Giải quyết xung đột pháp luật về nội dung hợp đồng quốc tế theo quy định của pháp luật Việt Nam Luật pháp của các nước khác nhau có các quy định khác nhau về tính hợp pháp của một hợp đồ
Trang 18 Giải quyết xung đột pháp luật về nội dung hợp đồng quốc tế theo quy định của pháp luật Việt Nam
Luật pháp của các nước khác nhau có các quy định khác nhau về tính hợp pháp của một hợp đồng Do vậy, một vấn đề được đặt ra là khi có xung đột pháp luật thì
hệ thống pháp luật liên quan nào được áp dụng để xác định tính hợp pháp của hợp đồng? Để giải quyết vấn đề này, trong tư pháp quốc tế, các nước quy định những nguyên tắc pháp lý nhất định trong luật pháp của quốc gia mình hoặc ký kết các điều ước quốc tế để đưa ra những nguyên tắc chủ đạo nhằm giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng Vậy theo quy định của pháp luật Việt Nam, xung đột pháp luật về nội dung hợp đồng quốc tế được giải quyết như thế nào? Ta sẽ cùng làm rõ sau đây
1 Khái niệm hợp đồng trong tư pháp quốc tế
Theo Điều 388 Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS 2005) thì hợp đồng dân sự là
sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa
vụ dân sự.
Hợp đồng trong tư pháp quốc tế là hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài Yếu
tố nước ngoài của một hợp đồng trong tư pháp quốc tế được thể hiện ở các dấu hiệu:
- Các bên chủ thể ký kết có quốc tịch khác nhau Chính sự khác nhau về quốc tịch này đã dẫn đến xung đột pháp luật Vì trong trường hợp này, cả hai hệ thống pháp luật của hai bên đều điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các bên phát sinh từ hợp đồng
- Hợp đồng ký kết ở nước ngoài (nước các bên chủ thể không mang quốc tịch hoặc không có trụ sở) Trong trường hợp này, luật điều chỉnh hợp đồng không chỉ
là luật của các bên chủ thể mang quốc tịch mà luật nơi ký kết hợp đồng cũng có thể điều chỉnh các vấn đề liên quan đến hợp đồng
Trang 2- Đối tượng của hợp đồng là tài sản ở nước ngoài Trong trường hợp này, quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể trong hợp đồng cùng một lúc chịu sự điều chỉnh bởi luật pháp nước họ mang quốc tịch và luật của nơi có tài sản (đặc biệt trong các trường hợp tài sản là bất động sản)
Như vậy, hợp đồng trong tư pháp quốc tế cũng giống như hợp đồng dân sự thông thường Luật pháp của hầu hết các nước đều xem xét tính hợp pháp của hợp đồng dưới 3 cơ sở pháp lý là: hình thức hợp đồng, nội dung hợp đồng và điều kiện
có hiệu lực của hợp đồng Trong khuôn khổ bài làm này chỉ xem xét đến xung đột pháp luật về nội dung của hợp đồng
2 Giải quyết xung đột pháp luật về nội dung hợp đồng quốc tế theo quy định của pháp luật Việt Nam
Để xác định tính hợp pháp về nội dung của một hợp đồng, nhìn chung, gần như mọi quốc gia đều áp dụng nguyên tắc thỏa thuận Bởi về mặt bản chất, hợp đồng là
sự thỏa thuận của các bên nhằm xác định quyền và nghĩa vụ của họ trong một giao dịch dân sự Theo nguyên tắc này, các bên có thể thỏa thuận luật áp dụng đối với quyền và nghĩa vụ của mình phát sinh từ hợp đồng Trên thực tế các bên thường thỏa thuận áp dụng các hệ thống pháp luật có liên quan đến hợp đồng
Để xác định tính hợp pháp về nội dung hợp đồng có yếu tố nước ngoài, bên cạnh việc áp dụng nguyên tắc thỏa thuận, người ta còn áp dụng luật nơi kí kết hợp đồng Theo đó những điều các bên thỏa thuận trong hợp đồng không được trái với luật nơi ký kết hợp đồng
Nội dung hợp đồng dân sự theo pháp luật Việt Nam được quy định tại Điều 402 BLDS 2005 Theo pháp luật Việt Nam, việc áp dụng pháp luật về nội dung hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài được quy định tại Điều 769 BLDS 2005, theo đó:
Quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng, nếu không có thoả thuận khác.
Trang 3Hợp đồng được giao kết tại Việt Nam và thực hiện hoàn toàn tại Việt Nam thì phải tuân theo pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Trong trường hợp hợp đồng không ghi nơi thực hiện thì việc xác định nơi thực hiện hợp đồng phải tuân theo pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Hợp đồng liên quan đến bất động sản ở Việt Nam phải tuân theo pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Như vậy, ở Việt Nam, việc giải quyết xung đột pháp luật về nội dung hợp đồng
sẽ áp dụng nguyên tắc thỏa thuận hoặc áp dụng luật nơi ký kết hợp đồng hoặc luật nơi thực hiện hợp đồng (tùy từng trường hợp cụ thể) Khi giải quyết xung đột pháp luật về nội dung hợp đồng quốc tế, bên cạnh việc xem xét các quy định trong văn bản pháp luật trong nước còn cần phải xem xét đến các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia Trong nhiều lĩnh vực, pháp luật Việt Nam cũng quy định rõ việc giải quyết xung đột pháp luật cần phải xem xét các trường hợp tham gia điều ước quốc tế (như tại Điều 5 Luật Đầu tư, Điều 5 Luật Thương mại )
Ví dụ: Trong các điều ước quốc tế tay đôi mà Việt Nam ký kết với các nước có liên quan đến vấn đề xác định tính hợp pháp của hợp đồng thì luật nơi ký kết hợp đồng hoặc luật nơi có vật sẽ được áp dụng (Điều 32 Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và Cuba)
* * * Trên đây là một số vấn đề cơ bản lên quan đến xung đột pháp luật về nội dung hợp đồng quốc tế Trên cơ sở tìm hiểu vấn đề này, ta có thể có được những hiểu biết để từ đó nghiên cứu kĩ hơn về từng loại hợp đồng cũng như những vấn đề liên quan khác Tuy nhiên, bài làm vẫn còn rất nhiều thiếu sót, rất mong nhận được sự ủng hộ của các thầy cô