Và không phải lúc nào các chủ thể đó cũng có thể tự mình tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự, lúc đó cần phải có một người thay mặt chủ thể thực hiện các giao dịch dân sự đó, vì thế ph
Trang 1MỤC LỤC
A. LỜI MỞ ĐẦU……… 2
B. NỘI DUNG……… 2
I. Lý luận chung……… 2
1. Khái niêm đại diện………. 2
2. Đặc điểm của quan hệ đại diện……… 3
3 Ý nghĩa của việc quy định đại diện trong quan hệ pháp luật dân sự……. 5
II Các hình thức đại diện……… 5
1. Đại diện theo pháp luật……… 5
1.1 Khái niệm đại diện theo pháp luật……… 6
1.2 Chủ thể trong quan hệ đại diện theo pháp luật……… 6
1.3 Các trường hợp đại diện theo pháp luật……… 7
2 Đại diện theo ủy quyền……… 10
2.1 Khái niệm đại diện theo ủy quyền………. 10
2.2 Phân loại đại diện theo ủy quyền………. 11
2.3 Hình thức ủy quyền……… 11
2.4 Các trường hợp đại diện theo ủy quyền……… 12
III Một số điều luật liên quan đến đại diện……… 13
1. Phạm vi đại diện……… 13
2. Hậu quả của giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện……… 13
3. Hậu quả của giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện……… 14
4. Chấm dứt đại diện……… 15
C. KẾT LUẬN……… 16
D. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 17
Trang 2A. LỜI MỞ ĐẦU
Chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự rất đa dạng ngoài cá nhân còn có pháp nhân,
hộ gia đình, tổ hợp tác và Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Và không phải lúc nào các chủ thể đó cũng có thể tự mình tham gia vào quan hệ pháp luật dân
sự, lúc đó cần phải có một người thay mặt chủ thể thực hiện các giao dịch dân sự đó,
vì thế pháp luật dân sự đã đặt ra chế định đại diện Như vậy đại diện là một công cụ pháp lí hữu hiệu để các chủ thể thực hiện được tất cả các quyền và nghĩa vụ dân sự của mình một cách linh hoạt và hiệu quả nhất Bộ luật dân sự Việt Nam đã dành một chương để quy định về đại diện trong quan hệ pháp luật dân sự Đây là một chế định truyền thống Của Luật Dân sự, thể hiện sự linh hoạt, mềm dẻo trong cách thức tham gia Quan hệ pháp luật dân sự của các chủ thế Trong phạm vi bài nghiên cứu, em xin trình bày một số vấn đề lý luận cũng như thực tiễn liên quan đến vấn đề đại diện, các loại đại diên trong quan hệ pháp luật dân sự Do hiểu biết còn hạn chế nên không tránh khỏi thiếu sót nên em mong thầy cô giúp đỡ để em có thể hoàn thiện vốn kiến thức của mình
B NỘI DUNG
I. LÝ LUẬN CHUNG.
1. Khái niệm đại diện
Theo quy định tại khoản 1 Điều 139 BLDS 2005 thì: “Đại diện là việc một người (sau đây gọi là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của người khác (sau đây gọi
là người được đại diện) xác lập thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi thẩm quyền đại diện” Như vậy, có thể thấy rằng đại diện là một quan hệ pháp luật dân sự bao
gồm hai bên chủ thể là người đại diện và người được đại diện Quan hệ đại diện còn
là căn cứ làm phát sinh thêm quan hệ giữa người đại diện với người thứ ba theo ý chí của người được đại diện và vì lợi ích của người được đại diện Người được đại diện là người tiếp nhận các hậu quả pháp lý từ quan hệ do người đại diện xác lập, thực hiện
Trang 3dịch dân sự một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua người khác Tuy nhiên với những giao dịch mà pháp luật quy định cá nhân phải tự mình xác lập, thực hiện thì không được phép đại diện như không được ủy quyền cho người khác thực hiện các công việc liên quan đến yếu tố nhân thân
2. Đăc điểm của quan hệ đại diện
* Quan hệ đại diện là một loại quan hệ pháp luật (QHPL) do vậy quan hệ đại diện cũng mang đầy đủ các đặc điểm chung của QHPL.
- Quan hệ đại diện là loại quan hệ xã hội có ý chí, tức là xuất hiện do ý chí của con
người Quan hệ đại diện không ngẫu nhiên hình thành mà phải qua hành vi có ý chí của một hoặc cả hai bên chủ thể Có những quan hệ đại diện mà sự hình thành đòi hỏi cả hai bên thể hiện ý chí (hợp đồng ủy quyền), có những quan hệ đại diện hình thành trên cơ sở ý chí của nhà nước (đại diện theo pháp luật)
- Quan hệ đại diện xuất phát trên cơ sở các quy phạm pháp luật Trong BLDS
năm 2005 thì các chế định về đại diện được quy định tại chương VII, từ Điều 139 đến Điều 148
- Nội dung của quan hệ đại diện được cấu thành bởi các quyền và nghĩa vụ pháp
lý mà việc thực hiện được đảm bảo bằng sự cưỡng chế nhà nước Trong quan hệ
đại diện khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ các QHPLDS, các bên không được áp đặt ý chí của mình để buộc bên kia thực hiện nghĩa vụ mà tạo cho họ điều kiện lựa chọn cách thức thực hiện các quyền và nghĩa vụ sao cho có lợi nhất cho các bên và này luôn phải đảm bảo nguyên tắc là không được trái với pháp luật
* Ngoài các đặc điểm của QHPLDS nói chung, quan hệ đại diện còn có các đặc điểm riêng sau đây:
Trang 4- Đại diện có 2 quan hệ pháp luật khác nhau là quan hệ bên trong và quan
hệ bên ngoài
+ Quan hệ bên trong là quan hệ hình thành giữa người đại diện và người được
đại diện, quan hệ này có thể được hình thành từ hợp đồng hay theo quy định của pháp luật
Ví dụ: Theo quy định tại Điều 21 BLDS thì mọi GDDS của người chưa đủ 6 tuổi phải
do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện Như vậy quan hệ giũa người đại diện và người được đại diện được xác lập theo pháp luật chứ không phải hợp đồng
+ Quan hệ bên ngoài là quan hệ hình thành giữa người đại diện và người thứ ba.
Quan hệ bên trong là tiền đề, cơ sở cho sự xuất hiện và tồn tại của quan hệ bên ngoài Quan hệ bên ngoài thực hiện vì quan hệ bên trong, vì vậy các quyền và nghĩa vụ do người đại diện thực hiện trong phạm vi thẩm quyền đại diện với người thứ ba đều thuộc về người đại diện Người đại diện có thể được hưởng những lợi ích nhất định từ người được đại diện do thực hiện hành vi với người thứ ba, chứ không được hưởng bất kỳ lợi ích gì với người thứ ba
- Người đại diện xác lập quan hệ đại diện với người thứ ba là nhân danh người được đại diện chứ không phải nhân danh chính họ Do vậy người được đại diện phải giới thiệu tư cách pháp lí của mình với người thứ ba để người này hiểu được hai vấn đề cần thiết trước khi lập giao dịch
- Mục đích của người đại diện xác lập quan hệ với người thứ 3 là vì lợi ích của người được đại diện, hay nói cách khác quyền và lợi ích trong quan hệ với người thứ ba được chuyển cho người đại diện Trong quan hệ đại diện theo ủy quyền, họ
có thể được hưởng tiền thù lao nếu có thỏa thuận; còn trong các quan hệ đại diện theo pháp luật thì chỉ có nghĩa vụ theo pháp luật chứ người đại diện sẽ không có được lợi ích vật chất cụ thể từ quan hệ đại diện này
Trang 5- Người đại diện tuy nhân danh người được đại diện và thẩm quyền của họ bị giới hạn trong phạm vi đại diện theo thỏa thuận hay theo quy đinh của pháp luật nhưng họ vẫn
có sự chủ động khi tiến hành các công việc cần thiết để dạt mục đích và vì lợi ích của người được đại diện
3 Ý nghĩa của việc quy định đại diện trong quan hệ pháp luật dân sự
Đại diện là một công cụ pháp lý hữu hiệu để các chủ thể thực hiện được tất cả các quyền và nghĩa vụ dân sự của mình một cách linh hoạt và hiệu quả nhất Bởi không phải lúc nào chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự cũng có thể tự mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định Có thể do nguyên nhân khách quan như chưa đủ độ tuổi luật định, hay bị mắc bện tâm thần làm mất năng lực hành vi dân sự hay bị hạn chế năng lực hành vi dấn sự Khi đó hình thức đại diện theo pháp luật
sẽ là một giải pháp giúphọvẫn được hưởng các quyền và lợi ích từ các giao dịch thông qua người đại diện của họ Ngoài ra, một số người có đủ năng lực hành vi dân
sự để tham gia vào các giao dịch nhưng họ lại muốn người khác thay họ thực hiện vì lý do thời gian, sức khỏe hay kinh nghiệm hiểu biết trong lĩnh vực giao dịch đó thông qua việc ký kết hợp đồng ủy quyền Còn đối với các chủ thể pháp lý (pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác) mà quyền lợi mang tính cộng đồng thì việc tham gia giao dịch dân sự bắt buộc phải thông qua hành vi của con người Do đó chế định đại diện sẽ tạo điều kiện và đem lại lợi ích tốt nhất cho các chủ thể khác ngoài cá nhân
Như vậy, chế định đại diện không chỉ thỏa mãn quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự mà còn là công cụ pháp lý hữu hiệu để Nhà nước kiểm soát quan hệ đại diện theo một trật tự chung
II. CÁC HÌNH THỨC ĐẠI DIỆN.
Có hai hình thức đại diện trong pháp luật dân sự là đại diện theo pháp luật và
Trang 6đại diện theo ủy quyền Mỗi hình thức đại diện có những yếu tố và đặc điểm riêng, cụ
thể như sau:
1. Đại diện theo pháp luật
1.1 Khái niệm đại diện theo pháp luật
Theo quy định tại Điều 140 BLDS 2005 thì “ Đại diện theo pháp luật là đại diện do pháp luật qui định hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định”
Căn cứ để hình thành quan hệ đại diện này là do ý chí của nhà nước, pháp luật quy
định mối quan hệ đại diện dựa trên các mối quan hệ tồn tại sẵn có chứ
không phụ thuộc vào ý chí hay sự định đoạt của các chủ thể Như vậy , đại diện được quy định theo pháp luật chung là đại diện mặc nhiên, ổn định về người đại diện Các chủ thể trong quan hệ đại diện có thể là cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác hoặc pháp nhân
1.2 Chủ thể trong quan hệ đạ di n i ệ theo pháp lu t ậ
Điều kiện của chủ thể trong quan hệ đại diện theo pháp luật
- Người được đại diện:
+ Nếu người được đại diện là cá nhân, thì phải là người không có khả năng trực tiếp tham gia vào bất cứ giao dịch dân sự nào nên pháp luật qui định phải có những chủ thể có nghĩa vụ bảo vệ quyền lợi cho họ trong việc xác lập thực hiện các giao dịch dân sự Đó là người không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, người mắc các bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình, người bị tòa án ra quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự
Trang 7+ Nếu người được đại diện là pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình khi tham gia vào các giao dịch dân sự bắt buộc phải thông qua người đại diện
- Người đại diện: phải là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Người đại diện
theo pháp luật là người có mối quan hệ đặc biệt với người được đại diện: quan hệ huyết thống (ví dụ: cha, mẹ với con cái … ), quan hệ pháp lý ( ví dụ: quan hệ giám hộ
… )
1.3 Các trường hợp đại diện theo pháp luật
Điều 141 BLDS 2005 qui định “người đại diện theo pháp luật” trong một số trường
hợp như sau:
1 Đối với con chưa thành niên (dưới 18 tuổi) - Cha, mẹ là người đại diện theo pháp luật
2.Đối với người được giám hộ - Người giám hộ là người đại diện theo pháp luật
3 Đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự - Người được Toà án chỉ định là người đại diện theo pháp luật
4 Đối với pháp nhân- Người đứng đầu pháp nhân theo qui định của điều lệ pháp nhân hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền là người đại diện theo pháp luật
5 Đối với hộ gia đình - Chủ hộ là người đại diện theo pháp luật
6 Đối với tổ hợp tác - Tổ trưởng tổ hợp tác là người đại diện theo pháp luật
7 Những người khác theo qui định của pháp luật
* Sau đây em xin đi sâu vào từng trường hợp:
- Trường hợp thứ nhất đó là cha mẹ đối với con chưa thành niên
Trang 8Điều 39 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 quy định: “Cha mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân
sự, trừ trường hợp con có người khác làm giám hộ hoặc có người khác đại diện theo pháp luật” Có thể thấy người chưa thành niên là người chưa có đủ khả năng nhân
thức và điều khiển hành vi của mình nên họ không thể tham gia các giao dịch dân sự một cách độc lập, trừ những giao dịch nhỏ đảm bảo cho sinh hoạt hàng ngày Trong những giao dịch quan trọng mà người chưa thành niên tham gia thì cha, mẹ của
họ sẽ là người nhân danh, và vì lợi ích của họ xác lập và thực hiện các giao dịch đó với điều kiện cha, mẹ là người có đủ năng lực hành vi dân sự
- Trường hợp thứ hai đó là người giám hộ đối với người được giám hộ
Điều 58 BLDS năm 2005 quy định:
1 Giám hộ là việc cá nhân, tổ chức (sau đây gọi chung là người giám hộ) được pháp luật quy định hoặc được cử để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự (sau đây gọi chung là người được giám hộ).
2 Người được giám hộ bao gồm:
a) Người chưa thành niên không còn cha, mẹ, không xác định được cha, mẹ hoặc cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị Toà
án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên đó và nếu cha, mẹ có yêu cầu;
b) Người mất năng lực hành vi dân sự.
3 Người chưa đủ mười lăm tuổi được quy định tại điểm a khoản 2 Điều này và người được quy định tại điểm b khoản 2 Điều này phải có người giám hộ.
Trang 94 Một người có thể giám hộ cho nhiều người, nhưng một người chỉ có thể được một người giám hộ, trừ trường hợp người giám hộ là cha, mẹ hoặc ông, bà theo quy định tại khoản 2 Điều 61 hoặc khoản 3 Điều 62 của Bộ luật này.
- Trường hợp thứ ba là người được Tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng
lực hành vi dân sự (NLHVDS)
NLHVDS của người đã thành niên có thể bị hạn chế trên cơ sở những điều kiện và
thủ tục được quy định tại Điều 23 BLDS Việc hạn chế NLHVDS phải thông qua Tòa
án theo trình tự tố tụng dân sự và được áp dụng với những người nghiện ma túy và các chất kích thích dẫn tới hậu quả phá tán tài sản Như vậy có thể thấy người bị hạn chế NLHVDS không có đầy đủ khả năng nhân thức và làm chủ hành vi của mình Do
là đối tượng cần được pháp luật bảo vệ bởi bản thân họ không thể trực tiếp tham gia vào bất kỳ giao dịch nào nên pháp luật phải quy định sẵn những chủ thể có nghĩa vụ bảo vệ quyền lợi cho họ trong việc xác lập và thực hiện các giao dich dân sự nên bắt buộc phải thông qua người đại diện cụ thể
Khoản 2 Điều 23 BLDS năm 2005 quy định: “Người đại diện theo pháp luật của
người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại diện do Toà án quyết định Giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày”.
- Trường hợp thứ tư là người đứng đầu pháp nhân theo qui định của điều lệ pháp
nhân hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền là người đại diện theo pháp luật
Điều 84 BLDS năm 2005 mô tả: Pháp nhân là một tổ chức thống nhất, độc lập hợp
pháp, có tài sản riêng và chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình, nhân danh mình tham gia váo các quan hệ pháp luật một cách độc lập
Trang 10Như vậy để tham gia vào các quan hệ pháp luật thì pháp nhân phải thông qua hoạt động của mình như là những chủ thể độc lập tham gia các quan hệ xã hội nói chung
và các quan hệ dân sự nói riêng Mọi hoạt động của pháp nhân được tiến hành thông qua hành vi những cá nhân- người đại diện của pháp nhân Người đại diện của pháp nhân có quyền nhân danh pháp nhân thực hiện các hành vi nhằm duy trì sự hoạt động của pháp nhân trong khuôn khổ pháp luật và điều lệ quy định (ký kết các hợp đồng và thực hiện các giao dịch khác)
- Trường hợp thứ năm là chủ hộ gia đình đối với hộ gia đình.
Tuy chưa có một khái niệm thống nhất về hộ gia đình nhưng chúng ta có thể hiểu
hộ gia đình là tập hợp những người trong gia đình có các quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng và hôn nhân Để trở thành chủ thể trong quan hệ dân sự thì hộ gia đình phải có những điều kiện nhất định, đó là thành viên trong hộ gia đình có tài sản chung Hộ gia đình hoạt động với tư cách chủ thể trong quan hệ dân sự phải thông qua đại diện của hộ gia đình mà pháp luật gọi là “chủ hộ” Chủ hộ là người đại diện cho hộ trong các GDDS vì lợi ích chung của hộ ( chuyển quyền sử dụng đất, mua bán vật tư sản phẩm ) Khi tham gia vào giao dịch dân sự, chủ hộ đại diện cho
hộ gia đình không cần có sự đồng ý của các thành viên nếu mục đích giao dịch phục
vụ lợi ích chung của cả hộ
- Trường hợp thứ sáu là tổ trưởng tổ hợp tác đối với tổ hợp tác.
Theo Điều 111 BLDS, tổ hợp tác được hình thành trên cơ sở hợp đồng hợp tác có chứng thực của UBND cấp cơ sở của từ ba cá nhân trở lên, cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện những công việc nhất định, cùng hưởng lợi và chịu trách nhiệm
là chủ thể trong các quan hệ pháp luật dân sự
Tổ hợp tác hoạt động thông qua đại diện của tổ Đại diện của tổ là tổ trưởng do các tổ