứng dụng vào thực tế cuộc sống nói chung đặc biệt là trong giáo dục con người và trong hoạt động tư pháp nói riêng Trẻ em phải được giáo dục trong môi trường tốt, được xây dựng một nhân cách tốt, phát triển lành mạnh Chỉ khi đó, đứng

Trang 10

trước những mặt trái của xã hội, trước những tệ nạn như nghiện hút, tiêm chích hay trộm cắp cướp giật, chúng mới có thể nhận thức đó là những cái xấu và dừng lại đúng lúc Một đứa trẻ bình thường, nó có mắt để biết được trước mắt cậu là những bọn lưu manh, côn đồ Nó có tai để nghe thấy những lời khó chịu Nhưng chỉ với một nền tảng nhân cách tốt, lối sống lành mạnh, nó mới có thể tránh những cạm bẫy xấu xa của xã hội Trong hoạt động pháp lý, tính tổng quan của tri giác mang lại những hiệu quả cao hơn trong công việc Điều này đòi hỏi ở những người hoạt động pháp lý một kĩ năng, kiến thức hoàn thiện về pháp luật, một kinh nghiệm phong phú và hơn thế là độ nhạy cảm trong công việc Có như vậy, khi đối mặt với tên tội phạm, anh ta mới biết được hắn có phạm tội hay không, khi đứng trước những chứng cứ phạm tội, anh ta mới cảm nhận được đâu là những chứng cứ liên quan đến vụ án, đâu là những chứng cư vô can

Kết bài

Như vậy tri giác có ý nghĩa trọn vẹn trong cách nhận thức, đánh giá, nhìn nhận tổng quan về sự vật, hiện tượng được phản ánh Qua phân tích các quy luật của tri giác, phân tích nó và hiểu rõ hơn qua các vị dụ ứng dụng trong thưc tế và trong lĩnh vực pháp lý,ta thấy tri giác có ý nghĩa quan trọng trong đời sống của con người nói chung

và trong nghiệp vụ của các nhà làm luật nói riêng, nó giúp con người nhạy cảm hơn, nhanh nhạy hơn, nâng cao khả năng tư duy, cải tạo… giúp chúng ta hoàn thành công việc một cách hiệu quả và hợp lý nhất

Ngày đăng: 21/03/2019, 14:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w