Bên cạnh những qui định của pháp luật cho phép công dân có quyền đượchưởng di sản từ người để lại di sản thì Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2005 quyđịnh về người không được quyền hưởng di s
Trang 1HẠN CHẾ CỦA PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI KHÔNG ĐƯỢC QUYỀNHƯỞNG DI SẢN VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN 13
1 Hạn chế của pháp luật về người không được quyền hưởng di sản 13
2 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về người không được quyền hưởng di sản 17KẾT LUẬN 20DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Chế định về quyền thừa kế là một trong những chế định quan trọng của bộluật dân sự Việt Nam 2005 nói riêng và luật dân sự Việt Nam nói chung Đặcbiệt, trong giai đoạn hiện nay, khi tài sản của người dân tăng lên đáng kể về cả sốlượng và chất lượng và cùng với nhu cầu để lại tài sản của thế hệ trước để lại chothế hệ sau, thừa kế ngày càng có ý nghĩa quan trọng Những vấn đề tranh chấp vềthừa kế xảy ra ngày càng nhiều, đòi hỏi sự phát triển sâu và rộng của chế định vềquyền thừa kế Đặc biệt, để giải quyết các vấn đề tranh chấp về thừa kế, cần xácđịnh được đâu là đối tượng có quyền hưởng thừa kế, đâu là đối tượng khôngđược quyền hưởng thừa kế
Bên cạnh những qui định của pháp luật cho phép công dân có quyền đượchưởng di sản từ người để lại di sản thì Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2005 quyđịnh về người không được quyền hưởng di sản Đi sâu vào phân tích nội dungcủa điều luật còn rất nhiều vấn đề cần bàn luận, chính vì vậy em chọn đề tài
“Hoàn thiện pháp luật về người không được quyền hưởng di sản” với mong
muốn đóng góp một phần nào đó trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Bộ luậtDân sự nói chung và chế định về thừa kế nói riêng trong đó có nội dung về ngườithừa kế không có quyền hưởng di sản
Trang 3CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI THỪA KẾ VÀ NGƯỜI
KHÔNG ĐƯỢC QUYỀN HƯỞNG DI SẢN
1 Người thừa kế
1.1 Khái niệm chung
Pháp luật thừa kế Việt Nam chưa đưa ra khái niệm cụ thể về người thừa
kế Tuy nhiên, dựa trên cơ sở Điều 631 BLDS năm 2005, một số tác giả đã đưa
ra quan điểm về người thừa kế như sau: “Người thừa kế là người được nhận disản thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc hoặc vừa hưởng di sản theo di chúc,vừa hưởng di sản theo pháp luật”, “Sau khi mở thừa kế, quyền và nghĩa vụ củangười để lại thừa kế sẽ được chuyển cho những người khác theo di chúc hoặctheo quy định của pháp luật Người được hưởng các quyền phải gánh chịu cácnghĩa vụ đó gọi là người thừa kế.” Như vậy, có thể hiểu người thừa kế là ngườiđược hưởng các quyền và phải gánh chịu những nghĩa vụ về tài sản từ một người
đã chết theo ý chí mà người đó thể hiện trong di chúc hoặc theo quy định củapháp luật
Người thừa kế theo di chúc là người được chỉ định trong di chúc nên cóthể là bất kì cá nhân hoặc pháp nhân, tổ chức nào và trong trường hợp đặc biệtthì Nhà nước cũng có thể là người thừa kế theo di chúc Còn người thừa kế theopháp luật, hiện nay, chỉ có thể là cá nhân và là người thừa kế theo hàng thừa kế,nghĩa là phải có một trong ba mối quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôidưỡng với người để lại di sản
1.2 Điều kiện trở thành người thừa kế
Trang 41.2.1 Đối vời người thừa kế là cá nhân
Điều 635 BLDS 2005 quy định: “Người thừa kế là cá nhân phải là ngườicòn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mởthừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết.” Như vậy, phápluật không quy định điều kiện về năng lực chủ thể của người thừa kế, chỉ cần cánhân đó còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thờiđiểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết
Một người còn sống vào thời điểm mở thừa kế nhưng đến thời điểm phân
chia di sản lại chết (hoặc đã bị tuyên bố chết) thì người đó vẫn được hưởng disản, phần di sản được hưởng đó được coi là di sản và lại được chia cho nhữngngười thừa kế của họ Bên cạnh đó, có trường hợp người thừa kế khôgn có mặtkhi mở thừa kế (do mất tích, biệt tích nhưng chưa bị tuyên bố chết thì vẫn đượcsuy đoán là còn sống), nếu họ trở về trước thời điểm di sản được phân chia thìcũng vẫn được coi là còn sống vào thời điểm mở thừa kế
Nếu một người sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế thì phải thành thai trước khi người để lại di sản chết mới được quyền hưởng di sản.
Theo quy định tại Điều 23 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của
Chính phủ về việc đăng ký và quản lý hộ tịch thì: “Trẻ em sinh ra sống được từ
24 giờ trở lên rồi mới chết cũng phải đăng kí khai sinh và đăng kí khai tử”, như
vậy có thể gián tiếp hiểu rằng một đứa trẻ sinh ra sống được từ 24 giờ trở lên thì
được coi là sinh ra và còn sống, và nếu sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế thì sẽ được hưởng di sản Còn việc quy định cá nhân đó phải thành thai
trước khi người để lại di sản chết chủ yếu là để xác định mối quan hệ huyết
thống giữa người thừa kế theo pháp luật với người để lại di sản Điều 63 Luật
Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Con sinh ra trong thời kì hôn nhân
hoặc do người vợ có thai trong thời kì đó là con chung của vợ chồng”, và theo
phương pháp suy đoán, trong vòng 300 ngày kể từ thời điểm mở thừa kế, nếu
Trang 5đứa trẻ được sinh ra thì mặc nhiên sẽ được coi là thành thành thai trước thờiđiểm mở thừa kế, là người thừa kế của người để lại di sản.
1.2.2 Đối với người thừa kế là cơ quan, tổ chức
Để một cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc thì cơ quan, tổchức đó phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế Tức là vào thời điểm người để lại
di sản chết, cơ quan, tổ chức đã được thành lập và chưa chấm dứt hoạt động.Tuy nhiên, nếu một pháp nhân, tổ chức được chỉ định trong di chúc còn tồn tạivào thời điểm mở thừa kế nhưng không còn tồn tại vào thời điểm phân chia disản (do việc hợp nhất, sáp nhập, chia, tách) thì quyền và nghĩa vụ của pháp nhân,
tổ chức đó được chuyển giao cho pháp nhân mới (Điều 94, 95, 96, 97 BLDS2005), do đó phần di sản mà pháp nhân, tổ chức này được hưởng sẽ thuộc vềpháp nhân mới Nhưng đối với trường hợp tổ chức bị giải thể hoặc phá sản, nănglực chủ thể của pháp nhân, tổ chức đó đã chấm dứt, các thành viên cũng không
có tư cách chủ thể, di sản sẽ được chia theo pháp luật (áp dụng tương tự vớitrường hợp di chúc không có giá trị pháp luật)
2 Người không được quyền hưởng di sản
Trong quan hệ thừa kế, những người thuộc diện và hàng thừa kế của ngườichết hoặc những người được chỉ định trong di chúc thông thường sẽ là nhữngngười được hưởng di sản thừa kế Tuy nhiên, nếu người thừa kế không xứngđáng được hưởng thì sẽ không được quyền hưởng di sản Theo đó, khoản 1 Điều
643 BLDS 2005 quy định phạm vi người không được quyền hưởng di sản là
những người bị pháp luật tước quyền thừa kế do đã có hành vi trái pháp luật,
xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm… của người để lại disản và những người thừa kế khác, có những hành vi không xứng đáng với bổnphận của mình Đây là những người đã bị kết án về một trong các hành vi quy
Trang 6định tại điểm a, c Khoản 1 Điều 643 (hành vi cố ý xâm phạm đến tính mạng, sứckhỏe người để lại di sản; hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại
di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó; hành vi cố ýxâm phạm đến tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn
bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng), hoặc đã thực hiện mộttrong các hành vi quy định tại điểm b, d Khoản 1 Điều 643, cho dù không bị kết
án về những hành vi này (hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡngngười để lại di sản; hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sảntrong việc lập di chúc, giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằmhưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản) Theoquy định của pháp luật thì những người này sẽ không được quyền hưởng di sản,tuy nhiên nhằm tôn trọng ý chí của người để lại di sản nên pháp luật quy định
những người nói trên vẫn được hưởng di sản “nếu người để lại di sản đã biết
hành vi của những người đó nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc”
CHƯƠNG II NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ NGƯỜI
KHÔNG ĐƯỢC QUYỀN HƯỞNG DI SẢN
Theo Khoản 1 Điều 643, những người sau đây không được quyền hưởng
di sản:
1 Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người để lại di sản (điểm a khoản 1 Điều 643 BLDS).
Hành vi “xâm phạm tính mạng, sức khỏe” được hiểu rằng là hành vi cố ýgiết người để lại di sản, cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
Trang 7người để lại di sản một cách trái pháp luật Hành vi tước đoạt tính mạng là hành
vi có khả năng gây ra cái chết cho người để lại di sản, chấm dứt sự sống củangười đó Những người này bị tòa án kết án về tội giết người theo Điều 93BLHS, tội cố ý gây thương tích theo Điều 104 BLHS Trường hợp này, lỗi củangười phạm tội là lỗi cố ý, nhằm mục đích tước đoạt sự sống hoặc sức khỏe củangười để lại di sản Động cơ của người phạm tội và việc thực hiện tội phạm đãhoàn thành hay chưa hoàn thành không ảnh hưởng đến nội dung của quy địnhtrên
Người có hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản đã
bị kết án về một trong số các hành vi đó thì bị tước quyền thừa kế di sản củangười đã bị ngược đãi hành hạ sau khi người đó chết Hành vi ngược đãi là hành
vi đối xử tàn nhẫn, tồi tệ với người thân của mình trái với đạo đức luân lý, ở đâyđược thể hiện bằng những hành động như chửi mắng, nhục mạ, bỏ mặc, bỏ đói,mặc rách làm cho người để lại di sản đau đớn về mặt thể xác cũng như tinh thần,khiến danh dự bị xúc phạm, giày vò Người phạm tội có thể là những người cóquan hệ lệ thuộc với người bị hành hạ Những người bị hành hạ ngược đãithường là người bị lệ thuộc về vật chất hoặc họ không thể tự chăm lo cho bảnthân nên cần có người khác giúp đỡ trong những sinh hoạt hàng ngày Hành viđối xử tàn ác có tính chất hành hạ gây đau đớn về thể xác hoặc tinh thần
Một người có hành vi làm nhục danh dự của người để lại di sản thì không
có quyền nhận di sản thừa kế của người đó để lại
Điều đáng chú ý trong quy định này là căn cứ pháp lý để tước quyềnhưởng di sản của những người thừa kế theo pháp luật khi họ có những hành vi kểtrên là một bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật Ở đây, cần phải hiểu rằng, dùngười thừa kế có những hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hay cónhững hành vi ngược đãi, hành hạ người để lại di sản nhưng chưa bị kết án thì họvẫn được hưởng di sản
Trang 82 Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản sản (điểm b khoản 1 Điều 643 BLDS)
Quan hệ nuôi dưỡng là quan hệ giữa người để lại di sản với người thừa kếtheo pháp luật khi người để lại di sản còn sống Phổ biến nhất là các quan hệnuôi dưỡng nhau giữa cha mẹ với các con, các con đã trưởng thành với cha mẹgià yếu không có khả năng lao động hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc cónăng lực hành vi dân sự không đầy đủ Quan hệ nuôi dưỡng nhau giữa ông bàvới các cháu, giữa các cháu với ông bà, giữa anh chị em ruột đối với nhau Nghĩa
vụ nuôi dưỡng chăm sóc giữa những người thân trong gia đình đã được quy địnhtrong luật HN&GĐ năm 1959, luật HN&GĐ năm 1986 và hiện nay là LuậtHN&GĐ năm 2000
Người thừa kế theo pháp luật bị coi là có hành vi vi phạm nghĩa vụ nuôidưỡng là người được Luật Hôn nhân và gia đình xác định có nghĩa vụ nuôidưỡng người để lại di sản nhưng họ không thực hiện nghĩa vụ đó Chính vì vậy,chúng ta cần xem xét các quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
để xác định chính xác trách nhiệm của người thừa kế theo pháp luật
Thứ nhất, người để lại thừa kế là cha, mẹ của họ Luật Hôn nhân và gia
đình 2000 đã quy định: “Con có nghĩa vụ và có quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha
mẹ, đặc biệt khi cha mẹ ốm đau, già yếu, tàn tật; trong trường hợp gia đình có nhiều con thì các con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ” Theo quy
định này thì bổn phận của con là phải chăm sóc nuôi dưỡng cha mẹ trong mọitrường hợp, bất luận tình trạng kinh tế, sức khỏe của cha mẹ như thế nào
Thứ hai, người để lại thừa kế là con của họ Nếu như nghĩa vụ của con là
phải chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ trong mọi trường hợp, hoàn cảnh thì cha mẹchỉ có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con khi con chưa thành niên hoặc con đã
Trang 9thành niên nhưng bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng laođộng và không có tài sản để tự nuôi sống bản thân Cha mẹ luôn là người thừa kếtheo pháp luật đối với di sản do con để lại nhưng cha mẹ sẽ không được hưởngthừa kế theo luật đối với di sản của con nếu cha mẹ không thực hiện việc nuôidưỡng con khi người con đó nằm trong tình trạng nói trên.
Thứ ba, người để lại thừa kế là anh, chị hoặc em của họ Theo quy định
của pháp luật thì anh, chị, em có nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau trong trường hợpkhông còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có điều kiện trông nom, nuôi dưỡng,chăm sóc giáo dục con Như vậy, nghĩa vụ nuôi dưỡng của anh, chị, em đối vớingười để lại thừa kế khi người này nằm trong trình trạng trên, đồng thời họ làngười chưa thành niên hoặc là người bị tàn tật nhưng không bị mất năng lựchành vi
Thứ tư, người để lại thừa kế là ông, bà của họ Theo khoản 2 Điều 47 Luật
Hôn nhân và gia đình đã xác định cháu có nghĩa vụ phụng dưỡng ông bà Vì vậy,nếu người có quyền hưởng di sản là cháu mà không thực hiện nghĩa vụ này sẽkhông được quyền hưởng di sản mà ông bà để lại
Thứ năm, người để lại thừa kế là cháu của họ Ông bà nội, ngoại có nghĩa
vụ nuôi dưỡng cháu trong trường hợp cháy chưa thành niên hoặc đã thành niênnhưng bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động vàkhông có tài sản để tự nuôi dưỡng mình, đồng thời cũng không có cha mẹ, anh,chị, em có thể nuôi dưỡng được Vì thế, nếu người để lại thừa kế là cháy nằmtrong tình trạng trên mà ông, bà là người hưởng thừa kế nhưng không thực hiệnnghĩa vụ nuôi dưỡng thì họ sẽ không được quyền hưởng di sản Mặt khác, nếungười cháu có đủ năng lực hành vi để lập di chúc và trong di chúc đó, ông bàđược hưởng thừa kế theo di chúc nhưng sau đó người cháu lại lâm vào tình trạngcòn được nuôi dưỡng và ông bà là người có nghĩa vụ đó nhưng lại không thực
Trang 10hiện nghĩa vụ thì ông bà cũng không được quyền hưởng di sản theo di chúc củangười cháu.
Thứ sáu, người để lại thừa kế là vợ hoặc chồng của họ Vợ chồng có nghĩa
vụ nuôi dưỡng nhau khi một bên không có khả năng lao động và còn cấp dưỡngcho nhau kể cả khi đã ly hôn mà bên kia yêu cầu được Tòa án thừa nhận Trongtrường hợp vợ (hoặc chồng) đau ốm, tàn tật không thể lao động để tự nuôi mình
mà chết thì chồng (hoặc vợ) sẽ không được hưởng di sản thừa kế theo pháp luậtnếu họ đã không thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại thừa kế Còn trongtrường hợp vợ chồng đã được Tòa án cho ly hôn bằng một bản án đã có hiệu lựcpháp luật mà một bên chết thì họ không còn là người thừa kế theo pháp luật củanhau nữa
Các trường hợp trên xác định những người có nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau.Nếu những người có nghĩa vụ nuôi dưỡng không thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡngcủa mình với người để lại di sản khi người đó còn sống khiến người đó lâm vàotình trạng khó khăn về kinh tế, khổ sở về tinh thần và bị ảnh hưởng đển sức khỏethì những người đó không xứng đáng được hưởng di sản của những người màmình có nghĩa vụ phải nuôi dưỡng
3 Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm mục hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó
có quyền hưởng (điểm c khoản 1 Điều 643 BLDS).
Trường hợp này người thừa kế bị kết án về tội có ý giết người thừa kếkhác Người thừa kế khác có thể hiểu là người thừa kế cùng hàng hoặc ngườithừa kế ở hàng trên để chiếm đoạt phần tài sản lẽ ra người này được hưởng Việcgiết người ở hàng thừa kế dưới thì không thể khiến cho người có âm mưu giếtngười nhận được di sản thừa kế, vì theo nguyên tắc chỉ khi những người ở hàngthừa kế trên không còn ai thì người ở hàng thừa kế dưới mới được hưởng di sảnthừa kế Theo như quy định của điều luật thì nếu hành vi giết người không phải