LỜI MỞ ĐẦUTrong luật Hình sự Việt Nam, tội cướp giật tài sản là một trong các tội xâm phạm sở hữu chiếm đoạt được quy định trong luật Hình sự từ khá sớm.. Khoản 3 Điều 8 Bộ luật hình sự
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong luật Hình sự Việt Nam, tội cướp giật tài sản là một trong các tội xâm phạm sở hữu chiếm đoạt được quy định trong luật Hình sự từ khá sớm Hiện nay, tội cướp giật tài sản ngày càng có chiều hướng gia tăng và phức tạp hơn Vì vậy cần phải có những phân tích đúng đắn về loại tội phạm này và phân loại tội phạm một cách chính xác trong từng trường hợp cụ thể để đảm bảo sự công bằng và nghiêm minh Trong bài tập cuối kì, em xin chọn đề bài số 4 để phân tích rõ hơn về tội cướp giật tài sản như đã nói ở trên Tình huống như sau:
“K có hành vi cướp giật tài sản của người khác có giá trị 50 triệu đồng Hành vi phạm tội của K được quy định tại khoản 2 Điều 136 BLHS K bị Tòa án
xử phạt 3 năm tù Hỏi:
1 Trường hợp phạm tội của K là loại tội gì theo sự phân loại tội phạm (khoản 3
Điều 8 BLHS).
2 Hành vi phạm tội của K thuộc trường hợp CTTP cơ bản, CTTP tăng nặng hay
CTTP giảm nhẹ? Tại sao?
3 Nếu K mới 15 tuổi 6 tháng thì K có phải chịu TNHS về hành vi của mình không?
Tại sao?
4 Nếu K đang bị mắc bệnh tâm thần thì K có phải chịu TNHS về hành vi của mình
không? Tại sao?
5 Có thể cho K hưởng án treo không? Tại sao?”
Do điều kiện về thời gian cũng như sự hiểu biết của em còn hạn chế nên trong quá trình làm bài sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô để bài làm của em được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 2
NỘI DUNG
1 Trường hợp phạm tội của K là loại tội gì theo sự phân loại tội phạm (khoản 3 Điều 8 BLHS).
Khoản 3 Điều 8 Bộ luật hình sự quy định:
“Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội
ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.”
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu phạt Các nhóm tội phạm được phân biệt với nhau bởi cả dấu hiệu về mặt nội dung chính trị, xã hội (tính nguy hiểm cho xã hội) và cả dấu hiệu về mặt hậu quả pháp lí (tính phải chịu phạt)
Xét về mặt nội dung chính trị, xã hội là xét về tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm Nguy hiểm cho xã hội nghĩa là gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ.Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm có tính khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của nhà làm luật Như tình huống nêu trên “K có hành vi cướp giật tài sản của người khác có giá trị 50 triệu đồng” Hành vi của K cấu thành tội cướp giật tài sản theo Khoản 2 Điều 136 BLHS
Hành vi của K đã gây nguy hại lớn cho xã hội, có tính chất chiếm đoạt, xâm phạm đến quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ, mà cụ thể là xâm hại đến quan
hệ tài sản
Trang 3Xét về mặt hậu quả pháp lí:
Ở Khoản 2 Điều 136 BLHS, mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội cướp
giật tài sản là đến mười năm tù Đối chiếu với Khoản 3 Điều 8 BLHS: “…tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù…” thì tội cướp
giật tài sản là tội phạm rất nghiêm trọng
Tóm lại, trường hợp phạm tội của K trong tình huống nêu trên là loại tội phạm rất nghiêm trọng
2 Hành vi phạm tội của K thuộc trường hợp CTTP cơ bản, CTTP tăng nặng hay CTTP giảm nhẹ? Tại sao?
Dựa vào mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, CTTP đc chia thành cơ bản, tăng nặng và giảm nhẹ
CTTP cơ bản là CTTP chỉ có dấu hiệu định tội – dấu hiệu mô tả tội phạm và cho phép phân biệt tội này với tội khác
CTTP tăng nặng là CTTP mà ngoài dấu hiệu định tội còn có them dấu hiệu phản ánh tội phạm có mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội tăng lên một cách đáng kể (so với trường hợp bình thường)
CTTP giảm nhẹ là CTTP mà ngoài dấu hiệu định tội còn có thêm dấu hiệu phản ánh tội phạm có mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội giảm xuống một cách đáng
kể (so với trường hợp bình thường)
Ở trong tình huống nêu trên, ta thấy ngoài các dấu hiệu định tội được nêu ở Khoản 1 Điều 136, hành vi của K còn thỏa mãn thêm dấu hiệu định khung tăng
nặng ở Khoản 2 Điều 136 “…g) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;…” làm cho mức độ của tính nguy hiểm cho
XH của hành vi tăng lên đáng kể Theo đó hình phạt tương ứng có xu hướng tăng
Trang 4dần Từ đó đưa ra kết luận, hành vi phạm tội của K trong tình huống nêu trên thuộc
cấu thành tội phạm tăng nặng
3 Nếu K mới 15 tuổi 6 tháng thì K có phải chịu TNHS về hành vi của mình không? Tại sao?
Chủ thể của tội phạm theo luật hình sự Việt Nam hiện hành chỉ có thể là con người cụ thể Nhưng không phải ai cũng có thể trở thành chủ thể của tội phạm khi thực hiện hành vi được quy định trong luật hình sự Để trở thành chủ thể của tội phạm phải thỏa mãn hai điều kiện: có năng lực TNHS và đạt độ tuổi luật định Năng lực TNHS là năng lực của tự ý thức được hình thành trong quá trình phát triển của cá thể về mặt tự nhiên và xã hội Như vậy, năng lực TNHS chỉ được hình thành khi con người đã đạt độ tuổi nhất định và năng lực đó sẽ tiếp tục phát triển hoàn thiện trong thời gian nhất định tiếp theo Khi đạt độ tuổi đó, con người nói chung sẽ có năng lực TNHS, trừ những trường hợp mà luật hình sự coi là trong tình trạng không có năng lực TNHS (Điều 13 BLHS)
Người chưa đạt độ tuổi bắt đầu có năng lực TNHS sẽ luôn được coi là không có lỗi (vì chưa có năng lực TNHS) Trong độ tuổi từ bắt đầu có năng lực TNHS đến
độ tuổi có năng lực TNHS đầy đủ, năng lực TNHS còn hạn chế, do vậy người trong độ tuổi này chỉ bị coi là có năng lực TNHS trong những trường hợp nhất định
Như đề bài, K đã có hành vi cướp giật tài sản của người khác nên K phải chịu TNHS là điều tất yếu Tuy nhiên giả sử K mới 15 tuổi 6 tháng thì ta còn phải căn
cứ vào loại tội phạm mà K đã thực hiện và vào điều 12 BLHS quy định về tuổi chịu TNHS để xác định xem K có phải chịu TNHS hay không Điều 12 BLHS quy
định: “1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm 2 Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiệm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm
Trang 5trọng” Ta thấy rằng, nếu K mới 15 tuổi 6 tháng thì chỉ chịu TNHS đối với tội rất
nghiêm trọng với lỗi cố ý hoặc đặc biệt nghiêm trọng
Trong trường hợp phạm tội trên, tài sản bị cướp giật có giá trị là 50 triệu đồng,
vi phạm Khoản 2 Điều 136 BLHS, mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội này là mười năm tù, và căn cứ theo Khoản 3 Điều 8 BLHS ta kết luận hành vi cướp giật tài sản của K là loại tội phạm rất nghiêm trọng Bên cạnh đó K nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn nó xảy ra Do vậy lỗi của K là lỗi cố ý khi thực hiện hành vi
Xét tất cả những phân tích đó, có thể kết luận K phải chịu TNHS về hành vi của mình
4 Nếu K đang bị mắc bệnh tâm thần thì K có phải chịu TNHS về hành vi của mình không? Tại sao?
Điều 13 BLHS quy định: người ở trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự là người đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất năng lực nhận thức hoặc năng lực điều khiển hành vi của mình
Như vậy: người không có năng lực chịu trách nhiệm hình sự là người phải thỏa mãn cả 2 dấu hiệu:
- Dấu hiệu sinh học: là người mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm rối loạn hoạt động tâm thần
- Dấu hiệu tâm lý: mất năng lực hiểu biết những đòi hỏi của xã hội liên quan đến hành vi nguy hiểm cho xã hội đã đươc thực hiện, là người không có năng lực đánh giá hành vi đã thực hiện là đúng hay sai, nên làm hay không nên làm Và như vậy họ cũng không có năng lực kiềm chế việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội để thực hiện xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội
Trong đó dấu hiệu sinh học đóng vai trò là nguyên nhân, dấu hiệu tâm lý là kết quả Tuy nhiên không hẳn cứ mắc bệnh tâm thần là mất năng lực nhận thức và
Trang 6năng lực điều khiển hành vi mà còn phụ thuộc vào loại bệnh, mức độ bệnh và tính chất của hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện vì có những loại bệnh không hoàn toàn làm mất năng lực này và người đó vẫn phải TNHS trong trường hợp đó
Vì vậy, đối với tình huống nêu trên ta có 2 trường hợp:
- Trường hợp 1: Nếu loại bệnh tâm thần K mắc không làm mất năng lực nhận thức và năng lực điều khiển hành vi của K thì K vẫn phải chịu TNHS
- Trường hợp 2: nếu loại bệnh tâm thần K mắc làm mất năng lực nhận thức và năng lực điều khiển hành vi của K thì K không phải chịu TNHS
5 Có thể cho K hưởng án treo không? Tại sao?
Án treo là một chế định pháp lý hình sự ra đời rất sớm, xuất hiện cùng với sự ra đời và phát triển của luật hình sự Việt Nam
Theo BLHS hiện nay, án treo được hiểu là biện pháp miễn chấp hành hình phạt
tù có điều kiện Tại Điều 60 BLHS đã quy định án treo như sau: “ Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì tòa án cho hưởng án treo
và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm”.
Trong trường hợp này có thể cho K hưởng án treo vì K thỏa mãn điều kiện
về hình phạt - K bị tòa án tuyên phạt là 3 năm tù Pháp luật có quy định những người bị phạt tù không quá 3 năm có thể được xét có cho hưởng án treo Pháp luật không quy định về loại tội phạm, phạm một tội hay nhiều tội, cho nên người bị kết
án đến ba năm tù về bất cứ tội gì đều có thể xem xét cho hưởng án treo, nếu có đủ các căn cứ khác
Tuy nhiên để có thể được hưởng án treo thì ở K phải thỏa mãn các điều kiện về nhân thân và có quy định về các tình tiết giàm nhẹ
- Nếu K được hưởng án treo thì K phải là người có nhân thân tốt Nhân thân tương đối tốt thể hiện là ngoài hành vi phạm tội bị kết án thì K phải là công dân,
Trang 7chấp hành đúng chính sách pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình đối với
xã hội hoặc người bị hại, thành khẩn ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình,
có hứa cải tạo không dùng biện pháp cưỡng chế của trại giam
- Về các tình tiết giảm nhẹ: K phải có các tình tiết giảm nhẹ đối với hành vi phạm tội của mình Tuy nhiên phải có 2 tình tiết trở lên trong đó nhất thiết phải có một tình tiết được ghi nhận tại khoản 1 điều 46 BLHS Trường hợp vừa có tình tiết giảm nhẹ, vừa có tình tiết tăng nặng, thì tình tiết giảm nhẹ phải nhiều hơn tình tiết tăng nặng từ hai tình tiết trở lên
Nếu K bị tòa tuyên án 3 năm, có nhân thân tốt và có các tình tiết giảm nhẹ thì K
có thể sẽ được hưởng án treo theo sự quy đinh của pháp luật
Qua việc phân tích tình huống trên như giúp ta hiểu thêm được nhiều điều tội phạm đặc biệt là tội phạm về cướp giật tài sản Đối với loại tội này xâm hại cùng lúc cả hai khách thể là quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân, trong đó chủ yếu là quan hệ tài sản Tội phạm này lợi dụng sơ hở của của người quản lý tài sản để nhanh chóng giật lấy tài sản mà người quản lý khó có thể giữ được Loại tội phạm này thể hiện tính chất công khai trắng trợn của hình vi cướp giật tài sản ở chỗ người phạm tội không dấu giếm hành vi phạm tội của mình và người bị hại sẽ biết ngay người giật tài sản của mình
Trang 8KẾT LUẬN
Pháp luật hình sự là một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu để đấu tranh phòng – chống tội phạm Tội cướp giật tài sản là một trong những loại tội phạm được pháp luật Hình sự quan tâm Ngày nay, cùng với quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, xã hội ngày càng trở nên phức tạp, chính vì vậy những hành vi cướp giật tài sản nói riêng và các hành vi phạm tội khác nói chung cũng ngày càng lộ liễu và táo bạo hơn
Tội phạm cướp giật tài sản là loại tội phạm nguy hiểm cho xã hội Do đó: người dân cần phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền để sớm phát giác, bắt và xử
lí tội phạm; các cơ quan chức năng cần vào cuộc nhiều hơn nữa để góp phần giảm thiểu loại tội phạm này Cần xác định đúng người, đúng tội với những mức án phù hợp để răn đe, giáo dục lại họ hay có những hình phạt thích đáng dành cho người phạm trọng tội, người có suy nghĩ sai lệch khó cả tạo Bên cạnh đó, cần có những biện pháp giáo dục đúng cho thanh thiếu niên để họ có lối sống đúng đắn, không tham gia vào hành vi cướp giật tài sản nói riêng và các hành vi phạm pháp khác nói chung, để từ đó xây dựng một cộng đồng – một xã hội tốt đẹp hơn
Trang 9TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Giáo trình luật hình sự Việt Nam.
2 Bộ luật hình sự ( Nhà xuất bản lao động – xã hội)
3 Bình luận khoa học bộ luật hình sự Phần các tội phạm (tập 2) ( ĐINH
VĂN QUẾ - THẠC SĨ LUẬT HỌC ).
Trang 10MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU……… NỘI DUNG ………
1 Trường hợp phạm tội của K là loại tội gì theo
sự phân loại tội phạm ( khoản 3 Điều 8 BLHS )………
2 Hành vi phạm tội của K thuộc trường hợp CTTP
cơ bản, CTTP tăng nặng hay CTTP giảm nhẹ? Tại sao?
3 Nếu K mới 15 tuổi 6 tháng thì K có phải chịu
trách nhiệm hình sự về hành vi của mình không? Tại sao?
4 Nếu K đang mắc bệnh tâm thần thì K có phải chịu trách
nhiệm hình sự về hành vi của mình không? Tại sao?
5 Có thể cho K hưởng án treo không tại sao? KẾT LUẬN ………