1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích nội dung và ý nghĩa của nguyên tắc “Giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng” đối với quá trình giải quyết vụ việc dân sự theo Bộ luật TTDS 2015

17 516 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 37,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A.Mở đầu1B.Nội dung2I.Một số vấn đề lý luận chung21.Khái niệm và ý nghĩa các nguyên tắc của luật tố tụng dân sự Việt Nam22.Cơ sở xây dựng và hình thành nguyên tắc giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng3II.Nội dung và ý nghĩa của nguyên tắc giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng41.Nội dung42.Ý nghĩa10C.Kết luận13D.Danh mục tài liệu tham khảo14Danh mục từ viết tắt:16

Trang 1

A Mở đầu

Trong xu thế hội nhập và phát triển không ngừng của đất nước, các quan

hệ xã hội cũng không ngừng thay đổi và phát sinh thêm nhiều vấn đề mới mẻ cần được điều chỉnh kịp thời để đảm bảo an ninh, trật tự xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của người dân đặc biệt là trong quan hệ pháp luật dân sự vô cùng phức tạp Có thể thấy, BLTTDS 2015 ra đời là thể chế chiến lược cải cách tư pháp, đổi mới, cải cách thủ tục tố tụng dân sự theo hướng công khai, minh bạch, dân chủ, bảo đảm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; tháo

gỡ những khó khăn vướng mắc trong thực tiễn để giải quyết các vụ việc dân sự được nhanh chóng kịp thời Một trong những điểm tiến bộ đáng được ghi nhận

đó là qui định Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng Như vậy trong trường hợp này quyền và lợi ích của người dân sẽ được giải quyết như thế nào? Để hiểu rõ hơn về vấn đề này

em chọn đề tài: Phân tích nội dung và ý nghĩa của nguyên tắc “Giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng” đối với quá trình giải quyết vụ việc dân sự để có thể hiêu sâu hơn về vấn đề này.

Trang 2

B Nội dung

I Một số vấn đề lý luận chung

1 Khái niệm và ý nghĩa các nguyên tắc của luật tố tụng dân sự Việt Nam

Nguyên tắc của một ngành luật hiểu chung nhất là những nguyên lý, tư tưởng pháp lý chỉ đạo, định hướng cho hoạt động xây dựng và thực hiện các quy định của ngành luật đó Các nguyên tắc của một ngành luật được ghi nhận thông qua các quy định tại một hoặc một số điều luật cụ thể của ngành luật đó Khi những nguyên lý, tư tưởng pháp lý đã được ghi nhận bằng các quy phạm pháp luật thì sẽ có giá trị bắt buộc và được bảo đảm thực thi trên thực tế

Nguyên tắc của Luật tố tụng dân sự Việt Nam là những nguyên lý, tư tưởng pháp lý chỉ đạo, định hướng cho việc xây dựng và thực hiện pháp luật tố tụng dân sự và được ghi nhận trong các văn bản pháp luật tố tụng dân sự

Do vậy, để xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật cụ thể, phù hợp, tránh được sự mâu thuẫn, chồng chéo giữa các quy phạm pháp luật hoặc thiếu sự nhất quán giữa các văn bản pháp luật trong xây dựng pháp luật tố tụng dân sự phải dựa vào các nguyên tắc của Luật tố tụng dân sự Bên cạnh đó, việc dựa vào các nguyên tắc của Luật tố tụng dân sự còn giúp tìm ra những mâu thuẫn, của các quy phạm pháp luật đã ban hành để sửa chữa, bổ sung và hoàn thiện các quy phạm pháp luật

Trong tố tụng dân sự, việc thực hiện đúng các nguyên tắc của Luật tố tụng dân sự tạo điều kiện cho việc giải quyết vụ việc dân sự được thuận lợi, ngăn chặn được những tiêu cực nảy sinh trong quá trình tố tụng, bảo đảm cho các đương sự có thể bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của họ trước Tòa án Trong những trường hợp mà pháp luật tố tụng dân sự không có quy định cụ thể

để giải quyết thì các chủ thể tố tụng có thể căn cứ vào các nguyên tắc của Luật

tố tụng dân sự mà xác định phương hướng và thực hiện các hành vi tố tụng của mình Việc vi phạm các nguyên tắc của Luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự sẽ ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động tố tụng Các hành

Trang 3

vi vi phạm có thể làm cho việc giải quyết các vụ việc dân sự bị kéo dài hoặc việc giải quyết vụ việc dân sự không đúng đắn, khách quan

2 Cơ sở xây dựng và hình thành nguyên tắc giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng

Theo Hiến pháp năm 2013 thì các quyền con người, quyền công dân về dân sự được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật1 Quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể vừa là mục đích, vừa là động

cơ thúc đẩy các chủ thể tham gia quan hệ dân sự Khi các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể bị xâm phạm thì pháp luật ghi nhận cho các chủ thể có quyền khởi kiện hoặc yêu cầu Tòa án xét xử buộc người có hành vi vi phạm phải chấm dứt hành vi vi phạm, buộc người vi phạm bồi thường thiệt hại hoặc công nhận hay không công nhận về một sự kiện pháp lý Bên cạnh đó, Hiến pháp năm

2013, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 đã quy định Tòa án nhân dân là

cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp cho nên mọi tranh chấp, khiếu kiện, mọi yêu cầu của cơ quan , tổ chức, cá nhân về dân sự nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác (theo quy định của pháp luật) thì Tòa án phải có trách nhiệm giải quyết, không được từ chối Để tăng cường các biện pháp bảo vệ quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân Bộ luật dân

sự năm 20152 đã quy định Tòa án không được từ chối giải quyết vụ, việc dân sự

vì lý do chưa có điều luật để áp dụng Vì vậy để cụ thể hóa với Hiến pháp, đồng

bộ với Bộ luật dân sự và luật khác nên việc bổ sung quy định “Tòa án không được

từ chối yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng”

là rất cần thiết Qui định này được ghi nhận tại Khoản 2 Điều 4 BLTTDS 2015 đảm bảo cho mọi quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong các quan hệ pháp luật dân sự đều được bảo vệ không phụ thuộc vào việc lợi ích đó đã được pháp luật điều chỉnh hay chưa Đây là một tiên bộ lớn của hoạt động lập pháp ở Việt Nam, thể hiện sự hội nhập của Việt Nam với xu thế lập pháp của các nước phát triển, là bảo vệ tuyệt đối quyền con người, quyền công dân mà cụ thể là

1 Điều 14 (Hiến pháp 2013)

2 Điều 14 Bảo vệ quyền dân sự thông qua cơ quan có thẩm quyền (Bộ luật dân sự 2015)

Trang 4

quyền khởi kiện của đương sự Tuy nhiên, để tránh việc giải quyết tràn lan, không phải mọi khởi kiện, mọi yêu cầu nào của cơ quan, tổ chức, cá nhân Tòa

án cũng thụ lý giải quyết, BLTTDS 2015 đã giới hạn vụ việc chưa có điều luật

để áp dụng mà Tòa án phải thụ lý giải quyết Theo đó vụ việc dân sự chưa có

điều luật để áp dụng là vụ việc dân sự thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự nhưng tại thời điểm vụ việc đó phát sinh và cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu Tòa án giải quyết chưa có điều luật để áp dụng Như vậy, Tòa án chỉ

giải quyết các tranh chấp, các yêu cầu đối với quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của cá nhân, pháp nhân trong các quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm (gọi chung là quan hệ dân sự); còn các tranh chấp, các yêu cầu khác không phải là dân sự thì Tòa án sẽ không thụ lý giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự Đối với các tranh chấp, các yêu cầu Tòa án thụ lý giải quyết mà chưa có điều luật thì hướng giải quyết những vụ việc này được thực hiện theo nguyên tắc do Bộ luật dân sự, BLTTDS qui định Như vậy, trong trường hợp không có điều luật để áp dụng thì Tòa án phải giải quyết yêu cầu đó trên cơ sở áp dụng lần lượt: phong tục tập quán, tương tự pháp luật, các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ và lẽ công bằng Để có cơ sở rõ ràng, tạo điều kiện thuận lợi, thống nhất trong việc áp dụng nguyên tắc Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng vào thực tiễn một cách hiệu quả nhất, BLTTDS 2015 đã qui định cụ thể nguyên tắc giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật áp dụng tại Điều 45

II Nội dung và ý nghĩa của nguyên tắc giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng

1 Nội dung

Nội dung nguyên tắc giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng là cơ sở để Tòa án áp dụng giải quyết các vụ việc dân sự được pháp luật dân sự điều chỉnh và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, nhưng tại thời điểm đó chưa có điều luật để áp dụng Nội dung cụ thể của nguyên tắc này được ghi nhận tại Điều 45 BLTTDS 2015 Theo đó trong trường

Trang 5

hợp giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng các nguyên tắc sau:

Thứ nhất, nguyên tắc áp dụng tập quán Tập quán là qui tắc xử sụ có nội

dung rõ ràng để xác định quyền, nghĩa vụ của cá nhân, pháp nhân trong quan hệ dân sự cụ thể được hình thành và lặp đi lặp lại nhiều trong một thời gian dài, được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong một vùng, miền, dân tộc, cộng đồng dân cư hoặc trong một lĩnh vực dân sự Việc áp dụng tập quán được qui định cụ thể tại Điều 5 BLDS năm 2015

Thông thường những tập quán được áp dụng để giải quyết đó là những tập quán tốt đẹp, có sức ảnh hưởng rộng lớn, không trái với pháp luật, với đạo đức

xã hội và được cả cộng đồng lưu giữ Trong trường hợp có những quan hệ dân

sự phức tạp mà pháp luật không có một quy định nào cụ thể, trực tiếp điều chỉnh

và các bên cũng không có thỏa thuận nào khác thì tập quán pháp được áp dụng giải quyết

Tòa án chỉ áp dụng tập quán để giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy định Tuy nhiên tập quán không được trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 BLDS

Khi yêu cầu tòa án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền viện dẫn tập quán để yêu cầu tòa án xem xét áp dụng Trong trường hợp các đương sự viện dẫn các tập quán khác nhau thì tập quán có giá trị áp dụng là tập quán được thừa nhận tại nơi phát sinh vụ việc dân sự

Để xác định tập quán thì Tòa án cần yêu cầu các đương sự cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh một tập quán nào đó cần áp dụng Đồng thời Tòa án cũng cần tiến hành xác minh hoặc thu thập thêm tài liệu, chứng cứ như lời khai của chức sắc tôn giáo ở địa phương, lấy lời khai của những người cao tuổi ở địa phương, tổ chức xã hội ở địa phương,…để xác định tập quán cần áp dụng

Trang 6

Ví dụ: Trong việc cân, đo, đong, đếm… Bộ luật dân sự 2015 không qui định trực tiếp vấn đề này (vì các bên thường thỏa thuận theo tập quán của địa phương) nếu có tranh chấp xảy ra thì áp dụng tập quán của địa phương nơi giao dịch dân sự được xác lập để giải quyết tranh chấp Chẳng hạn trong đơn vị đếm

có địa phương tinhd chục là 10 nhưng có nơi tính chục là 12, cách phân chia thịt thú rừng săn bắn được của các phường săn bắn theo tập quán của tùng dân tộc cũng có sự khác biệt…hoặc có những trường hợp qui định cụ thể như khoản 4

Điều 262 BLDS 2015qui định: “bảo dưỡng, sửa chữa tài sản theo định kỳ để

đảm bảo cho việc sử dụng bình thường; khôi phục tình trạng của tài sản và khắc phục hậu quả xấu đối với tài sản do việc không thực hiện tốt nghĩa vụ của mình phù hợp với yêu cầu kỹ thuật hoặc theo tập quán về bảo vệ tài sản” Hay khi

giiar quyết các tranh chấp về sở hữu chung của cộng đồng theo điều 211 BLDS

2015 ( tài sản thuộc sở hữu của dòng họ, thôn, ấp, làng, bản, buôn, sóc, cộng đồng dân cư khác,…) được hình thành theo tập quán cũng được áp dụng tập quán để giải quyết

Thứ hai, nguyên tắc áp dụng tương tự pháp luật Một nguồn quan trọng

trong giải quyết vụ việc này nếu như không có tập quán để áp dụng đó là áp dụng tương tự pháp luật Có thể hiểu áp dụng tương tự pháp luật là tổng hợp những quy định mà pháp luật có sẵn bổ sung thêm những quy định mới để áp dụng cho những trường hợp thực tế riêng biệt Nếu như áp dụng pháp luật là hoạt động giải quyết các vụ việc thực tế cụ thể trên cơ sở quy phạm pháp luật trực tiếp điều chỉnh vấn đề đó thì áp dụng tương tự pháp luật là hoạt động giải quyết các vụ việc thực tế, cụ thể nhưng trong hệ thống pháp luật lại không có điều luật trực tiếp quy định, không có khuôn mẫu nhất định Nhà nước quy định giải quyết vấn đề đó Như vậy ta thấy theo qui định tại Điều 45 BLTTDS 2015 thì trong trường hợp các bên không có thỏa thuận, pháp luật không quy định và không có tập quán để áp dụng thì Tòa án áp dụng tương tự pháp luật để giải quyết vụ việc dân sự Căn cứ vào Khoản 1 điều 6 BLDS năm 2015 thì cũng quy định rằng nếu trường hợp nếu các bên không có thỏa thuận, không có điều luật

Trang 7

quy định đồng thời không có tập quán áp dụng thì sẽ áp dụng tương tự pháp luật

để giải quyết vụ việc dân sự Tòa án phải xác định rõ tính chất pháp lí của vụ việc dân sự, xác định rõ ràng trong hệ thống pháp luật hiện hành không có quy phạm pháp luật nào điều chỉnh quan hệ đó và xác định quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự Qua đó ta thấy được nếu muốn áp dụng tương tự pháp luật thì phải cần đáp ứng đủ hai điều kiện:

Một là, chủ thể có thẩm quyền áp dụng phải xác định được tính chất pháp

lí của vụ việc, nghĩa là vụ việc đó phải thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật

Xác định tính chất pháp lí của vụ việc đó là xác định xem vụ việc đó có thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật không và cụ thể là phạm vi điều chỉnh của Bộ Luật tố tụng dân sự hay không? Theo đó những vụ việc đó phải thuộc những trường hợp tại Điều 1 BLTTDS năm 2015, là vụ việc dân sự Ngoài ra xác định tính chất pháp lí của vụ việc để xem xét nếu như vụ việc không có tính chất pháp lí thì không cần giải quyết

Hai là, chủ thể có thẩm quyền áp dụng phải xác định được trong hệ thống

pháp luật không có quy phạm nào trực tiếp điều chỉnh vụ việc đó Chủ thể có thẩm quyền áp dụng phải chắc chắn rằng trong hệ thống pháp luật không có quy phạm pháp luật nào trực tiếp điều chỉnh vụ việc đó và cũng không có quy phạm pháp luật nào điều chỉnh vụ việc khác có nội dung tương tự như vậy

Áp dụng tương tự pháp luật là ví dụ như một quan hệ pháp luật dân sự gần giống một điều khoản trong bộ luật dân sự đã được điều chỉnh thì ta sẽ áp dụng tự đánh giá quan hệ đó tương tự như điều luật được quy định có hiệu lực pháp luật hiện hành Nếu không có các quy phạm tương tự, không xác định được các quy phạm cần áp dụng mà phải dùng những nguyên tắc chung của pháp luật

để giải quyết thì áp dụng tương tự pháp luật.Trong một số trường hợp đối tượng đang xem xét thuộc phạm vi điều chỉnh của nhiều ngành luật và mỗi ngành luật điều chỉnh ở giác độ khác nhau; ví dụ: tranh chấp về chuyển quyền sử dụng đất

Trang 8

Để giải quyết tranh chấp này cần phải xem xét những ngành luật nào điều chỉnh quan hệ trên Luật dân sự điều chỉnh sự chuyển dịch các quyền của người sử dụng đất, luật đất đai điều chỉnh việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất… Trường hợp này sẽ áp dụng quy phạm của nhiều ngành luật liên quan để điều chỉnh

Thứ ba, nguyên tắc áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự,

án lệ, lẽ công bằng Trong thực tế cuộc sống có không ít những trường hợp thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự vì nhiều nguyên nhân và lý do khác nhau mà các bên không có thỏa thuận, pháp luật không có qui định và không có tập quán được áp dụng thì Tòa án và những cơ quan, tổ chức có thẩm quyền phải áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự Khi có tranh chấp xảy ra, đương sự có đơn yêu cầu Tòa án hoặc các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết, ngoài áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự để xem xét, thì còn có thể phải áp dụng án lệ, lẽ công bằng để giải quyết Bộ luật dân sự năm 2015 đã quy định áp dụng án lệ trong trường hợp: các bên không

có thỏa thuận và pháp luật không quy định thì có thể áp dụng tập quán; Trường hợp không có tập quán được áp dụng thì áp dụng quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự; trường hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật thì áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ và lẽ công bằng Theo khoản 3, Điều 45 BLDS năm 2015 quy định: Tòa án áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng để giải quyết vụ việc dân sự khi không thể áp dụng tập quán, tương tự pháp luật theo quy định tại Điều 5 và khoản 1 Điều 6 của Bộ luật dân sự, khoản 1 và khoản 2 Điều 45 Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự là những nguyên tắc được quy định tại Điều 3 của Bộ luật dân sự

Án lệ được Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong giải quyết vụ việc dân sự khi đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố

Trang 9

Lẽ công bằng được xác định trên cơ sở lẽ phải được mọi người trong xã hội thừa nhận, phù hợp với nguyên tắc nhân đạo, không thiên vị và bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong vụ việc dân sự đó

Nên khi Tòa án giải quyết cả những vụ việc dân sự, mà vấn đề pháp lý cần được giải quyết trong vụ việc dân sự đó chưa được pháp luật quy định hoặc các bên đương sự không có thỏa thuận thì được áp đụng án lệ, lẽ công bằng

Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cũng đã ban hành Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015 về quy trình lựa chọn, công bố và

áp dụng án lệ Theo đó, án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết

định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Toà án nhân dân tối cao công bố là án lệ để các Toà án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử.

Nên việc sử dụng án lệ như là một phương thức mới của Tòa án trong việc áp dụng thống nhất pháp luật khi xét xử

Án lệ có tính thực tiễn cao vì nó tập trung vào việc giải quyết vấn đề cụ thể của đời sống chứ không phải giải quyết vấn đề bằng các lý thuyết chung chung trừu tượng Đồng thời, án lệ khắc phục những lỗ hổng pháp luật một cách nhanh chóng và kịp thời trong khi các quy phạm trong các văn bản pháp luật mang tính ổn định, có một số quan hệ xã hội mới phát sinh mà pháp luật chưa

dự liệu được do đó chưa thể giải quyết thì án lệ có thể giải quyết các trường hợp này một cách nhanh chóng Án lệ được hiểu là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Toà án nhân dân tối cao công bố là án lệ để các Toà án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử

Như vậy, án lệ và lẽ công bằng được xác lập nhằm bảo đảm việc áp dụng thống nhất pháp luật trong trường hợp nội dung văn bản quy phạm pháp luật cần

Trang 10

áp dụng chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn đặt ra vàphù hợp với nguyên tắc nhân đạo, không thiên vị và bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các đương

sự trong các vụ việc dân sự mà vấn đề pháp lý cần được giải quyết chưa được pháp luật quy định hoặc các bên đương sự không có thỏa thuận

Ví dụ: Trường hợp trong thời gian chấp hành án phạt tù mà người chấp hành án không nộp đơn khởi kiện vụ án chia di sản thừa kế và họ chỉ nộp sau khi thời hiệu khởi kiện loại vụ án này đã hết, thì thời gian chấp hành án phạt tù

đó được coi là thời gian xảy ra trở ngại khách quan nếu trong thời gian này mặc

dù người chấp hành án đã nhiều lần liên lạc với người thân thích của họ nhưng vẫn không có kết quả và người chấp hành án không có nguồn thông tin khác để biết được người để lại tài sản cho họ đã chết

2 Ý nghĩa

Căn cứ để Tòa án giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng là dựa vào tập quán, tương tự pháp luật, các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ và lẽ công bằng được qui định cụ thể tại Điều 45 và nguyên tắc xác định thẩm quyền, trình tự, thủ tục thụ lý tại Điều 43,44 BLTTDS

2015 với mục đích đưa nguyên tắc Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp không có điều luật để áp dụng vào thực tiễn Có thể thấy đây là bước tiến vượt bậc trong quá trình lập pháp, tiếp thu những sự tiến

bộ trên thế giới, đáp ứng nhu cầu thực tiễn đề ra, đồng thời thể hiện tầm nhìn sâu rộng trước những biến đổi không ngừng của xã hội đặc biệt là trong quan hệ pháp luật dân sự không ngừng phát sinh những vấn đề mới mẻ cần phải giải quyết để đảm bảo lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia

Từ những sự phân tích trên, có thể khẳng định những qui định về nguyên tắc giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật áp dụng có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong thực tiễn hiện nay và được thể hiện ở một số điểm như sau:

Ngày đăng: 21/03/2019, 13:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w